9/3/2012 (20 tháng Ba năm Nhâm Thìn), nhằm ngày giỗ của Vạn
Xuân Nam đế Lý Bôn. Bài viết dưới đây như một nén nhang
tưởng nhớ người anh hùng giải phóng dân tộc và cũng là
hoàng đế đầu tiên của nước Việt Nam. Đồng thời, cũng là
góp phần suy ngẫm, tìm trong vốn cổ truyền thống lịch sử
văn hóa tư tưởng của dân tộc những thông tin, kinh nghiệm
hữu ích còn có thể sử dụng được trong công cuộc bảo vệ
và dựng xây đất nước Việt Nam hôm nay và mai sau.</div>
<h2>I- Vạn Xuân Nam đế Lý Bôn</h2>
Năm 541 sau công nguyên, Lý Bôn (Lý Bí) đã lãnh đạo dân Việt
nổi lên đánh đổ ách đô hộ của Trung Hoa. Ngay sau khi giành
quyền độc lập dân tộc, ông cho tiến hành mấy việc mà ý
nghĩa tác dụng của nó vô cùng lớn, cho đến tận bây giờ
cũng còn đáng suy ngẫm, ngưỡng mộ và học tập, đó là:
- Lập đài Vạn Xuân tế thần linh sông núi của dân Việt và
đặt tên nước là Vạn Xuân: Các miền khác của Trung Hoa, nhân
lúc chính quyền trung ương suy yếu, nếu có nổi lên giành
quyền tự chủ thì thường là lấy lại tên cũ theo sử Trung
Hoa như là Tần, Hán, Tề... Với việc đánh đổ ách thống
trị của Trung Hoa ở Giao Châu, không dùng các tên cũ mà dùng
một tên mới, Lý Bôn và triều đại của ông đã thể hiện ý
chí quyết tâm tách hẳn cõi Việt ra khỏi Trung Hoa, đoạn
tuyệt quá khứ, không thèm luyến lưu dính líu gì nữa.
- Dựng chùa Trấn Quốc và thờ Bà Triệu: Mặc dù là một
người Việt gốc Hoa, là quan của chế độ quận thú cai trị
Giao Châu, nhưng sau khi lập quốc, Lý Bôn đã không dựng miếu
thờ Khổng Tử, Lão Tử hay một vị thánh thần nào đó của
người Hoa.
Ông và các cộng sự của ông chắc hẳn đã hiểu rằng, dân
Việt muốn độc lập không phụ thuộc vào đế chế Trung Hoa
thì phải có một nền tảng văn hóa khác biệt mới có thể
không bị nhập nhòa đồng hóa. Thời đó, ngoài văn hóa truyền
thống của người Việt (đã không đủ sức mạnh so với văn
hóa Trung Hoa) thì chỉ có đạo Phật có thể mang đến một
sức mạnh văn hóa khả dĩ đối địch được sức mạnh văn
hóa Tàu. Cái hay ở đây là nhà nước Vạn Xuân ngày đó đã
biết gắn sức mạnh văn hóa Phật giáo với tinh thần dân tộc
bằng việc cụ thể là thờ nữ vương Triệu Thị Trinh cùng
với Phật trong chùa Trấn Quốc (nay vẫn còn). Nữ vương Triệu
Thị Trinh là người đã lãnh đạo dân Việt khởi nghĩa chống
ách đô hộ Trung Hoa vào cuối thế kỷ 3 - CN, người đã nói
câu nói nổi tiếng <em>"Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh,
đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi
quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu
khom lưng làm tì thiếp cho người" </em>.
- Xây Tô Lịch giang thành: Theo đề nghị của đại tướng
Phạm Tu (quê ở huyện Thanh Trì bây giờ), Lý Bôn đã cho tiến
hành xây dựng một tòa thành ở ven sông Tô Lịch, gọi là Tô
Lịch giang thành. Tòa thành này chính là khởi đầu cho sự phát
triển của vùng đất giữa sông Hồng và sông Tô Lịch dần
dần trở thành trung tâm đô hội, hành chính, văn hóa, kinh tế,
tâm linh và về sau đã nổi danh với những cái tên Đại La -
Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. (Công của Phạm Tu như thế mà
cho đến nay Hà Nội chưa có con đường nào mang tên ông thì
thật là thiếu sót).
Cũng cần phải nói thêm rằng, mặc dù có ý thức độc lâp
tự chủ tách hẳn khỏi Trung Hoa, không dùng lễ giáo Khổng
Mạnh làm nền tảng tư tưởng chính thống, nhưng, Lý Bôn vẫn
dùng trí thức Nho học, bổ nhiệm Tinh Thiều (một nhà Nho) làm
người đứng đầu hàng quan Văn. Việc này thể hiện rõ quan
điểm <em>"văn hóa Trung Hoa thì kiên quyết bỏ nhưng tinh hoa tri
thức Trung Hoa thì vẫn dùng"</em>.
- Mở rộng ảnh hưởng, tiến về phương Nam để có hậu
phương vững chắc: Mặc dù đã giành được chính quyền ở
trung ương nhưng nửa phía nam của Giao châu vẫn do quan đô hộ
Trung Hoa cai quản. Thứ sử Việt châu là Trần Hầu, thứ sử La
châu là Ninh Cự, thứ sử An châu là Úy Trí, thứ sử Ái châu
là Nguyễn Hán cũng hợp binh đánh Lý Bôn. Nhưng Lý Bôn đã
chủ động ra quân đánh trước, phá tan lực lượng quân Lương
ở phía nam, làm chủ toàn bộ Giao châu. Năm 543 CN, nhân lúc
quân Vạn Xuân đang phải đương đầu với phương Bắc, vua Lâm
Ấp đem quân đánh phá vùng Cửu Đức (Hà Tĩnh). Đại tướng
Phạm Tu nhận lệnh cầm quân xuống đánh tan quân Lâm Ấp, ổn
định biên giới phía Nam. Kể từ đây, bờ cõi nước Việt
kéo dài đến dãy Hoành Sơn (Đèo Ngang).
- Chủ động tiến công phá thế mạnh của địch: Cuối năm
542, Lương Vũ Đế sai thứ sử Giao châu là Tôn Quýnh, thứ sử
Tân châu là Lư Tử Hùng sang đàn áp. Được tin quân Trung Hoa
lại tiến sang, Lý Bôn chủ động mang quân ra bán đảo Hợp
Phố đón đánh, quân Lương 10 phần chết đến 6-7 phần, hoàn
toàn tan rã. Chiến thắng này giúp Lý Bôn kiểm soát toàn bộ
Giao châu, tức là miền Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam,
cộng thêm quận Hợp Phố (nay thuộc Quảng Đông, Trung Quốc).
Như vậy, tính cho đến nay, trong lịch sử Việt Nam chỉ có
triều Tiền Lý và triều Hậu Lý là dám đem quân đánh Trung Hoa
ngay trên đất Trung Hoa và đều giành được thắng lợi.
<center>* * *</center>
<h2>II- Điểm lược lịch sử 15 thế kỷ tiếp theo</h2>
Thế nước chưa kịp ổn định thì quân xâm lược Trung Hoa
lại kéo sang. Nước Vạn Xuân non trẻ mặc dù chống trả
quyết liệt và cũng đã giành được những thắng lợi nhất
định. Nhưng rồi, trước thế giặc mạnh, lại thêm thiếu may
mắn (thời tiết bất ngờ xấu), quân dân Vạn Xuân không
chống đỡ nổi. Pham Tu, Tinh Thiều và nhiều tướng lĩnh khác
bị tử trận. Lý Bôn ốm nặng, trước khi mất, ông giao lại
toàn quyền cho tướng trẻ Triệu Quang Phục. Đây lại thể
hiện một điểm sáng nữa trong tư tưởng của vị hoàng đế
đầu tiên của nước Việt - Chọn người tài năng kế vị
chứ không truyền cho người trong họ theo lễ giáo Khổng Nho.
Sự chọn lựa của Lý Nam Đế là hoàn toàn đúng đắn. Triệu
Việt Vương đã lãnh đạo quân dân Vạn Xuân kháng chiến
chống quân xâm lược Trung Hoa đi đến thành công, kéo dài nền
độc lập tự chủ thêm được 50 năm nữa. Tri ân Lý Nam Đế
đã nhường ngôi cho mình, Triệu Việt Vương đã không ngần
ngại chia cho con cháu Lý Bôn một nửa nước.
Tiếc thay, con cháu Lý Bôn không được như tiền nhân của họ.
Cho rằng, mình mới là dòng đích, mới thật đáng giữ ngôi
vua, nhân khi Triệu Việt Vương già yếu, Lý Phật Tử đã lập
mưu lừa đảo rồi đánh bại Triệu Việt Vương, giành toàn
quyền kiểm soát lãnh thổ. Thế nước bị suy yếu, quân Tàu
nhân đó lại kéo sang đánh. Nước Việt lại thành châu quận
của Tàu.
...
Gần 500 năm sau, khi đế chế Trung Hoa bị suy yếu, rối loạn,
dân Việt lại nổi lên giành quyền độc lâp tự chủ. Trải
qua những biến động thăng trầm của các chính quyền Khúc,
Dương, Ngô, Đinh, Tiền Lê, đến khi Lý Công Uẩn lên ngôi
tiếp bước theo con đường sáng của Nam đế Lý Bôn thuở
trước chuyển kinh đô ra Đại La và đổi tên là Thăng Long,
lấy Phật giáo làm nền tảng tư tưởng chính thống. Từ ấy,
thế nước ổn định và ngày càng đi lên phát triển rực rỡ
huy hoàng.
Các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần đều có sự chuyển đổi
hoán vị theo lề thói ai thực giỏi và được quần hùng bái
phục thì lên ngôi chứ không câu nệ truyền ngôi chỉ có theo
tộc họ. Các triều đại này cũng vẫn dùng tinh hoa tri thức
Trung Hoa trong đào tạo nhân tài cũng như trong tổ chức quản
lý và bảo vệ quốc gia. Thế nước cũng nhờ đó mà thịnh
trị và giữ được độc lâp tự chủ liên tục suốt gần 500
năm (910 - 1406).
Nhưng rồi, sai lầm lại lặp lại khi từ cuối triều Trần lề
thói Trung Hoa ảnh hưởng lan tràn khắp từ triều nội đến
ngoài dân chúng, vua Trần Nghệ Tông cố dẹp mà không được.
Cũng như các triều đại khác, Trần triều rồi cũng suy bại,
đó là lẽ tự nhiên. Tiếc rằng, khác với các lần trước -
lực lượng kế nghiệp hoán vị thường là nghiệp võ (Lê
Hoàn, Lý Công Uẩn) hay võ kết hợp kinh tế (Trần gia), kế
nghiệp hoán vị triều Trần lại là một ông quan văn với tham
vọng, mưu mô tranh quyền đoạt vị thì nham hiểm có thừa
nhưng tài kinh bang tế thế, chính trị yên dân và sự dũng cảm
xông pha trận mạc thì vừa yếu lại vừa thiếu. Giặc Trung Hoa
nhân khi Việt suy yếu lại kéo sang, Việt lại thua và bị đô
hộ 20 năm, thành quả kinh tế - văn hóa rực rỡ huy hoàng dựng
xây suốt năm thế kỷ bị xóa sạch.
...
Sau khi kháng chiến chống quân Minh (Trung Hoa) giành độc lập
tự chủ thành công (năm 1427 CN). Triều Hậu Lê đã không dùng
văn hóa Phật giáo làm tư tưởng chính thống của quốc gia.
Thay vào đó lại dùng Nho giáo làm tư tưởng chính thống. Lễ
nhạc cung đình cũng học tập, bắt chước như hệt Trung Hoa
mặc cho Nguyễn Trãi đã hết mình can ngăn.
Nho giáo đã giúp triều Hậu Lê đạt được những thành công
võ bình văn trị, đặc biệt hoành tráng dưới triều Lê Thánh
Tôn. Tuy nhiên, lịch sử cũng đã chứng minh rõ ràng rằng Nho
giáo đã không giúp được Uy Mục đế, một người cháu nội
của Lê Thánh Tông, trở thành minh quân nhân từ, trái lại ác
như quỷ dữ. Nho giáo cũng không giúp được một người cháu
nội khác của Lê Thánh Tông là Tương Dực đế tránh khỏi
thói hoang dâm, xa hoa, lãng phí. Nho giáo cũng không giúp được
vợ của Lê Thánh Tông - hoàng thái hâu Ngọc Huyên thoát khỏi
cái chết tức tưởi bởi chính cháu nội mình (Uy Mục đế
giận bà nội không ủng hộ mình làm vua. Sau khi lên ngôi đã
đánh thuốc độc giết bà nội). Nho giáo cũng không giúp
được Khổng Nho tiến sĩ Nguyễn Trãi tránh khỏi tội tru di ba
họ, thảm án lớn nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam tính
cho đến thời điểm này.
Suốt mấy trăm năm sau đó, xã hội Việt chịu ảnh hưởng
nặng nề văn hóa Trung Hoa, dùng Nho giáo làm tư tưởng chính
thống cũng là quãng thời gian người Việt luôn chia rẽ, bất
hòa. Thế nước không mạnh lên được, không làm sao thoát
được khỏi sự kiềm tỏa của đế chế Trung Hoa.
...
Cuối thế kỷ 19, người Pháp bảo hộ Việt Nam, gạt bỏ sự
kiềm tỏa của Trung Hoa đối với nước Việt, đồng thời,
văn hóa Âu-Tây từng bước đả lui lề thói Nho Tàu. Đặc
biệt từ sau năm 1945, với khẩu hiệu <em>"trí phú đia hào đào
tận gốc trốc tận rễ"</em>, nền nếp văn hóa ảnh hưởng Nho
Tàu bị văn hóa cộng sản quét sạch. Khoảng thời gian này
cũng là khoảng thời gian tinh thần Việt thăng hoa, ý chí Việt
mạnh mẽ, tâm tính Việt dũng cảm. Người Việt giành được
độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.
Nhưng cái lề thói mà dân Việt đã gắn bó ngàn năm thì không
dễ gì bỏ được, cái tham vọng muôn đời muốn nuốt Việt
Nam của đế chế Trung Hoa vì thời thế tạm ẩn chứ cũng
không triệt hẳn đi. Khi có điều kiện là nó lại trở lại
kiềm tỏa người Việt, lấn chiếm lãnh thổ Việt. Từ sau năm
1990, văn hóa Trung Hoa ngày càng thâm nhập và thống trị xã
hội Việt. Cùng với đó, Việt Nam luôn bị Trung Hoa lấn ép,
ức hiếp. Chính trường bị thao túng; dân chúng bị đánh
đập, trấn lột; lãnh thổ bị cướp đoạt, thu hẹp; tài
nguyên bị vơ vét; môi trường bị tàn phá.
Cũng từ khi lề thói Nho giáo sống lại và văn hóa Tàu ảnh
hưởng mạnh mẽ trong xã hội Việt Nam thì cũng là lúc con
người Việt Nam ngày càng yếu hèn, quan chức ngày càng tha hóa
đến vô liêm sỉ, giáo dục xuống cấp, tham nhũng lạm quyền
lan tràn và kỷ cương luân lý xã hôi rối loan (con giết cha,
cháu giết bà, mẹ bán con, chị lừa em .v.v...).
Đến bây giờ, Trung Hoa lộ nguyên hình là kẻ thù nguy hiểm
nhất của Việt Nam. Văn hóa Trung Hoa, lề thói Nho Tàu là thứ
rất độc hại đối với người Việt tương tự như lòng lợn
ôi, chân gà thối vậy.
<h2>* * *</h2>
<h2>III - Vận dụng tư tưởng của Vạn Xuân Nam đế Lý Bôn
trong thời đại ngày nay</h2>
Điểm lược lịch sử dân tộc suốt 15 thế kỷ như trên cho ta
thấy rõ những vấn đề căn bản mà Lý Bôn và nhà nước Vạn
Xuân đã thiết lập vẫn còn nguyên giá trị cho đến tận bây
giờ. Để giữ vững độc lâp dân tộc và toàn vẹn chủ
quyền lãnh thổ, để thoát khỏi ảnh hưởng của đế chế
Trung Hoa và phát triển đi lên, rõ ràng, chúng ta rất nên vận
dụng sáng tạo những nguyên tắc cơ bản mà Lý Bôn đã làm
từ gần 1500 năm trước. Cụ thể là:
1/ Kiên quyết tách rời, không lưu luyến vấn vương gì với
cái quá khứ ảnh hưởng Trung Hoa nữa.
2/ Xây dựng một nền văn hóa mới trên cơ sở kết hợp nền
nếp văn minh khoa học kỹ thuật với văn hóa tâm linh tổng hòa
giữa văn hóa Việt truyền thống (thờ tổ tiên, thờ mẫu,
thờ các anh hùng dân tộc, người có công với nước với
làng) và văn hóa Phật giáo, văn hóa Ki-tô giáo. Kiên quyết bỏ
lề thói Nho Tàu đồng thời tích cực khai thác tinh hoa tri thức
Trung Hoa, kết hợp cùng tri thức văn minh khoa học kỹ thuật
để tạo ra sản phẩm trí tuệ mới.
3/ Giữ nguyên các cơ quan đầu não của quốc gia ở trong phạm
vi giữa sông Hồng, Hồ Tây và sông Tô Lịch.
4/ Tăng cường liên thủ chặt chẽ với các nước ASEAN.
5/ Việt nam yếu, trong tình hình hiện nay, để có thể giành
thế chủ động phá tan sự o ép của Trung Hoa thì chắc chắn
không còn đường nào hay hơn là liên kết với các nước Âu,
Nga, Mỹ, Ấn, Nhật, thật lòng tham gia vào một liên minh bao vây
kiềm chế sức mạnh Trung Hoa đang dần hình thành do Mỹ khởi
xướng và đứng đầu.
Tráng Việt - Vĩnh Phúc tháng 4 năm 2012
<strong>Trần Phúc Tâm</strong>
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/12257), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét