Lữ Phương - Lịch sử thử nhìn lại

Các vấn đề được đề nghị nhìn lại ở đây đều xoay
quanh hai nhu cầu liên hệ chặt chẽ với nhau trong lịch sử
hiện đại của Việt Nam – một "hệ vấn đề" theo cách
nói của Nguyễn Kiến Giang – đó là độc lập dân tộc và
canh tân xã hội (Nguyễn Kiến Giang: "<em>Nhìn lại quá trình du
nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam</em>", talawas.org,
14.4.2006). "Hệ vấn đề" này hiện nay vẫn còn đè nặng
lên số phận đất nước, nhưng xét từ cội nguồn, nó đã
bắt đầu từ khi Việt Nam bị thực dân Pháp, một ngoại bang
xa lạ, từ thế giới phương Tây đến xâm lược và thống
trị, khác hẳn với kẻ xâm lược cũ đến từ phương Bắc
quá quen biết từ mấy nghìn năm. Vì thế, như một nghịch lý
nhưng là hiện thực, có thể nói rằng quá trình thức tỉnh
để sinh tồn của Việt Nam đã bắt đầu từ cuộc đối đầu
xương máu đó, để từ đó đặt những bước chân đầu tiên
vào thời hiện đại đầy sóng gió, bất trắc. Với ý nghĩa
là một cuộc thúc đẩy mò mẫm không tự sinh nhưng lại là
tất yếu cho việc hình thành một ý thức mới về lịch sử.

<h2>1.</h2>

Tuy thời thế đã chuyển biến dữ dội, nhưng do xã hội cổ
truyền Việt Nam xây dựng trên mô hình Trung Hoa phong kiến, quen
chìm đắm trong cách nhìn nhận thế giới dựa trên hệ thống
giá trị tiền hiện đại, nên sự đan cài khắng khít giữa hai
vấn đề nói trên chưa được thế hệ những nhà yêu nước
chống thực dân buổi ban đầu nhận thức đầy đủ. Chỉ khi
phương pháp đấu tranh cũ tỏ ra bất lực, mà kết quả là vô
vọng, thì thế hệ những nhà yêu nước kế tiếp mới nhận ra
được lý do thất bại của cha anh: thực dân phương Tây không
cùng tầm cỡ với người láng giềng phương Bắc "đồng
văn" mà là sức mạnh của một hình thái phát triển xã hội
đã vượt khỏi chúng ta bằng cả một thời đại, vì đó
không thể chiến thắng nó bằng cách huy động vốn liếng cũ,
dù dựa trên một lòng yêu nước nồng nàn. Một nhận thức
mới cũng đã nẩy sinh từ đó, không nhất quán, rõ rệt nhưng
dần dần hình thành với những nét chính sau đây: muốn đánh
đổ chủ nghĩa thực dân giành lại độc lập cho đất nước,
tất yếu phải hình dung được một thể chế đưa được
đất nước phát triển cùng thế giới hiện đại mà nội dung
chủ yếu của nó là công nghiệp hoá và dân chủ hoá với
những hệ quả về tư duy mà quá trình này mang đến. Mối quan
hệ giữa hai vấn đề ấy từ đó đã trở thành cương lĩnh
của các phong trào yêu nước về sau: công cuộc giải phóng dân
tộc phải mang chở trong bản thân một quá trình canh tân xã
hội, làm mới tinh thần.

Đây cũng là các vấn đề mà các quốc gia châu Á phải đối
mặt trước sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương
Tây, nhưng do nội lực của Việt Nam (cũng như của nhiều
nước bấy giờ) thiếu hẳn những nhân tố nội sinh về văn
hoá để tự canh tân, dẫn đến sự khủng hoảng trầm trọng
về đường lối lãnh đạo, nên lớp người yêu nước của
thế hệ mới đều nhất loạt đề xuất phương pháp đi ra
ngoài để cầu viện hoặc cần đến một kích động của một
hệ thống khác để tư duy của Việt Nam chuyển biến. Phan Châu
Trinh hướng về những giá trị tích cực của ngay nước Pháp
mà thực dân đã nhân danh để "khai hoá" Việt Nam. Phan Bội
Châu quay sang nhờ sự giúp đỡ của nước Nhật đã hoàn thành
sớm cuộc canh tân. Nguyễn Ái Quốc lại hướng về nước Nga
với viễn cảnh cuộc cách mạng đem lại quyền làm chủ cho
những người lao động. Xét về một khía cạnh nào đó, đây
chính là điều hay vì là một cuộc hội nhập về tư tưởng
có tác dụng phá vỡ bức tường tù hãm của một xã hội khép
kín: lần đầu tiên trong lịch sử của mình, Việt Nam đã có
điều kiện để thấy thế giới rộng lớn hơn nhiều lần cái
chân trời Trung Hoa mà mình tưởng rằng đó là trung tâm của
vũ trụ.

Nhưng tính chất đa phương phức tạp và mới mẻ của thế
giới đó cũng đã là nguồn gốc sinh ra nhiều khác biệt trong
hàng ngũ những người Việt Nam yêu nước mà mở đầu là
cuộc tranh luận giữa Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu. Cần chú
ý rằng ở đây không có vấn đề về tình tự yêu nước,
cũng không có bất đồng về sự cần thiết phải canh tân hay
không, mà chỉ là sự biện giải khác nhau về các phương pháp
đặt ra trong tranh đấu, cụ thể là vào thời điểm bấy giờ,
giữa hai vấn đề độc lập và canh tân phải ưu tiên cho vấn
đề nào, nhu cầu về dân chủ ở Việt Nam phải đặt ra thế
nào trước tình hình yếu kém và bị đô hộ của đất nước,
và trong một xã hội đang chuyển mình khó khăn có nên đương
đầu trực tiếp với thực dân bằng bạo lực hay không.

Về Phan Châu Trinh, chúng ta đều nhớ những đề xuất táo bạo
của ông: không dùng bạo lực chống đối mà ưu tiên cho dân
chủ hoá, nâng cao dân trí theo văn minh Tây Âu và để thực
hiện nhiệm vụ đó, không cần nhờ vả các nước ngoài xa
lạ, mà nên yêu cầu chính quyền thực dân cho tiến hành những
cải cách. Những ý kiến của Phan Châu Trinh đã đụng chạm
đến tận nền tảng xã hội Việt Nam truyền thống, làm nổi
bật lên sự đối lập giữa hai thế giới quan, một phát
triển, văn minh, năng động và một chậm tiến, lạc hậu, bưng
bít. Dưới những chuẩn mực của các xã hội phát triển tập
trung nơi nền văn minh phương Tây, Phan Châu Trinh đã vạch trần
một cách không thương tiếc căn bệnh trầm kha của con người
Việt Nam thời phong kiến, hủ bại, sùng bái quá khứ, sùng bái
Trung Hoa, và cho rằng nếu không biết tập trung tẩy trừ cho
hết những tác nhân gây nên căn bệnh ấy mà cứ lao vào chiến
đấu bằng bạo lực, kết quả nếu không vô vọng thì dù cho
có chiến thắng cuộc chiến thắng cũng vô nghĩa.

Chúng ta cũng biết những ý kiến trên đây có nhiều điều
không được Phan Bội Châu hoàn toàn tán đồng. Thí dụ nổi
bật nhất là vấn đề dân chủ được Phan Châu Trinh coi là toa
thuốc cứu nước vạn năng, nhưng đối với Phan Bội Châu lại
không thiết thực bao nhiêu, đơn giản chỉ vì giải pháp ấy
thiếu đi một cái nền nâng đỡ mà không có cái nền đó thì
dân chủ chỉ là hư vô, không có chỗ tựa. Nước đã mất thì
dân không còn. "Dân không còn nữa, mà chủ với ai?" (Phan
Bội Châu: "Thư gửi Phan Châu Trinh"1907, trong Phan Bội Châu
toàn tập, Tập 2, Nxb Thuận Hoá, Huế, 1990, tr. 23).

Chưa kể đến việc thực hiện lại phải đặt quá nhiều kỳ
vọng vào thiện chí của chính quyền thực dân, và điều đó
đã được Trần Đình Hượu một nhà nghiên cứu sau này cho là
không thích hợp:

"<em>Phan Châu Trinh coi dân chủ còn cấp bách hơn độc lập và
tưởng rằng có thể dùng luật pháp, cách cai trị có quy củ
theo kiểu Âu Mỹ – dù là do thực dân nắm giữ – để quét
sạch những rác rưởi thối tha đó (…). Do ảnh hưởng sách
vở, ông tin tinh thần "yêu giặc như bạn" của người Pháp,
tin "Nã Phá Luân là người sứ giả Trời sai xuống rắc cái
hoa tự do" cho Châu Âu. Ông tưởng thực tế cũng giống như
trong sách vở, tưởng thực dân cũng tôn trọng tinh thần Cách
mạng 1789, sợ hãi không đám vi phạm nó!</em>" (Trần Đình
Hượu: Giáo trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời
1900-1930, Chương III, Mục III, Nxb Đại học và giáo dục chuyên
nghiệp, Hà Nội 1988).

Sự khác nhau giữa Phan Châu Trinh với Phan Bội Châu là quá cách
biệt: một bên "<em>dựa Pháp đánh đổ vua" còn một bên
"bài Pháp phục Việt</em>", chủ trương của Phan Châu Trinh
rất cấp tiến nhưng không tránh khỏi ít nhiều mộng tưởng,
trong khi đó thì chương trình của Phan Bội Châu, tuy nấn ná
hoài cổ nhưng lại có vẻ gần thực tế hơn. Trật tự tam
cương ngũ thường vẫn còn là tơ tưởng của nhiều người,
bây giờ không phục hồi lại như cũ mà nên noi gương một số
nước chuyển sang thể chế quân chủ lập hiến. Lực lượng
vũ trang của phong trào Cần vương sau những thất bại thảm
hại vẫn còn những tàn dư có thể tập hợp lại phục vụ cho
ngọn cờ canh tân do một lớp thanh niên mới đi du học từ
Nhật về lãnh đạo.

Nhưng cuộc vận động của ông không tiến triển được thêm
bước nào, tất cả đã cũng trở thành ảo tưởng không kém,
do Nhật Bản câu kết với thực dân Pháp chận đứng mọi
chương trình của ông. Cuối cùng nhà chí sĩ bị trục xuất
khỏi Nhật, phải chuyển sang Trung quốc; 1912 lập Việt Nam Quang
Phục Hội để tiếp tục hoạt động, đến 1924 mô phỏng
Quốc Dân Đảng của Trung Hoa (do Tống Giáo Nhân, một đồng
chí của Tôn Dật Tiên thành lập năm 1912), đổi Việt Nam Quang
Phục Hội thành Việt Nam Quốc Dân Đảng. Từ quân chủ lập
hiến chuyển hẳn sang cộng hoà nhưng tôn chỉ đấu tranh của
Phan Bội Châu vẫn như cũ: dùng bạo động gây tiếng vang và
tạo sức ép với chính quyền thực dân.

Công việc đang dự định thì giữa năm 1925, ông bị Pháp bắt,
bị đưa về Việt Nam kết án và an trí ở Huế, tổ chức mới
vừa thành lập cũng tan rã. Nhưng tinh thần của cuộc tranh
đấu mà ông phát khởi vẫn được nhiều tổ chức chính trị
khác kế thừa, hoặc trong nước hoặc lưu vong, tất cả đều
có thiên hướng dùng bạo lực khuấy động trật tự thực dân
bằng những cuộc ám sát, ném bom, nổi dậy… thể hiện qua
hoạt động của những đảng phái mà sau này người ta thường
gọi là "dân tộc chủ nghĩa", "quốc gia", "không cộng
sản" như Việt Nam Quốc Dân Đảng của Nguyễn Thái Học,
Việt Nam Cách mệnh Đồng Minh hội của Nguyễn Hải Thần, v.v.
hầu hết đều hướng về lý thuyết "tam dân" của Tôn Trung
Sơn trong cách mạng Tân Hợi làm nguồn cảm hứng đấu tranh và
tổ chức.

Phương thức tranh đấu đó khác hẳn với chủ trương của Phan
Châu Trinh được kế thừa và phát triển thành các xu hướng
hoạt động nâng cao dân trí bằng những chương trình văn hoá
ở các thành thị, hoặc qua các đảng phái chính trị thành
lập công khai, chủ trương vận động thay đổi thực tế theo
lối cải lương dưới sự kiểm soát của chính quyền thực
dân. Chúng ta hãy đọc ý kiến sau đây của nhà nghiên cứu
Trần Đình Hượu để hiểu thêm ý nghĩa của nhận xét đó:

"<em>Ở vào thời điểm xuất hiện, tư tưởng cải cách dân
chủ của Phan Châu Trinh là yêu nước, chưa thuộc xu hướng
cải lương. Ý đồ của ông là "cùng với nhân nhân, chí sĩ
ba kỳ thức tỉnh nhân tâm, hợp quần, hợp xã, khai dân trí,
chấn dân khí, hậu dân sinh, ai nấy thấu rõ ngọn nguồn, đông
tây sao mà chẳng vỗ nên bộp" (Thư Phan gửi cho Nguyễn Ái
Quốc năm 1922). Lúc đó giai cấp tư sản chưa thành một lực
lượng, nếu tán thành các chủ trương tư sản hoá thì cũng
chỉ là với tư cách quần chúng đi theo các nhà khoa bảng. Lúc
đầu thực dân tưởng có thể lợi dụng chủ trương cải cách
đề làm đối trọng với phong trào bạo động chống Pháp,
gần gũi với Trung Quốc, Nhật Bản. Khi thấy quần chúng đông
đảo, thật sự thiết tha với độc lập và dân chủ tham gia,
lái phong trào sang cách mạng thực sự thì thực dân Pháp mới
can thiệp vừa bắt giam những người yêu nước cầm đầu,
vừa tổ chức trường Quy thức, ban Tu thư, hội Khai trí tiến
đức, cho ra báo Đông Dương tạp chí, Nam phong tạp chí... đề
xướng con đường Pháp Việt đề huề, hợp với giai cấp tư
sản vừa phát đạt trước sau Đại chiến thế giới lần thứ
nhất. Đó là chủ nghĩa cải lương. Phan Châu Trinh cũng như các
nhà yêu nước khác chống lại chủ trương đó. Nhưng trong tư
tưởng "không bạo động, bạo động thì chết" của ông
lại có chỗ cho những người thân Pháp và sợ chết dựa vào
để chống phong trào yêu nước và cách mạng, biện hộ cho
chủ nghĩa cải lương</em>". (Trần Đình Hượu: như trên)

<h2>2.</h2>

Có một xu hướng khác xuất phát từ mảnh đất đấu tranh nói
trên nhưng cuối cùng đã chuyển sang một con đường mới mẻ
hoàn toàn: đó là xu hướng cộng sản do Nguyễn Ái Quốc chủ
xướng. Nguyễn Ái Quốc là người hợp tác chặt chẽ với Phan
Châu Trinh khi mới bắt đầu gia nhập đời sống chính trị ở
Pháp. Chính người thanh niên này đã cùng nhóm Phan Châu Trinh
thảo ra "Yêu sách của nhân dân An Nam" ( còn gọi là
"Thỉnh nguyện thư của dân tộc An Nam") gồm 8 điểm, tự
tay gửi đến hoà hội Versailles (1919) yêu cầu thực thi những
đề xuất của Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson cải cách tình hình
chính trị ở các nước thuộc địa, trong đó có những thuộc
địa của Pháp tại Đông Nam Á, nhưng chờ đợi không thấy
kết quả gì, nên ngả sang con đường mới với mong mỏi tìm
được một lực lượng bên ngoài có khả năng giúp được
Việt Nam thoát khỏi xiềng xích của thực dân một cách thiết
thực và hiệu nghiệm hơn (Xem Từ Nguyễn Tất Thành đến Hồ
Chí Minh, trong "Đặc trang Lữ Phương", Viet-Studies).

Lực lượng mới này tuy được gọi chung là "cộng sản"
lấy học thuyết Marx làm kim chỉ nam, thống nhất trong việc
chống đế quốc tư bản, xây dựng nên một xã hội tương lai
không còn cảnh người bóc lột người, nhưng trong thực tế
học thuyết đó lại có nhiều biến dạng với nhiều trường
phái, cách mạng có, cải lương có, tranh luận nhau bất phân
thắng bại. Bây giờ chúng ta biết rõ lý luận mà Nguyễn Ái
Quốc tiếp nhận thuộc trường phái gọi là "Marx-Lenin",
được những nhà nghiên cứu phân tích như một thứ học
thuyết đặc thù về Marx (vốn là sản phẩm của chủ nghĩa tư
bản phương Tây) do Lenin giải thích lại để vận dụng vào
việc chống tư bản và xây dựng xã hội mới cho những nước
phụ thuộc và thuộc địa, nơi chưa có chủ nghĩa tư bản phát
triển.

Tuy do Đệ Tam quốc tế chỉ đạo dưới sự chi phối của Liên
Xô, nhưng qua các Đại hội, qua sự khác biệt về quyền lợi
của từng quốc gia, đường lối không phải lúc nào cũng
thống nhất, vì đó cũng gây ra chia rẽ, công kích nhau rất
căng thẳng. Hồi mới tập tễnh làm chính trị, Nguyễn Ái
Quốc không hiểu hết lý luận và những phức tạp của nó
nhưng ông vẫn nhanh chóng chấp nhận vì thấy Đệ tam Quốc tế
ủng hộ rất tích cực phong trào giải phóng dân tộc, chứ
không thờ ơ như những thế lực quốc tế khác. Đây là điểm
quan trọng xuyên suốt tiểu sử chính trị của ông: vấn đề
giải phóng dân tộc phải được xem là mối quan tâm hàng đầu
bên cạnh những vấn đề khác của cách mạng vô sản. Vì thế
đặt trong bối cảnh đấu tranh của Việt Nam vào tiền bán
thế kỷ 20, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam theo xu
hướng của Nguyễn Ái Quốc không khác gì bao nhiêu những tổ
chức yêu nước có nội dung canh tân khác.

Đường lối khái quát do Nguyễn Ái Quốc phác hoạ là vào
tháng 2 năm 1930 khi ông hợp nhất được các phe phái cộng sản
đang xâu xé lẫn nhau, đường lối này – không lâu sau đó bị
xu hướng quá khích trong đảng (đại biểu cho Đại hội Quốc
tế Cộng sản lần thứ 6, năm 1928) đem ra chỉ trích nặng nề
khiến ông bị giữ lại ở Liên Xô suốt 7 năm, đến 1938 mới
được phép trở ra hoạt động lại – nội dung thật sự chỉ
là đường lối mà các cuộc cách mạng tư sản dân quyền ở
những nước thuộc địa hoặc phụ thuộc chủ nghĩa thực dân
trên thế giới vạch ra: chống đế quốc để giải phóng dân
tộc, thực hiện khẩu hiệu người cày có ruộng cùng với các
quyền tự do dân sự cho một xã hội công dân độc lập.

Như vậy là trong hai vấn đề chống xâm lược và canh tân xã
hội, vấn đề thứ nhất đã được Nguyễn Ái Quốc đặt lên
hàng ưu tiên, chính diện, không khác gì bao nhiêu với chủ
trương của Phan Bội Châu (trong vấn đề đó). Việc sử dụng
bạo lực mà Phan Bội Châu đặt ra trong tranh đấu thì được
phát triển theo quan điểm cách mạng của đông đảo quần
chúng (dù dưới hình thức khởi nghĩa hay chiến tranh) và
được kết hợp với nhiều phương thức đấu tranh khác (chính
trị, văn hoá…), công khai/bí mật, ôn hoà/bạo lực tuỳ theo
tình thế mà ứng biến, chứ không chỉ loay hoay trong những
cuộc bạo động gây tiếng vang hoặc chỉ giới hạn cuộc vận
động vào từng lớp bên trên như nhiều đảng phái khác.Tính
chất dân chủ mà phong trào cộng sản hay nói đến đã được
thể hiện qua những biện pháp vận động rộng rãi này.

Những mục tiêu đó đã là cơ sở để Đảng Cộng sản có
thể hợp tác với những đảng chính trị theo chủ nghĩa dân
tộc khác. 1925, từ Nga sang Trung quốc hoạt động, Nguyễn Ái
Quốc đã có quan hệ tốt với Phan Bội Châu, Nguyễn Hải
Thần, Hồ Học Lãm… là những người đấu tranh chống thực
dân theo đường lối Quốc Dân Đảng của Tôn Trung Sơn, lãnh
tụ cuộc Cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc. Ngay cả khi thành
lập chính phủ lâm thời năm 1946, vẫn có nhiều thành phần
của phe "quốc gia", đối lập về chính kiến, từ Trung
Quốc về nước chia quyền như Nguyễn Hải Thần… trong Việt
Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng
Khanh… trong Việt Nam Quốc Dân Đảng … Vì lúc bấy giờ cuộc
liên minh giữa các cường quốc (trong đó có Liên Xô) vẫn còn
hiệu lực để thực hiện cuộc tấn công cuối cùng đè bẹp
chủ nghĩa phát xít và thanh toán tàn dư của nó, nên vấn đề
quốc/cộng ở Việt Nam vẫn chưa bùng nổ. Và đó cũng là
nguyên nhân làm cho cuộc khởi nghĩa 1945 thành công dễ dàng,
trong đó có việc khai thác chính xác kết quả của liên minh
chống phát xít trên thế giới khiến Nhật đầu hàng.

Nhưng tất cả đều đảo ngược khi Chiến tranh Thế giới 2
vừa chấm dứt, cho phép quân Tưởng Giới Thạch từ phía Bắc,
quân Anh từ phía Nam tràn vào giải giới quân Nhật, tạo điều
kiện cho thực dân Pháp giành lại quyền lực đã bị sự
chiếm đóng của Nhật vô hiệu hoá từ 1940. Sách lược liên
hiệp các thành phần khác nhau thể hiện trong chính phủ lâm
thời, trước sự hiện diện của các thế lực quốc tế
chống cộng sản và đòi hỏi phục hồi vị thế của thực
dân Pháp, kéo dài được một thời gian ngắn ngủi, đã đi
đến chỗ tan vỡ hoàn toàn (sự kiện phố Ôn Như Hầu tháng
7.1946). Sau một thời gian thương lượng tìm một giải pháp hoà
bình với Pháp không xong, chính phủ Hồ Chí Minh (tên mới của
Nguyễn Ái Quốc khi ra công khai) đã chủ trương rút lui vào
bưng biền kháng chiến. Cuộc liên minh chống phát-xít giữa
Liên Xô và các cường quốc phương Tây cũng hạ màn, cuối
cùng dẫn đến cuộc Chiến tranh Lạnh do Mỹ và Liên Xô cầm
đầu, phân chia thế giới thành hai phe theo hai đường lối, hai
ý thức hệ đối lập nhau gọi là tư bản và cộng sản.

Thật sự thì Chiến tranh Lạnh đã manh nha trước khi Chiến
tranh Thế giới 2 chấm dứt do nhiều bất đồng của các
cường quốc phương Tây với Liên Xô, nhưng phải đợi tiếng
súng im đi, mới bộc lộ rõ hơn, trong việc phân chia vùng ảnh
hưởng và chiếm đóng giữa hai bên, cùng với việc Mỹ viện
trợ tái thiết một số nước châu Âu để không rơi vào tay
cộng sản, từ đó hình thành học thuyết gọi là "be bờ"
(containment) "ngăn chặn làn sóng đỏ" của tổng thống Mỹ
Truman năm 1947, khởi đầu từ châu Âu rồi lan khắp thế giới.
Cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp của Việt Nam cũng bị
hút vào ngay sau cách mạng 1945, khi Pháp được Mỹ yểm trợ
tái lập chế độ thuộc địa. Sự can thiệp của Mỹ càng
ngày càng sâu hơn và mạnh mẽ hơn vào Việt Nam khi Mao Trạch
Đông đẩy Tưởng Giới Thạch ra biển vào năm 1949 để sau đó
đụng độ trực tiếp với Mỹ trong chiến tranh Triều tiên
(1950). Trước tình hình đó, Hồ Chí Minh không có cách nào khác
là ngả hẳn về "phe xã hội chủ nghĩa" nhờ chi viện, trong
đó Trung Quốc được Stalin giao cho vai trò trực tiếp, để
tiếp tục cuộc chiến đấu của ông.

Trung Quốc bấy giờ vẫn liên minh với Liên Xô, nên cũng hết
sức giúp đỡ Việt Nam, nhờ đó Việt Nam tạo ra một chiến
thắng cuối cùng tại lòng chảo Điện Biên ác liệt. Nhưng
chính sự giúp đỡ dần dà của Trung Quốc đưa đến chiến
thắng quyết định này đã đẩy Việt Nam vào vòng phụ thuộc
"người anh em" của mình hết sức nặng nề. Quan hệ giữa
Việt Nam và Trung Quốc tuy bên ngoài danh nghĩa là những nước
thuộc cùng một chiến tuyến chống đế quốc, chia sẻ cùng
một ý thức hệ quốc tế vô sản, nhưng quyết định chính
sách đối ngoại của hai bên vẫn là những quyền lợi thiết
thân của một quốc gia và đối với Việt Nam thì Trung Quốc
đương nhiên bao giờ cũng là một "đại ca".

Nhiều tài liệu của Đảng Cộng sản Việt Nam cho biết khi
được mời tham dự hoà hội Genève 1954, vừa chiếm được
quyền lực trên lục địa, Trung Quốc đã thông qua việc dàn
xếp một cách bất lợi cho Việt Nam để khẳng định sự
hiện diện của mình trên chính trường quốc tế. Khi tiếp
tục giúp Việt Nam về sau, Trung Quốc vẫn xem Việt Nam như một
công cụ để sử dụng vào lúc thích hợp. Theo dư luận trong
Đảng, Hồ Chí Minh không phải không biết điều này nhưng mọi
thứ đã an bài vì với ông không có gì quan trọng bằng sự
đoàn kết "bầu bạn" khắp nơi để giành lại độc lập
từ sự thống trị của thực dân. Không biết ông có lường
được hết hậu quả hay không, nhưng thực tế cho biết rõ là
càng dựa vào "phe xã hội chủ nghĩa" để chống thực dân
thì khái niệm này càng ngày càng mất đi ý nghĩa phổ quát mà
ông đã hình dung khi lựa chọn để mang những thuộc tính riêng
biệt và cụ thể: một mô hình "xã hội chủ nghĩa" đặc
trưng mà Mao Trạch Đông đã sáng tạo cho Trung Quốc.

Vì thế, theo một nghĩa nào đó cũng có thể coi sự thành công
của cách mạng cộng sản ở Việt Nam chính là kết quả của
cuộc nội chiến ở Trung Quốc: nếu Mao Trạch Đông không đánh
bại được Tưởng Giới Thạch ở Trung Quốc thì có lẽ tình
hình sẽ hoàn toàn có lợi cho phe thân Tưởng nằm phục lâu
năm ở đây và số phận của Việt Nam cũng vì đó mà có thể
khác đi rất nhiều. Nhưng những gì diễn ra trong lịch sử đã
không cho phép chữ nếu này tồn tại. Với sự cận kề về
địa lý, phụ thuộc về văn hoá truyền thống, huyễn hoặc
về ý thức hệ, dựa vào Mao Trạch Đông để chiến thắng
thực dân Pháp, Việt Nam rất khó thoát khỏi sự thao túng của
chủ nghĩa cộng sản mao-ít.

<h2>3.</h2>

Như vậy là từ việc cùng tồn tại chung, qua nhiều lần hợp
tác, phân hoá, với nhiều xu hướng chính trị yêu nước khác,
phong trào cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo ngày
càng chiếm được vai trò chủ đạo trong công cuộc chống
thực dân giành chủ quyền cho dân tộc, nhưng ý nghĩa của nó
cũng ngày càng phức tạp, không còn đơn giản như lúc ban
đầu: điều này đã thể hiện rõ rệt qua hai giai đoạn khác
nhau, như chúng ta đã biết, trong quá trình tranh đấu của nó.

Giai đoạn thứ nhất: từ ngày thành lập đến cuộc khởi
nghĩa 1945 thành công, thiết lập nên nhà nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà. Trong giai đoạn này, cương lĩnh tranh đấu tuy do
Đảng đề xuất nhưng nội dung chỉ dừng lại ở cuộc cách
mạng tư sản dân quyền theo kiểu Tôn Trung Sơn. Do cương lĩnh
có nội dung đó, dù khác nhau hoặc đối lập nhau về tư
tưởng, những người cộng sản và các đảng phái phi cộng
sản vẫn có thể hợp tác với nhau để hành động chung. Tình
hình thế giới thuận lợi cho sự hợp tác đó vì trước hiểm
hoạ phát-xít, đã có sự liên minh giữa các cường quốc để
chống lại.

Sự hoàn tất của cuộc khởi nghĩa 1945 ở Việt Nam đã diễn
ra trong bối cảnh đó với một ghi nhận quan trọng cần được
nhấn mạnh: đó là một cuộc cách mạng hoàn toàn tự lực
của Việt Nam, không hề có sự giúp đỡ trực tiếp của
Đảng Cộng sản Liên Xô lẫn Đảng Cộng sản Trung quốc. Nội
dung dân tộc và dân chủ trong đường lối đấu tranh tự lực
của của Đảng Cộng sản trong giai đoạn này đã thể hiện
rất rõ trong "Tuyên ngôn độc lập" và Hiến pháp nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà 1946 như một cột mốc mang tính
bản lề để đất nước vượt qua xã hội cổ truyền, hội
nhập thế giới hiện đại và giải quyết những vấn đề căn
bản cho một Việt Nam phát triển trong dân chủ mà lịch sử
đã đặt ra từ đầu thế kỷ 20.

Giai đoạn hai: từ sau 1949 trở đi, khi cách mạng Trung Quốc
thành công, do tình thế bất khả kháng phải dùng chiến tranh
để bảo vệ thành quả đã đạt được trong cách mạng 1945,
Hồ Chí Minh chuyển hẳn sang dựa dẫm Trung Quốc để chống
thực dân. Tính chất dân tộc của cuộc tranh đấu đã bắt
đầu nhuốm đậm màu ý thức hệ, không phải là ý thức hệ
mác-xít nói chung mà là thứ đặc sản tinh thần mới của Trung
Quốc mệnh danh là chủ nghĩa Mao, theo chân các đoàn cố vấn
Trung Quốc cùng với súng đạn và lương thực tràn vào Việt
Nam. Những cuộc đấu tố cải cách ruộng đất, những cuộc
tẩy não tư tưởng diễn ra trong hàng ngũ cán bộ và quân đội
ngay trong lúc chiến tranh chống Pháp đang tiếp diễn đã có tác
dụng áp đặt cho Việt Nam một đường lối sẽ được khai
triển toàn diện về sau này.

Vấn đề cộng sản và không cộng sản, trước đây nhạt nhoà
trước nhu cầu chống thực dân, bây giờ đã trở thành tác
nhân gây chia rẽ dân tộc, làm phân liệt cả hàng ngũ những
người yêu nước chống Pháp, hoặc riêng biệt hoặc hợp tác
với cộng sản, từ đó đã đưa cuộc đấu tranh của Việt Nam
bước sang một giai đoạn mới, trong giai đoạn này sự chiếm
lĩnh độc tôn về quyền lực của một thành phần cục bộ
đã được đem ra thay thế cho sự hợp tác giữa những thực
thể riêng biệt trong một toàn phần.

Sự rạn nứt đó đã vỡ oà ra cùng với cuộc Chiến tranh
Lạnh đang tăng cường độ ở châu Á. Nhân danh chủ nghĩa
chống cộng, Mỹ can thiệp vào Việt Nam để giúp thực dân
Pháp duy trì thuộc địa càng đẩy Việt Nam rơi sâu vào ảnh
hưởng của Trung Quốc, thể hiện ngày càng quyết liệt qua
cuộc xung đột giữa hai miền Nam/Bắc sau 1954. Cuộc đối đầu
giữa Mỹ và Trung Quốc đã cản trở Việt Nam thống nhất trong
hoà bình. Miền Nam biến thành tiền đồn của "thế giới tự
do" để Mỹ thực hiện chính sách ngăn chặn sự bành trướng
của phe cộng sản theo học thuyết domino.

Điều đó cũng giả định Việt Nam và Trung Quốc "tuy hai mà
một", cả hai đều muốn mở rộng chủ nghĩa cộng sản
xuống toàn vùng Đông Nam Á. Giả định này không hoàn toàn vô
lý nếu nhìn từ nội tại, vì miền Bắc Việt Nam đã thực
hiện việc cải tạo xã hội theo mô hình Mao Trạch Đông, tiếp
tục các chính sách đã tiếp nhận từ Trung Quốc khi còn kháng
chiến: thực hiện "cải cách ruộng đất" để tước đoạt
thành quả mà nông dân đã có được trong thời cách mạng dân
tộc dân chủ, nhân danh một thứ lý thuyết không tưởng
được cho là chân lý duy nhất để lãnh đạo, căn cứ vào đó
thủ tiêu mọi hứa hẹn trước đây về quyền tự do tư
tưởng cho trí thức và áp đặt lên đời sống một hình thái
văn hoá chuyên chính ngu dân, lạc hậu.

Nhưng từ một góc nhìn rộng lớn hơn thì lập luận ấy chỉ
là kết quả của suy diễn. Bấy giờ Trung quốc dù có muốn
"xích hoá" Đông Nam Á thì cũng cũng không đủ sức, nếu có
thì cũng chỉ xúi giục Việt Nam, nhưng chỉ trong giới hạn nào
đó có lợi cho mình. Còn Việt Nam thì lại chỉ theo đuổi dự
định thiết thân: trong khi quyết tâm chống Mỹ để thống
nhất đất nước thì cũng cưỡng lại Trung Quốc, không chấp
nhận kéo dài nhùng nhằng. Rốt cuộc mặc dù không vừa ý,
nhưng Trung Quốc vẫn ủng hộ Việt Nam, ngoài việc muốn sử
dụng Việt Nam như một công cụ, còn vẫn giữ chính sách thù
địch với Mỹ do vấn đề Đài Loan và sau chiến tranh Triều
Tiên. Nhưng khi sự tranh giành vị trí bá quyền với Liên Xô
trong phong trào cộng sản quốc tế lên cao dẫn đến xung đột
vũ trang, Trung Quốc đã xem Liên Xô như một "đế quốc xã
hội", nhanh chóng chuyển sang hợp tác với Mỹ để chống
lại. Ngoài việc nắm lấy thời cơ để phân hoá kẻ thù, Mỹ
còn muốn qua việc hợp tác này, nhờ Trung Quốc áp lực với
Việt Nam hỗ trợ Mỹ trong giải pháp rút lui chủ động hơn
khỏi cuộc sa lầy ở Đông Nam Á.

Trung Quốc đã lợi dụng tình hình đó chiếm đoạt Hoàng Sa
của Việt Nam trong tay chế độ Sài gòn năm 1974, trước sự án
binh bất động của Hạm đội 7 của Mỹ đang lảng vảng ngoài
Biển Đông. Mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày càng
trở nên gay gắt khi Việt Nam bất chấp những cuộc đi đêm
giữa Mỹ và Trung Quốc bất lợi cho mình, nhất quyết thực
hiện việc thống nhất đất nước bằng quân sự. Sau đó
không lâu khi Đặng Tiểu Bình chủ trương hiện đại hoá Trung
Quốc bằng thủ đoạn "lòn trôn", trắng trợn ve vãn Mỹ
để du nhập khoa học và công nghệ thì Việt Nam đã được
Trung Quốc sử dụng một lần nữa như một con chốt.

Để đối phó, thay vì nhanh chóng bình thường hoá quan hệ với
Mỹ để hoá giải cuộc cờ, Việt Nam quá ảo tưởng về mình
sau khi thắng Mỹ, lại đưa điều kiện bồi thường chiến
tranh để đàm phán, không gặt hái được kết quả gì, cuối
cùng để chống trả thái độ thù địch ngày càng hung hãn
của Trung Quốc, đã phải ngả hẳn sang Liên Xô, với niềm xác
tín rằng Liên Xô "xã hội chủ nghĩa" đích thực hơn. Sự
thách thức ấy đã được Trung Quốc trả đũa bằng cách sử
dụng Khmer Đỏ tăng cường khuấy phá biên giới phía Nam; khi
Việt Nam chiếm đóng Campuchia để trừng trị, năm 1979 Trung
Quốc đã vận động tranh thủ sự tán đồng của Mỹ, mở
cuộc tấn công đánh phá tan tành một số tỉnh miền Bắc để
"dạy" cho tên "côn đồ Việt Nam" một bài học.

Bị tổn thất nặng nề, không buộc được Việt Nam rút khỏi
Campuchia ngay, nhưng Đặng Tiểu Bình cũng thành công trong việc
làm cho Việt Nam bị cô lập và kiệt quệ trong một thời gian
dài. Trong khi đem máu của binh sĩ hai nước ra chứng minh với
Mỹ rằng mình không còn nằm trong phe cộng sản nữa ( Việt Nam
là một Cuba ở châu Á cần trừng trị), Trung Quốc đã nhận
được từ Mỹ một món quà mà nội dung là một khoảng thời
gian yên bình gần 30 năm để tiếp nhận công nghệ và khoa học
phương Tây, cần thiết cho việc thực hiện chủ trương "bốn
hiện đại hoá", hy vọng thoát khỏi lạc hậu, mau chóng trở
thành cường quốc. Còn Việt Nam thì sau cả chục năm trì trệ
vì quá tin vào Liên Xô, đến khi Liên Xô sụp đổ, không biết
bám víu vào ai để tồn tại như một chế độ chuyên chính
nên nghe theo Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh lúc bấy giờ (1991)
vội vã quay về với người bạn Trung Quốc để nối lại mối
quan hệ "đồng chí tốt" đã có từ lâu.

<h2>4.</h2>

Ngày nay các cuộc chiến tranh chống các thế lực thực dân,
đế quốc phương Tây coi như đã lui vào dĩ vãng. Cuộc Chiến
tranh Lạnh giữa hai phe chia đôi thế giới cũng đã lụi tàn.
Cương lĩnh gọi là "xây dựng chủ nghĩa xã hội" theo mô
hình Stalin-Mao cũng đã tan vỡ theo sự sụp đổ của cái hệ
thống quốc tế đã cổ xuý nó. Để tồn tại cả Trung Quốc
lẫn Việt Nam đều phải thích ứng chuyển đổi đường lối,
đường lối này thường được gọi là "chủ nghĩa Lenin-thị
trường", với những cải biến xa hơn về mặt lý luận:
đuổi hàng hoá và thị trường ra khỏi sự phê phán của Marx
về chủ nghĩa tư bản, nhưng vẫn lén lút bám chặt vào mấy
chữ "chuyên chính vô sản" của ông về thời kỳ quá độ,
cốt chỉ để duy trì cho được sự thống trị độc quyền
vĩnh viễn của Đảng cộng sản đối với đời sống chính
trị của đất nước. Nói cách khác là làm kinh tế thị
trường nửa vời bằng một nhà nước độc tài tuyệt đối.
Không có gì gọi là "chủ nghĩa xã hội" thật sự ở đây
để phải bận tâm tranh cãi thêm về mấy chữ "định
hướng" hay "tiến lên" đi theo nó cả.

Với đường lối nói trên, Đảng Cộng sản Việt Nam cố giữ
thói quen nhún nhường đối với người láng giềng phương
Bắc, hy vọng tạo ra một động lực mới và một không khí
hoà bình để đuổi kịp nhịp phát triển của các nước trong
khu vực. Nhưng kết quả lại không như mong muốn. Chính sách
của Đặng Tiểu Bình, lấy Việt Nam làm con chốt thí để
chiếm lòng tin của giới lãnh đạo Mỹ (dạy Việt Nam một bài
học 1979), đồng thời quyết liệt dùng bàn tay sắt đập tan
mọi ý hướng canh tân dân chủ hoá (sự kiện Thiên An Môn
1989), sau 30 năm thực hiện một thứ chủ nghĩa tư bản nhà
nước chuyên chế, nếu đã đưa được Trung Quốc lên thành
một cường quốc thì cũng với những cố gắng sửa chữa sai
lầm để thực hiện chính sách "đổi mới" đặt nền trên
trấn áp chính trị, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam lại tạo ra những kết quả trái ngược. Theo chân Trung
Quốc mở cửa chào đón chủ nghĩa tư bản quốc tế, cho phép
giai tầng trung lưu nội địa hoạt động trở lại, sự lãnh
đạo đó vẫn không đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng
trì trệ, tụt hậu để "hoá rồng" mà vẫn chìm ngập trong
vũng lầy nhược tiểu, thối nát, tầm nhìn không thoát khỏi
những toan tính lợi ích bè phái trước mắt, vì đó đã đưa
toàn xã hội vào cảnh chụp giật hỗn loạn, đất nước lệ
thuộc bên ngoài nhiều mặt.

Trước tình hình rối ren ấy, mối quan hệ giữa Việt Nam với
người bạn phương Bắc lại rẽ sang một khúc quanh đầy nguy
hiểm: dựa vào những kết quả đạt được trong 30 năm phát
triển, Trung Quốc đã tạo ra được sức mạnh đủ để mưu
tính trở thành một siêu cường mới ở châu Á, thách thức và
đi đến chỗ muốn thay thế vai trò bá quyền của Mỹ đã suy
yếu trong những năm gần đây. Toan tính ấy mang tính hiện
thực đến mức nào thì còn phải chờ xem, nhưng trước mắt
Trung Quốc đã gieo rắc tham vọng đó khắp nơi bằng hàng loạt
những biện pháp tham lam của một đế quốc không cần giấu
mặt. Quan trọng nhất là đã tập trung tăng cường sức mạnh
quân sự, dựa vào sức mạnh này, hăm doạ độc chiếm Biển
Đông, khống chế vùng Đông Nam Á.

Riêng đối với Việt Nam âm mưu đó được thực hiện một
cách toàn diện, vì từ vị trí địa chính của mình Việt Nam
chứa đựng tiềm năng tiếp tục trở thành một cái nút chặn
lộ trình đi xuống phía Nam của chủ nghĩa dân tộc Đại Hán.
Vì thế, ngoài việc liên tục quấy phá, cướp đoạt, lấn
chiếm, bắn giết ngoài Biển Đông, Trung Quốc tìm cách xâm
nhập vào nội bộ trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, tình
báo để thao túng, biến Việt Nam thành một quốc gia phên
giậu, phụ thuộc để khai thác và sai khiến.

Một câu hỏi khắc nghiệt không thể không đặt ra: phải chăng
không muốn nhưng một lần nữa người Việt Nam lại phải bắt
đầu một cuộc đối kháng mới với kẻ thù truyền kiếp của
dân tộc mình, giống như cha ông chúng ta đã phải đương đầu
từ hàng nghìn năm về trước? Phải chăng nói như một nhà
nghiên cứu: mọi cuộc chiến đấu chống các đế quốc phương
Tây để gìn giữ chủ quyền của Việt Nam đều trở nên
"thứ yếu" so với cuộc đương đầu với chủ nghĩa bành
trướng Đại Hán phương Bắc? (Marvin Ott: "Thế kẹt trước
Trung Quốc: Bản lĩnh và sự khôn khéo của Việt Nam", Nghiên
cứu Biển Đông 1.6.2012). Dù cho thông tin hiện nay chưa cung cấp
cho chúng ta đầy đủ yếu tố để trả lời các câu hỏi này
bằng một khẳng định có tính chất đại chiến lược cho cả
một thế kỷ, nhưng căn cứ vào những sự kiện đã diễn ra
hơn 50 năm qua cho đến ngày nay, bất cứ người Việt Nam nào
có chút ưu tư đều cảm thấy cái tai hoạ từ phương Bắc
đang đè nặng lên số phận đất nước, ngày càng lộ rõ,
ngày càng trắng trợn.

Trước tình hình nguy ngập nói trên, chúng ta đều trông đợi
thái độ của Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách là tổ
chức chính trị từng dính líu quá sâu vào ý thức hệ mao-ít
trong thời kỳ chống thực dân và hiện nay đang là đảng cầm
quyền tự cho mình là người duy nhất chịu trách nhiệm trước
dân tộc về mối đe doạ bành trướng của Trung quốc. Chúng ta
hy vọng Đảng Cộng sản sẽ công bố đường lối của mình
trước toàn dân, như trước đây đã từng công bố nhiều lần
trước những biến cố quan trọng của đất nước. Trong khi
chờ đợi, ở đây chúng ta chỉ căn cứ vào những gì đã
trình bày ở trên để rút ra một số kết luận có tính chất
hiển nhiên, dựa vào đó hình dung một chiến lược ứng phó
có thể có cho dân tộc mà nội dung gồm những điều chủ yếu
như sau:

· Ý thức hệ gọi là "xã hội chủ nghĩa" mà Đảng Cộng
sản Việt Nam sử dụng trong thời kỳ chống xâm lược nếu có
tác dụng tìm kiếm sự hỗ trợ bên ngoài, khi đem ra thực
hiện trong xây dựng đã hiện nguyên hình là một mô hình không
tưởng chuyên chế, đi ngược lại mọi viễn cảnh canh tân
trong dân chủ, không tạo đoàn kết mà chỉ gây chia rẽ dân
tộc và đưa dân tộc vào con đường lệ thuộc tinh thần. Chủ
nghĩa "Mác-Lênin" cơ sở xây dựng "chủ nghĩa xã hội"
ở Việt Nam chỉ là một sản phẩm du nhập mang tính chất
chính trị tình thế, có nội dung Stalin được Mao Trạch Đông
Trung Quốc hoá.

· Trên thực tế, nhất là trên mặt quan hệ quốc tế, Đảng
Cộng sản Trung quốc đã từ bỏ ý thức hệ gọi là "chủ
nghĩa xã hội" từ lâu. Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Hoa
hiện nay là quan hệ bình đẳng giữa hai quốc gia, không thể
lấy quan hệ đồng nhất về ý thức hệ để xử lý các vấn
đề có liên hệ đến quyền lợi của hai nước. Nếu sử
dụng khái niệm này để quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam sẽ
rơi vào cái bẫy tâm lí chiến gọi là " vì đại cuộc"do
Trung Quốc giăng ra.

· Qua tất cả những diễn biến của lịch sử quan hệ giữa
hai nước suốt cả nửa thế kỷ đã qua, Trung Quốc không lúc
nào ngừng o ép Việt Nam dựa trên những lợi ích của một
quốc gia theo chủ nghĩa bành trướng nước lớn, đến nay đã
trở nên trắng trợn hơn bao giờ hết trong toan tính biến Việt
Nam thành một thứ phên giậu, phụ thuộc, để sử dụng,
khống chế. Không có gì gọi là "hữu nghị" hoặc "đồng
chí tốt", "láng giềng tốt" biểu hiện trong mối quan hệ
ấy.

· Chỉ có một thể chể chính trị mạnh về mọi mặt, bên
ngoài có chỗ dựa của sự đồng tình quốc tế, bên trong là
một nhà nước có được sự hậu thuẫn của nhân dân, mới
tạo ra được sức mạnh tổng hợp ngăn chặn sự gây hấn
của một Trung Quốc đang trở thành đế quốc. Vì vậy một
đường lối ngăn chặn chủ nghĩa Đại Hán phương Bắc ngày
nay tất yếu cũng phải trở về cội nguồn của cuộc đấu
tranh chống thực dân từ đầu thế kỷ 20: chống xâm lược
bên ngoài phải đi cùng với việc canh tân và dân chủ hoá xã
hội bên trong. ***

Trong viễn cảnh hiện đại hoá, vấn đề ngăn chặn chủ nghĩa
bành trướng Đại Hán như vậy không đơn thuần chỉ là việc
bảo vệ một cõi "Nam quốc sơn hà" như ông cha chúng ta đã
làm trước đây: thực chất đó là việc phủ nhận một mô
hình phát triển không những không đưa đất nước hội nhập
vào thế giới hiện đại một cách đích thực mà còn đẩy
dân tộc vào vòng lệ thuộc. Suốt một thời gian dài, vì nhu
cầu bức thiết của công cuộc đấu tranh chống các hình thức
thực dân phương Tây, Đảng Cộng sản Việt Nam đã bị cuốn
hút vào cái ý thức hệ ngoại lai đặc biệt đến từ phương
Bắc đó, coi như một sự trợ giúp cần thiết mà không ý
thức hết cũng như không lường hết được hậu quả trầm
trọng và lâu dài của nó. Ngày nay trước nguy cơ chủ nghĩa
bành trướng Đại Hán đang chuyển mình thành chủ nghĩa thực
dân hiện đại, những người cộng sản không thể không tìm
về giai đoạn đấu tranh trong tự lực và tự chủ của mình
như một điểm tựa truyền thống phi-mao-ít để thoát khỏi
sự không chế của nó, do đó cần thiết cũng phải nhìn lại
các mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, đặc biệt trong
lĩnh vực ý thức hệ, qua các giai đoạn đấu tranh khác nhau,
một cách khách quan, đúng như đã diễn ra một thời trong lịch
sử. 1.6.2012

L.P.

Tác giả trực tiếp gửi BVN

_____________________________

<h2>Tham khảo:</h2>

36 nhân sĩ, trí thức Việt Nam hiện ở nước ngoài: "Thư ngỏ
gửi các nhà lãnh đạo Việt Nam về hiểm hoạ ngoại bang và
sức mạnh dân tộc" (ngày 21.8.2011), Viet-Studies tháng 8.2011

Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Sự
thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, Nxb Sự
thật, Hà Nội, 1981

Brocheux, P.: "Những suy tưởng về Việt Nam", Thời Đại Mới
số 24, tháng 3.2012

Chanda, N.: Brother Enemy, The War after the War, Harcourt Brace Jovanovich,
Publishers, San Diego New York London, 1986

Giáp Văn Dương: "Thoát Trung luận", Blog Giápvăn, 13.8.2011

Kissinger, H.: On China, Chapter 13 "Touching the Tiger's Buttocks, The
Third Vietnam War", The Penguin Press, Kindle Edition, 2011

Lữ Phương: Từ Nguyễn Tất Thành đến Hồ Chí Minh – Sự
hình thành một chọn lựa, "Đặc trang Lữ Phương",
Viet-Sudies

Nguyễn Kiến Giang: "Nhìn lại quá trình du nhập chủ nghĩa
Mác-Lênin vào Việt Nam" (LP sưu tầm, hiệu đính và giới
thiệu), talawas.org, 14.4.2006

Nhiều người ký tên: "Kiến Nghị về Bảo Vệ và Phát Triển
Đất Nước", (10.7.2011) boxitvn.blogspot.com

Nhóm tác giả: "Ý kiến chúng tôi: Cải cách toàn diện để
phát triển đất nước" (8.9.2011), Thời Đại Mới số 23,
tháng 11.2011

Trần Đình Hượu: Giáo trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao
thời 1900-1930, Nxb Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà
Nội 1988

Trần Quang Cơ: "Hồi ký" tháng 7.2005, Diễn Đàn 12.7.2008

Vũ Hồng Lâm: "Lịch sử quan hệ Việt-Trung nhìn từ góc độ
đại chiến lược", Thời Đại Mới số 2, tháng 7.2004

Vũ Quang Việt: "Phải chăng quan hệ Việt Nam với Trung Quốc
còn mang tính bá chủ-chư hầu?", Thời Đại Mới số 23, tháng
11.2001

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/13159), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét