<div class="boxright200"><img
src="http://wscdn.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2012/06/21/120621155428_truong_sa_304x171_reuters_nocredit.jpg"
/><div class="textholder">Luật Biển 2012 có vẻ toàn diện và và
kỹ lưỡng hơn các luật và tuyên bố trước đây </div></div>
<strong>Quốc hội Việt Nam vừa thông qua Luật Biển. Với tình
hình tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông, đây là
đạo luật mà nhiều người Việt Nam mong đợi. Trên cơ sở
đạo luật này còn có thể thay đổi trước khi được ban
hành, đây là một số nhận xét ban đầu về văn bản Luật
Biển.</strong>
Luật Biển 2012 có vẻ toàn diện và và kỹ lưỡng hơn các văn
bản và tuyên bố trước đây của Việt Nam về chủ quyền và
chế độ pháp lý các vùng biển. Có lẽ ba yếu tố đã dẫn
đến điều đó.
Thứ nhất, sau khi Công ước Luật Biển của LHQ ra đời cách
đây 30 năm thì trật tự đại dương trên thế giới ngày càng
trở thành rõ ràng hơn. Vì Quốc Hội Việt Nam đã phê chuẩn
Công ước năm 1996, Việt Nam cũng phải có luật pháp thích hợp
cho việc hoàn thành những nghĩa vụ của mình đối với Công
ước và để bảo đảm sự tôn trọng đối với Công ước.
Thứ nhì, Việt Nam ngày càng hội nhập hơn với thế giới, cho
nên phải áp dụng luật quốc tế nhiều hơn, và chắc chắn là
khả năng của Việt Nam trong lãnh vực luật quốc tế ngày càng
được phát triển hơn.
Thứ ba, trong bốn năm qua, các động thái của Trung Quốc, bắt
đầu từ việc gây áp lực với BP, đã làm cho tranh chấp Hoàng
Sa, Trường Sa và Biển Đông trở thành một trong những vấn
đề an ninh hàng đầu cho Việt Nam – vì thế Việt Nam phải
đầu tư nhiều hơn vào việc soạn thảo Luật Biển để làm
sáng tỏ thêm quan điểm của mình.
<h2>Điểm đặc biệt</h2>
Điểm đặc biệt nhất là Điều 1 ghi cụ thể quần đảo
Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa là thuộc chủ quyền Việt Nam
và Điều 2 ghi nếu quy định của Luật Biển khác với quy
định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì
áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
Hai điều lệ đầu tiên đó phản ảnh chiến lược của Việt
Nam về biển đảo: về đảo thì giữ vững quan điểm đảo là
của Việt Nam, về biển thì tuân thủ Công ước Luật Biển
của LHQ, một điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Điều đáng chú ý là đạo luật có uy quyền nhất về chế
độ pháp lý của các vùng biển Việt Nam đã tự đặt mình
dưới các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, mà
liên quan nhiều nhất trong văn cảnh này là Công ước Luật
Biển của LHQ. Điều đó nói rất nhiều về Việt Nam có nhận
định thế nào về Công ước Luật Biển của LHQ. Chúng ta có
thể so sánh với luật của Trung Quốc về vùng đặc quyền kinh
tế trong đó họ thòng thêm một câu để bảo lưu cái họ gọi
là quyền lịch sử, mở ngỏ cửa cho việc Trung Quốc không
tuân thủ Công ước Luật Biển của LHQ.
<h2>So sánh với luật biển cũ và với Công ước về Luật
Biển của LHQ</h2>
<div class="boxright200"><div class="quotebody"><div class="quoteopen"><img
class="quoleft" src="/misc/quoleft.png"/></div>Việc Điều 1 ghi quần
đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là của Việt Nam, tuy
không phải là một điều mới, nhưng là điều người Việt
nào cũng mong muốn trong tình hình căng thẳng về biển đảo,
và có lẽ phần lớn sẽ tán thành việc nó được làm sáng
tỏ một cách cụ thể ngay trong điều lệ đầu tiên.<img
class="quoright" src="/misc/quoright.png"/> <br class="quoteclear"></div><div
class="quoteauthor"></div></div>
Việc Điều 1 ghi quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa
là của Việt Nam, tuy không phải là một điều mới, nhưng là
điều người Việt nào cũng mong muốn trong tình hình căng
thẳng về biển đảo, và có lẽ phần lớn sẽ tán thành việc
nó được làm sáng tỏ một cách cụ thể ngay trong điều lệ
đầu tiên.
Luật Biển này khắc phục một số điểm trong luật và tuyên
bố cũ không phù hợp với Công ước Luật Biển,thí dụ như
về quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải 12 hải lý và
quyền tự do hàng hải trong vùng tiếp giáp lãnh hải, nhưng
không khắc phục hoàn toàn. Thí dụ như Luật Biển quy định
tàu thuyền quân sự nước ngoài phải thông báo với Việt Nam
trước khi sử dụng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải
Việt Nam, trong khi Công ước Luật Biển LHQ không đòi hỏi
phải thông báo.
Luật Biển không công nhận quyền đi qua không gây hại cho tàu
thuyền quân sự của nước ngoài trong nội thủy Việt Nam, một
quyền có trong Công ước Luật Biển LHQ, nhưng cũng có ghi nhận
trừ trường hợp Công ước Luật Biển LHQ có quy định khác
và tàu thuyền quân sự nước ngoài phải hoạt động phù hợp
với lời mời của hoặc thỏa thuận với Việt Nam.
Điều đáng chú ý mà có thể có ảnh hưởng đến Hoàng Sa,
Trường Sa, là Luật Biển nói cụ thể rằng các đảo đá
không thích hợp cho đời sống con người hoặc cho một đời
sống kinh tế riêng thì không có vùng đặc quyền kinh tế và
thềm lục địa. Đó là một điều khoản của Công ước Luật
Biển và có nghĩa là Việt Nam sẽ không đòi vùng đặc quyền
kinh tế và thềm lục địa cho một số đơn vị địa lý ở
Hoàng Sa, Trường Sa. Ngược lại, Việt Nam vẫn có thể cho
rằng những đảo "thích hợp cho đời sống con người hoặc
cho một đời sống kinh tế riêng" là có vùng đặc quyền kinh
tế và thềm lục địa.
<div class="boxright200"><img
src="http://wscdn.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2012/03/17/120317092122_hoang_sa_304x171_reuters_nocredit.jpg"
/><div class="textholder">Luật Biển ghi Hoàng Sa và Trường Sa là
của Việt Nam</div></div>
Luật biển này tiếp tục dùng hệ thống đường cơ sở thẳng
Việt Nam tuyên bố năm 1982, mặc dù hệ thống đó là không phù
hợp với Công ước Luật Biển LHQ và đã bị nhiều nước
phản đối. Cần nói thêm là Việt Nam không phải là nước duy
nhất có đường cơ sở thẳng không phù hợp với Công ước
Luật Biển và bị nhiều nước phản đối. Vấn đề là Điều
2 (nếu quy định của Luật Biển khác với quy định của
điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì áp dụng
quy định của điều ước quốc tế đó) sẽ có nghĩa gì cho
việc đường cơ sở thẳng của Việt Nam không phù hợp với
Công ước Luật Biển.
Phản ảnh Hiệp Định Vịnh Bắc Bộ năm 2000, Luật Biển không
còn cho rằng kinh độ 108 là ranh giới biển Việt Nam-Trung Quốc
trong Vịnh.
Dù Việt Nam không phải là một quốc gia quần đảo, Luật
Biển cũng sử dụng định nghĩa "quần đảo" trong phần về
các quốc gia quần đảo của Công ước Luật Biển trong việc
đòi chủ quyền đối với quần đảo để đòi "bộ phận
của các đảo, vùng nước tiếp liền và các thành phần tự
nhiên khác có liên quan chặt chẽ với nhau".
Tóm lại, Luật Biển đi sâu sát với Công ước Luật Biển hơn
các luật và tuyên bố cũ, nhưng chưa tuân thủ hoàn toàn. Ngoài
ra, Luật Biển còn một số điểm chưa hoàn toàn rõ ràng, và
chưa biết có sẽ có thay đổi gì trước khi được ban hành hay
không.
Trong nhận xét sơ khởi thì các điều lệ khác cho việc quản
lý các vùng biển Việt Nam có vẻ như hợp lý và dựa nhiều
trên Công Ước Luật Biển. Trong đó cũng có một số điều
lệ khoản phản ảnh nhu cầu đặc thù của Việt Nam.
<div class="boxright200"><div class="quotebody"><div class="quoteopen"><img
class="quoleft" src="/misc/quoleft.png"/></div>Luật Biển vừa được
thông qua là một bước tiến pháp lý lớn và có chuẩn bị kỹ
lưỡng cho việc bảo vệ và quản lý biển, cũng như cho việc
tiếp xúcvới thế giới trên biển. Tuy nhiên điều quan trọng
là Luật đó sẽ được áp dụng thế nào trên thực tế.<img
class="quoright" src="/misc/quoright.png"/> <br class="quoteclear"></div><div
class="quoteauthor"></div></div>
Một thí dụ là, trong khi nghĩa vụ tất nhiên của mọi nhà
nước là bảo vệ các hoạt động hợp pháp của công dân,
Luật Biển quy định cụ thể việc bảo vệ hoạt động thủy
sản của ngư dân, và đầu tư bảo đảm hoạt động của các
lực lượng làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên biển.
Luật biển cũng quy định chính sách ưu tiên đối với nhân
dân sinh sống trên các đảo và quần đảo.
Luật Biển quy định giải quyết tranh chấp bằng các biện
pháp hòa bình, phù hợp với Công Ước Luật Biển, luật pháp
và thực tiễn quốc tế. Như vậy là bao gồm nhiều biện pháp
hơn "kiên trì thông qua hiệp thương hữu nghị" trong thỏa
thuận Việt-Trung về "các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải
quyết vấn đề trên biển" năm ngoái. Có lẽ đây cũng là
lần đầu tiên luật Việt Nam quy định cụ thể giải quyết
tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình.
<h2>Chờ thời điểm thích hợp hơn</h2>
Các chuyên gia của Việt Nam biết rõ một số điểm trong các
luật và tuyên cố cũ không tuân thủ Công ước Luật Biển
của LHQ. Họ đã sửa một số trong những điểm đó, nhưng
với một số điểm còn lại thì có lẽ họ đang chờ thời
điểm khác thích hợp hơn. Việc Điều 2 có nghĩa với những
trường hợp Luật Biển quy định khác với Công Ước Luật
Biển của LHQ thì áp dụng Công Ước Luật Biển, là một cách
khôn khéo để Việt Nam "chờ thời điểm khác thích hợp
hơn".
Với nhận xét sơ khởi thì văn bản Luật Biển vừa được
thông qua là một bước tiến pháp lý lớn và có chuẩn bị kỹ
lưỡng cho việc bảo vệ và quản lý biển, cũng như cho việc
tiếp xúc với thế giới trên biển. Tuy nhiên điều quan trọng
là Luật đó sẽ được áp dụng thế nào trên thực tế.
<em>Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả Dương
Danh Huy, một nhà nghiên cứu về Biển Đông, dựa trên văn
bản luật mà tác giả có được, trong khi luật này chưa
được chính thức công bố toàn văn.</em>
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/13106), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét