nộ có lý khi đọc những dòng sau đây:
"<em>Nhân danh tổ quốc họ phát động cuộc chiến thôn tính
miền Nam làm hàng triệu người chết và đất nước kiệt
quệ. Tổ quốc đồng nghĩa với chiến tranh và chết chóc.</em>
<em>Toàn thắng rồi, tổ quốc xã hội chủ nghĩa quên phắt cam
kết thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc. Tổ quốc bỏ
tù và hạ nhục hàng triệu người. Tổ quốc đánh tư sản,
tống cỗ con cái ngụy quân, ngụy quyền ra khỏi trường học
và lùa đi vùng kinh tế mới. Tổ quốc khống chế và hăm dọa
bằng công an thành, công an tỉnh, công an huyện, công an
phường. Biết dân chúng không còn chịu đựng được nữa và
muốn bỏ nước ra đi, tổ quốc đứng ra tổ chức vượt biên
bán chính thức để lấy tiền chuộc mạng của những người
muốn chạy trốn nanh vuốt của mình. Tổ quốc hành động như
bọn giặc cướp. Đến khi bị dư luận thế giới lên án dữ
dội vì hành động bỉ ổi này, tổ quốc dẹp luôn đợt
vượt biên bán chính thức và dĩ nhiên không trả lại tiền.
Tồ quốc đểu cáng và lật lọng.</em>
<em>Đối với những người ra đi, tổ quốc là sóng gió, hải
tặc, là cái chết trong bụng cá, may mắn hơn là những ngày ê
chề trong những trại tập trung trước khi tìm được một quê
hương mới. Tổ quốc là một dĩ vãng cần quên đi. Đối với
những người ở lại, tổ quốc đổi tiền mấy lần để
cướp giật, tổ quốc sách nhiễu từng ngày. Tổ quốc nói
trắng cũng được, nói đen cũng xong, cấm rồi lại cho phép,
cho phép rồi lại cấm, muốn bắt hay tha tùy ý, người dân
phải chịu đựng hết. Vì tổ quốc có súng</em>" (1).
Để biện minh cho bản cáo trạng nặng nề vô lối đó, Nguyễn
Gia Kiểng giải thich:
"<em>Người dân có thể cảm nhận về tổ quốc thế nào tuỳ
ý, nhưng họ chỉ tiếp xúc thực sự với tổ quốc qua các
chính quyền</em>" (1).
Làm gì có sự tách bạch hoàn toàn giữa tiếp xúc với cảm
nhận trong khi cảm nhận chỉ là hệ quả tổng hòa của tiếp
xúc.
Thế mà, cùng cảm nhận và tiếp xúc nhưng, Tổ Quốc khi hiện
lên trong tâm khảm người ta với "<em>Những cánh đồng quê
chẩy máu/ Dây thép gai đâm nát trời chiều</em>" thì vẫn nghe
"<em>Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất/ Những buổi ngày xưa
vọng nói về</em>" kia mà.
Tổ quốc, "<em>Khi ta ở chỉ là nơi đất ở (dẫu trong ngày
ta ở có bao nhiêu điều phũ phàng, chua xót, thì)/ Khi ta đi
đất bỗng hóa tâm hồn</em>" kia mà.
Và, trong lòng ta, "<em>Xưa yêu quê hương (đâu chỉ vì) có chim
có bướm/ (mà còn vì) có những ngày trốn học bị đòn
roi</em>" kia mà.
Tổ quốc, ngay khi tưởng như: "<em>Tuấn kiệt như sao buổi
sớm/ Nhân tài như lá mùa thu</em>" thì vẫn có những
"<em>Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về
Đông/ Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía
tả</em>" (2) kia mà.
Phải chăng chỉ NGK đã cả giận mất khôn!
Tuy nhiên, nỗi bất bình dường như tiêu tan khi ta nghe ông
tâm sự:
"<em>Trước hết mỗi người Việt nam phải ăn năn và sám
hồi. Ăn năn vì chúng ta, mỗi người chúng ta, đã ngây thơ coi
tổ quốc như là vô tận, không thể hao mòn và đã không quan
tâm làm cho tổ quốc ngày một vững mạnh hơn và đáng yêu
hơn. Hay vì chúng ta đã khờ khạo nghĩ rằng mình có thể tự
giải quyết các vấn đề cá nhân của mình bằng những giải
pháp cá nhân như luồn lách, móc ngoặc, hối lộ, bỏ nước ra
đi, v.v...</em>" (1)
Đấy không chỉ là lời "hiệu triệu" mà còn là lời tự
phê rất nghiêm khắc vì chính NGK "<em>đã khờ khạo nghĩ
rằng mình có thể tự giải quyết các vấn đề cá nhân của
mình bằng những giải pháp cá nhân như… bỏ nước ra
đi</em>" (1).
Phải nói NGK là người dũng cảm và chân thành. Tuy nhiên, tai
vạ thường đến với ông chỉ vì ông chủ trương:
"<em>Quan niệm của tôi là không nhắc lại những gì mình nghĩ
là đa số đã đồng ý để chỉ tập trung thảo luận về
những gì mà nhiều người chưa đồng ý và nhất là những gì
mà đa số không chấp nhận. Tôi nghĩ nên cố gắng đề nói ra
những điều mới, và nếu trong mười điều mới nói ra có
tới chín điều sai và chỉ một điều đúng thì cũng còn có
ích hơn là nói mười điều đúng cả mười nhưng đều là
những điều đã biết. Khi không chấp nhận một ý kiến,
người ta hay cho rằng ý kiến đó là sai, là dở. Nhiều độc
giả sẽ thấy nhiều điều nói ra trong những trang sau là sai và
đánh giá tác giả là dở. Tôi chấp nhận sự kiện đó. Tôi
cho rằng nói ra những điều mình nghĩ là đúng dù biết rằng
sẽ có nhiều người cho là sai và đánh giá thấp mình là một
thái độ khiêm tốn. Đó là cách khiêm tốn của tôi</em>" (1).
Có lẽ thần tượng của NGK là Socrates. Theo truyền thuyết,
Socrates đã tuyên bố khi phiên tòa Athens kết thúc rằng:
"<em>Bây giờ chúng ta chia tay, quí vị để tiếp tục sống còn
tôi để chết. Ai đúng chỉ có Trời biết, nhưng một cuộc
đời không suy luận là một cuộc đời không đáng sống</em>".
Dường như NGK có ý thức phấn đấu làm một trí thức kiểu
như thế, và thực tế ông đã là một trí thức tên tuổi, theo
cái định nghĩa của chính ông:
"<em>Tóm lại nếu phải định nghĩa người trí thức thì ta
có thể nói: trí thức là những người do được đào tạo hay
tự học đã đạt tới một trình độ hiểu biết và lý luận
trên trung bình, quan tâm tới những vấn đề chính trị và xã
hội, suy nghĩ một cách lương thiện, biết tự đặt cho mình
những câu hỏi và tìm câu trả lời của mình cho những câu
hỏi đó và sẵn sàng thách thức mọi thế lực để bảo vệ
quan điểm của mình. Người trí thức phải suy nghĩ một cách
độc lập và do đó không thể chấp nhân một sự chỉ đạo
tư tưởng nào cả</em>" (6).
Cho nên tôi đồng ý với nhà văn Nhật Tuấn khi ông đánh giá:
"<em>Nhưng nhìn chung, tác phẩm Tổ Quốc Ăn Năn đã đưa ra
nhiều cách nhìn táo bạo và đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ.
Có những phát hiện của ông, có thể mang tác dụng uốn nắn
được cách nhìn, cách suy nghĩ, cách hành xử của một số
người. Nhưng cũng không thiếu những điều sẽ làm cho người
đọc phẫn nộ. Bởi vì ông đã đi quá đà khi đưa ra nhiều
kết luận liều lĩnh dựa trên những tiền đề chưa đủ tầm
vóc để có sự thuyết phục</em>" (3).
Tôi ngạc nhiên khi thấy NGK dám bác bỏ một nhận định đã
thành chính thống rằng Nhật Bản đã vượt lên trên Phương
Đông được là nhờ Minh Trị Thiên hoàng, và đã phải ngẫm
nghĩ khi ông suy luận:
"<em>Xã hội Nhật do các lãnh chúa thống trị dựa trên giai
cấp hiệp sĩ. Các lãnh chúa và các hiệp sĩ cực kỳ kiêu căng
không thèm hòa trộn với dân chúng mà để mặc quần chúng tự
tổ chức lấy cuộc sống của mình, miễn là nộp đủ thuế.
Trong tình trạng ấy, quần chúng Nhật tuy ở sát nhưng thực ra
lại sống rất xa giai cấp thống trị. Họ không thể tổ chức
thành chính quyền nếu không muốn lãnh búa rìu và họ phải
tìm cách sinh sống với nhau trong đồng thuận để tránh những
can thiệp của bọn hiệp sĩ. Một cách tiệm tiến và thầm
lặng, một sinh hoạt tự do đã hình thành giữa quần chúng
với nhau, dưới sự giám sát từ xa của các lãnh chúa. Đó là
lý do khiến xã hội Nhật đã phát triển, rồi chính sự phát
triển này đã tạo ra áp lực buộc giới cầm quyền Nhật
nhượng bộ dần dần</em>" (4).
Tôi thường tâm niệm cái điều nhiều người đến nay vẫn
tâm niệm rằng: Chủ nghĩa Marx ít ra cũng còn được cái lõi
Biện chứng pháp, nhưng NGK thì xổ toẹt:
"<em>Tuy không định nghĩa một cách chính xác thế nào là một
tiền đề, một phản đề và một tổng hợp nhưng Hegel còn ý
thức được sự mơ hồ của mình và biết dừng lại ở chỗ
chỉ sử dụng biện chứng để giải thích lịch sử. Marx đã
liều lĩnh hơn, coi vai trò của biện chứng không phải chỉ là
để giải thích mà còn là để thay đổi lịch sử, nghĩa là
để hành động</em>" (5).
Tôi không đủ trình độ phán định khi nghe ông lên án:
"<em>Điều thực sự mới của Marx so với Hegel là về mặt
đạo đức, Hegel tuy không bàn tới đạo đức nhưng cũng không
phủ nhận các giá trị đạo đức. Khi Hegel nói rằng kết quả
của mỗi giai đoạn biện chứng đều là một tình trạng hoàn
chỉnh hơn trước, khái niệm "hoàn chỉnh" còn có một ý
nghĩa bởi vì các giá trị đạo đức vẫn còn đó để có
thể được sử dụng như những tiêu chuẩn đánh giá, Marx trái
lại phủ nhận hoàn toàn các giá trị đạo đức như là sản
phẩm của giai cấp thống trị; như vậy khi Marx nói rằng mỗi
kết thúc của một giai đoạn đấu tranh giai cấp – từ xã
hội cộng sản nguyên thủy đến xã hội cộng sản qua các
chế độ nô lệ, quân chủ, phong kiến, tư bản – đều là
những tiến bộ, khái niệm "tiến bộ" này hoàn toàn mơ hồ
vì không có những tiêu chuẩn để định nghĩa.</em>
<em>Đó là một sự tùy tiện tuyệt đối, với hậu quả là
kẻ có bạo lực có thể làm tất cả. Mọi đảng cộng sản
vì thế đều có bản chất khủng bố, đó là lý do chính tạo
ra sức mạnh của chúng. Cũng nên lưu ý là sự phủ nhận các
giá trị đạo đức của Marx đã đạt tới mức độ lạnh
lùng dễ sợ. Marx không coi việc giai cấp thống trị bóc lột
giai cấp bị trị là một tội ác, trái lại ông coi nó là một
lẽ tự nhiên, cũng tự nhiên như việc giai cấp bị trị phải
vùng dậy tiêu diệt giai cấp thống trị </em>(5).
"<em>Triết lý Mác-Lênin quan trọng ở chỗ nó tạo ra cả một
văn hoá và một tâm lý cộng sản. Biện chứng duy vật là một
lối lý luận rất sơ đẳng. Nó tạo ra ảo tưởng rằng ngay
cả những người vô học cũng có thể lý luận trên tất cả
mọi vấn đề, và do đó đảm nhiệm những vai trò lãnh đạo,
nếu biết biện chứng duy vật. Từ đó hình thành một tâm lý
võ biền coi thường kiến thức. Chính Lenin cũng đã có tâm lý
này</em>" (5)
Tôi ngỡ ngàng để thích thú trước những phát hiện nhờ sức
tổng hợp khái quát cao:
"<em>Trong suốt lịch sử của phong trào cộng sản thế giới
chưa hề có một đảng cộng sản nào thắng một cuộc bầu
cử lương thiện nào. Cũng chưa hề có một đảng cộng sản
nào đem lại phồn vinh cho một quốc gia nào. Không hề có một
phát minh hay sáng tác thực sự đáng kể nào trong các chế độ
cộng sản, một vài tác phẩm văn học lớn đều là của
những người đối lập</em> (7).
"<em>Ở mọi nơi mà nó đã được thử nghiệm chủ nghĩa
cộng sản đã chỉ là nghèo khổ, khủng bố và tội ác… Chế
độ cộng sản khác với mọi chế độ bạo ngược đã có
trong lịch sử thế giới, nó là chế độ duy nhất bách hại
và tàn sát nhân dân của chính mình. Tuyệt đại đa số nạn
nhân của chủ nghĩa cộng sản là những người dân của các
chế độ cộng sản </em>(7).
Và đây nữa:
"<em>Chế độ này chắc chắn sẽ bị đào thải. Không phải
chỉ vì đàn áp và bóc lột tự nhiên làm nảy sinh ra chống
đối. Có những chế độ bạo ngược kéo dài rất lâu. Nó sẽ
sụp đổ nhanh chóng hơn vì một lý do khác. Đó là vì không
một đoàn thể nào có thể tồn tại nếu không có một mục
tiêu chung hoặc những giá trị đạo đức chung. Đảng cộng
sản không có cả hai. Nó sẽ nhanh chóng trở thành một đấu
trường hoang dại. Chính những đảng viên cộng sản sẽ xâu
xé nhau</em>" (5).
Và đây nữa:
"<em>Coi nhẹ các giá trị dân chủ và nhân quyền còn là một
sai lầm lớn nếu hoà bình là điều cần được trân quý
nhất. Trong lịch sử thế giới các cuộc chiến đã chỉ xảy
ra hoặc giữa các nước độc tài với nhau hoặc giữa một
nước độc tài và một nước dân chủ. Chưa có trường hợp
hai nước dân chủ chiến tranh với nhau. Dân chủ và nhân quyền
là nền tảng của hoà bình</em> (8).
Song, đôi khi tôi cũng đã sửng sốt trước sự hồ đồ và
tự mâu thuẫn của NGK:
"<em>Phải nhìn nhận rằng trên thế giới này khó tìm ra một
dân tộc bạc nhược như vậy. Mà có phải con người Việt Nam
bạc nhược đâu. Cũng những con người ấy khi được tổ
chức và chỉ huy đã đánh bại quân Tống, quân Nguyên, quân
Thanh, đã từng chiến thắng vẻ vang tại Điện Biên
Phủ</em>" (4).
Không thể không bảo NGK là thiếu chín chắn khi dám tuyên
dương:
"<em>Tôi biết hai ký giả Pháp khá nổi tiếng. Họ không phải
là những nhà văn nhà báo lớn nhất của nước Pháp, nhưng
trình độ nhận thức của họ cao hơn hầu hết các chính trị
gia Việt Nam. Đặc điểm chung của họ là rất tha thiết đối
với đất nước và con người Việt Nam, do đó họ hiểu biết
đất nước Việt Nam hơn hẳn các chuyên gia về Việt Nam
khác</em>" (4).
Một trong hai ký giả đó tên là Michel Tauriac, đã nói rất lếu
láo:
"<em>Chế độ cộng sản Việt Nam chẳng mạnh gì, vấn đề
là người Việt Nam không có ý chí tranh đấu gì cả, người ta
có cảm tưởng đó là một đàn cừu</em>" (4).
Gần đây NGK còn phóng tay mạc mặt cho chủ nghĩa cá nhân:
"<em>Chủ nghĩa cá nhân coi mục đích của tổ chức xã hội,
trong đó quan trọng nhất là chính quyền, là tạo điều kiện
để mỗi cá nhân xây dựng hạnh phúc của mình. Nói cách khác,
cá nhân là cứu cánh, mọi tổ chức trong xã hội kể cả nhà
nước chỉ là phương tiện … Bản tuyên ngôn Liên Hiệp Quốc
1948 chỉ qui định những bổn phận của nhà nước đối với
cá nhân chứ không qui định một bổn phận nào của cá nhân
đối với nhà nước. Tài liệu này mặc nhiên coi cá nhân là
giá trị cao nhất; tổ chức xã hội, trong đó có nhà nước,
có mục đích sau cùng là phục vụ cá nhân; nó có thể được
coi như là bản tuyên cáo của chủ nghĩa cá nhân và đem lại
cho chủ nghĩa cá nhân một nội dung cụ thể</em>" (15)
Chủ nghĩa cá nhân biểu hiện tư tưởng triết học Max Stirner
và Nietzche. Nó đã góp phần giải phóng con người khỏi những
xiềng xích của chủ nghĩa phong kiến và của giáo hội cổ
đại. Hết cái sứ mệnh giai đoạn lịch sử, cá nhân chủ
nghĩa hoặc dẫn đến vô chính phủ, hoặc dẫn đến độc tài.
Ở đây, khi NGK nói: "<em>Cá nhân phải được hiểu là con
người được nhìn một cách độc lập với tư cách thành viên
của một tập thể nào đó. Con người này vừa trừu tượng
vừa phổ cập, vì không là riêng ai cả nhưng lại hiện diện
trong mọi người, nó được coi là giá trị cao nhất. Mỗi cá
nhân là một thể hiện cụ thể của con người này…</em>"
(15) thì đối tượng nói đến không phải là cá nhân cụ thể
từng người mà là con người chỉ mang đặc tính bất biến
của con người mà ta phải viết hoa: Con Người. Con Người này
là sự trừu tượng hóa con người, siêu thoát khỏi mọi ràng
buộc của kết cấu chính trị, xã hội như: mầu da, dân tộc,
tôn giáo, quốc tịch…
Tuyên ngôn Nhân quyền đặt vấn đề đối với "Con Người"
(chứ không phải cá nhân), nhà nước có trách nhiệm với "con
người" trong quốc gia mình (chứ không phải với từng cá
nhân)
Song, vì Tuyên ngôn Nhân quyền đặt vấn đề đối với "Con
Người" nên các nhà nước đã ký vào Tuyên ngôn không thể
ngụy biện rằng họ chỉ cần ban phát quyền "con người".
(Năm 1999 khi thấy tôi công khai xiển dương "Nhân quyền cao
hơn chủ quyền", ông Đỗ Mười - tổng bí thư ĐCSVN lúc ấy
- đã ra lệnh tống tù tôi!)
Như tất cả những ai vượt thoát được khỏi mụ
mị lú lẫn do bị tuyên truyền nhồi sọ quá lâu, NGK chua xót
ngẫm lại nguồn cơn những cuộc chiến tranh đã xẩy ra trên
đất nước Việt Nam suốt thế kỷ qua:
"<em>Mọi người đều biết nó không cần thiết và hơn nữa
còn là một thảm kịch cho đất nước nhưng nó đã diễn ra vì
độc lập không phải là mục tiêu của đảng cộng sản, lực
lượng áp đảo lúc đó. Độc lập chỉ là một biện minh,
mục tiêu thực sự của đảng cộng sản là áp đặt chế độ
cộng sản. Mục tiêu này không chấp nhận được cho nhiều
người Việt Nam và cũng là một thách thức đối với khối
dân chủ tư bản, do đó chiến tranh là điều không tránh khỏi.
Ngày nay, khi chủ nghĩa cộng sản đã hiện nguyên hình như một
sai lầm đẫm máu và hơn thế nữa một chủ nghĩa tội ác về
bản chất, cuộc chiến này phải bị lên án, ít nhất như một
sự cuồng dại… Họ đã hành động vì chủ nghĩa cộng sản,
độc lập dân tộc và quyền lợi đất nước không phải là
động cơ của họ</em>" (9).
"<em>Cuộc chiến 1954 – 1975, mà đảng cộng sản gọi là
cuộc chiến tranh chống Mỹ lại càng vô lý hơn. Đứng trên
quan điểm dân tộc, nó là một sự ngu xuẩn tuyệt đối. Mỹ
hoàn toàn không phải là một đế quốc thực dân, trái lại
còn là một cường quốc chống chủ nghĩa thực dân. Từ ngày
lập quốc họ chưa hề đánh chiếm để sáp nhập hay thống
trị một nước nào. Mỹ là một cường quốc không gian, hàng
hải và thương mại cần thị trường chứ không cần thuộc
địa. Cho tới nay họ vẫn từ chối sáp nhập Porto Rico dù
không ai, kể cả người Porto Rico, chống lại; họ trả độc
lập cho Philippines sau khi mua lại quần đảo này từ Espana. Sự
hiện diện của Mỹ tại Việt Nam đáng lẽ đã phải được
coi là một may mắn lớn, nó đem lại cho chúng ta sự hợp tác
tận tình của cường quốc mạnh nhất, giầu nhất, tân tiến
nhất và sáng tạo nhất thế giới mà không hề có nguy cơ mất
nước. Cuộc chiến này đã chỉ xảy ra vì quyền lợi dân tộc
không phải là ưu tư của đảng cộng sản. Ưu tư của họ là
áp đặt chế độ cộng sản trên cả nước</em>" (9).
Tuy nhiên, khác với những ai hận thù mù quáng, giận cá chém
thớt, căm ghét tất cả những người từng ở bên kia chiến
tuyến, dù là đồng bào mình, NGK thật thấu tình, thật bao
dung:
"<em>Phải nói thật rõ: đại bộ phận những người đã
chiến đấu dưới lá cờ đỏ sao vàng trong cuộc chiến này
đã chiến đấu vì lòng yêu nước, họ phải được tôn vinh;
những người phải bị lên án là những người đã quyết
định cuộc chiến này</em>" (9)
"<em>Chúng ta vẫn không được quên là đã có hàng trăm nghìn
người lương thiện, yêu nước và dũng cảm đã hy sinh dưới
lá cờ vàng ba sọc đỏ trong niềm tin rằng mình đang chiến
đấu cho một tương lai Việt Nam tự do và dân chủ. Cờ vàng
vì vậy phải được tôn trọng, không phải vì những người
đã tạo ra nó, hay vì chế độ Việt Nam Cộng Hòa, mà vì
những người đã hy sinh cho đất nước. (Một lý luận tương
tự cũng phải được áp dụng cho lá cờ đỏ sao vàng của
chế độ cộng sản Việt Nam)</em>" (10).
"<em>Hãy trả lại cho lá cờ vàng ba sọc đỏ chỗ đứng
đúng đắn của nó. Nó có thể có chỗ đứng trong gia đình
để ghi nhớ một quãng đời. Đối với nhiều người, trong
đó có kẻ viết bài này, nó là kỷ vật của một ước vọng
ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản và xây dựng một nước Việt
Nam có tự do và dân chủ, có chỗ đứng và tiếng nói ngang nhau
cho mọi người và được quản trị một cách hợp lý. Giấc
mơ dù không thành nhưng vẫn đáng tự hào. Chỗ đứng của cờ
vàng là chỗ đứng của một kỷ niệm của một giai đoạn
lịch sử đau buồn vừa phải quên vừa phải nhớ. Nhớ đến
những người đã hy sinh vì đất nước, nhớ đến những nạn
nhân của cuộc chiến, nhớ để lịch sử đừng lặp lại. Và
quên đi những thù hận đã tàn phá đất nước và còn có thể
giam hãm chúng ta trong chia rẽ và bất lực</em>" (10).
Ông cũng tỏ ra thật khách quan, thật công tâm, không chỉ thấu
tình mà còn đạt lý:
"<em>Chúng ta có thể, và phải, tôn trọng cờ vàng vì những
người đã hy sinh dưới lá cờ này, nhưng không phải vì thế
mà gán cho nó một ý nghĩa mà trong suốt thời gian tồn tại nó
chưa bao giờ có, nghĩa là dùng nó làm biểu tượng cho cuộc
đấu tranh vì dân chủ. Nếu coi cờ vàng là tiêu biểu cho dân
chủ thì phải hài lòng với một thứ dân chủ giả dối và
bệnh hoạn. Cờ vàng càng không thể dùng làm biểu tượng cho
cuộc đấu tranh cho dân chủ vì một lý do khác: cuộc đấu
tranh nào cũng đòi hỏi ý chí, quyết tâm, lòng tự hào và lòng
tin vào thắng lợi, do đó không thể lấy lại lá cờ của một
chế độ bạc nhược đã thất bại và đầu hàng</em>" (10).
"<em>Vả lại, trên thực tế, cờ vàng cũng chưa bao giờ là
một quốc kỳ Việt Nam mà chỉ là cờ của một trong hai phe
trong một cuộc nội chiến, cũng tương tự như cờ đỏ sao
vàng trước năm 1975, nhưng với một sự chính đáng kém hẳn
(cờ đỏ sao vàng vào lúc ra đời đã được hầu hết mọi
thành phần dân tộc nhìn nhận)</em>" (10).
Không chỉ tỏ ra sáng suốt khi đứng nhìn hai đại khối dân
tộc đã từng chia thành địch thủ mà ông còn rất thấu tình
khi nhìn vào trong lòng đảng Cộng sản Việt Nam:
"<em>Mà đảng cộng sản cũng không phải là của hai triệu
đảng viên cộng sản. Những đảng viên, ngay cả các đảng
viên cao cấp, cũng không tự do hơn người khác, có khi còn bị
trói buộc hơn, càng cao cấp lại càng phải phục tùng đảng
hơn trong lời nói và hành động. Đảng là một cái gì đó
rất vô hình vì không là ai cả, nhưng lại rất cụ thể như
công an, tòa án và nhà tù</em>" (4).
Đây chính là cơ sở hình thành tư tưởng Hòa Giải Hòa Hợp
Dân tộc rất đáng trân trọng của Nguyễn Gia Kiểng.
Tôi tìm đến ông để khai sinh Tập san Tổ Quốc có phần
hướng theo tư tưởng đó.
Trong đấu tranh vì sự nghiệp dân chủ hóa chúng tôi cùng có
mối tâm giao ở chủ trương rằng kích động quần chúng nổi
dậy phải hết sức thận trọng, để bảo vệ quần chúng,
đặc biệt để tránh nguy cơ hy sinh oan uổng những phần tử
tiên phong đầy nhiệt huyết:
"<em>Kêu gọi quần chúng đứng dậy khi chưa có tổ chức sẽ
không được hưởng ứng, như một vài lời kêu gọi vừa
chứng tỏ, mà còn có tác dụng ngược là làm mất lòng tin
của quần chúng vào sự nghiêm chỉnh của phong trào dân chủ,
chưa kể là còn có nguy cơ hy sinh oan uổng những phần tử
nhiệt thành quí hiếm</em>" (11).
Chủ trương "cao biền dậy non" khuyến khích anh em trẻ
trống dong cờ mở, công khai xưng hùng xưng bá khi lực lượng
quá mỏng, thậm chí chưa có gì, là sự dại dột tội lỗi.
Đấu tranh lý luận-tư tưởng dù hết sức khó khăn, phức tạp
vẫn phải làm trước một bước dù vô cùng gian khó, dù phải
kiên trì đến bao lâu. Dù bị hiềm khích dè bỉu là "chính
trị sa lông" thì cũng phải quyết làm vì chính đấy là sứ
mệnh thiêng liêng.
Để giành thắng lợi dứt khoát về mặt tư tưởng và lý
luận Nguyễn Gia Kiểng chủ trương:
"<em>Chúng ta phải đập tan lập luận xuyên tạc cho rằng dân
chủ sẽ đưa tới hỗn loạn. Chúng ta sẽ chứng minh rằng dân
chủ là điều kiện căn bản để bảo đảm không có hỗn
loạn, là phương thức sinh hoạt cho phép xã hội tiến hóa và
đổi mới không ngừng trong trật tự.</em>
<em>Chúng ta phải đập tan lập luận cho rằng muốn phát triển
cần có kỷ luật và muốn có kỷ luật cần hy sinh dân chủ,
giới hạn tự do và nhân quyền.</em>
<em>Chúng ta phải đập tan lập luận cho rằng xã hội phương
Đông khác với xã hội phương Tây, và do đó không thể chấp
nhận những giá trị của phương Tây như tự do cá nhân, dân
chủ và nhân quyền. Chúng ta cần phơi bày sự sai trái của
lập luận cho rằng các giá trị văn hóa châu Á có lợi cho
phát triển hơn các giá trị văn hóa phương Tây.</em>
<em>Chúng ta cũng cần phải cực lực bác bỏ một thứ "chủ
nghĩa kinh tế" mà một số chính quyền muốn che dấu quyền
lực độc tài, trong đó có Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa, đang
lấy làm lý cớ để phủ nhận hoặc giới hạn tự do, dân
chủ và nhân quyền.</em>
<em>Một cố gắng khác, rất quan trọng, là chứng minh cho những
đảng viên cộng sản và cán bộ của nhà nước còn đang phân
vân và ngờ vực, rằng họ hoàn toàn không có lý do chính đáng
nào để lo ngại sự cáo chung của chế độ độc tài đảng
trị cả. Trái lại họ còn có mọi lý do để vui mừng trước
những thắng lợi của dân chủ. Danh dự, nhân phẩm và những
quyền lợi hợp pháp của họ sẽ được tôn trọng</em>" (12).
Tôi gọi công cuộc này là đấu tranh cải tạo nhận thức xã
hội. Đấu tranh tư tưởng-lý luận tốt để cải tạo nhận
thức xã hội thật triệt để (trong quàn chúng, trong đảng
viên, trong BCH TƯ, trong Bộ Chính trị…) thì sẽ có diễn biến
hòa bình êm đẹp, chẳng những không cần đổ máu mà cũng
không cần quần chúng nổi dậy.
Nếu vì nhà cầm quyền quá lì lợm ngoan cố, không thể không
nổi dậy thì cũng phải bất thình lình tổng nổi dậy mới
mong giành thắng lợi. Nổi dậy manh mún, lẻ tẻ chỉ tổ làm
mồi cho chính quyền đàn áp, như đã thấy, dễ như trở bàn
tay.
Hô hào chống tham nhũng nhưng chỉ hướng quần chúng trút căm
phẫn lên đầu mấy ông cán bộ xã, cán bộ huyện hay đến
cả trung ương… thì chỉ có biểu tình cỡ trăm, cỡ nghìn
người là cùng, nhưng nếu làm cho quần chúng hiểu chính là
đường lối sai lầm của Đảng đã và đang mở đường và bao
che cho tham nhũng thì quần chúng sẽ hiểu: muốn chống tham
nhũng phải chống Đảng.
Cho rằng đất nước tụt hậu, đời sống đói nghèo, xã hội
đầy tệ đoan … vì đất nước trải qua quá nhiều chiến
tranh do Đảng có công giành độc lập, thống nhất nên dẫu
thế nào đi nữa cũng phải đời đời nhớ ơn Đảng. Nhưng,
nếu làm cho quần chúng hiểu đúng bản chất phi lý, vô nghĩa
của các cuộc chiến đó thì quần chúng ít ra cũng đồng lòng
khẳng định phải có đảng khác có đường lối đúng đắn
hơn.
V.v...
Công tác Tư tưởng-Văn hóa phải làm sao đủ tốt để đạt
được mộng ước của Nguyễn Gia Kiểng, và cũng là của chúng
tôi:
"<em>Mộng ước của mọi người Việt Nam hôm nay là đổi
hướng đi của lịch sử và mở ra một kỷ nguyên của tiến
bộ và hạnh phúc. Đó là một cuộc đổi đời rất lớn.
Nhưng có cuộc đổi đời nào không đòi hỏi một thay đổi
lớn về tâm lý? Nếu biết nhỏ lệ xót thương cho số phận
của đất nước ta, biết dứt khoát tiêu diệt cái bản năng
chiến tranh trong con người của mỗi chúng ta, biết lấy đối
thoại, tương kính, tương nhượng làm căn bản dựng nước
mới là chúng ta đã rút được bài học lịch sử quí giá
nhất và đã vượt được trở ngại kinh khủng nhất</em>"
(13).
Và chúng ta tâm niệm rằng:
"<em>Hạnh phúc của một dân tộc không phải chỉ là lợi
tức trung bình trên mỗi đầu người, càng không phải là tỷ
lệ tăng trưởng 5 hay 10% mỗi năm. Còn những điều cao hơn, và
cao hơn nhiều. Đó là phẩm giá, là quyền được nói và làm
điều mình muốn, là quyền được sống mà không sợ bị bắt
giam vô cớ, được phát triển khả năng của mình mà không
cần đút lót, và được tham dự vào những quyết định quan
trọng cho cộng đồng</em>" (4).
Với tất cả những ưu, khuyết, nhược điểm có trong Nguyễn
Gia Kiêng, tôi vẫn nghĩ như học giả Trương Nhân Tuấn:
"<em>Riêng tôi nhận thấy ông Kiểng là một người yêu nước
nồng nàn. Ông đã cống hiến rất nhiều thời gian trong đời
mình, cống hiến rất nhiều trí tuệ của mình cho đất nước.
Tư tưởng của ông đã được rất nhiều thành phần người
Việt đón nhận. Tổ chức do ông sáng lập (Tập Hợp Dân Chủ
Đa Nguyên) là một tổ chức có tầm vóc, kỳ cựu, có kinh
nghiệm đấu tranh, tập hợp nhiều người có tư cách và tận
tụy với đất nước. Tổ chức của ông Kiểng cũng là một
tổ chức trong sáng, chưa hề gạt gẫm một ai, chưa hề quyên
góp, lem nhem tiền bạc với người nào</em>" (14).
Tiểu sử Nguyễn Gia Kiểng tìm được trên Google như sau:
<div class="special_quote">"<em>Nguyễn Gia Kiểng sinh ngày 8 -11-1942
tại Thái Bình trong một gia đình nông dân, cha và các chú bác
đều là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, một đảng
chống Pháp giành độc lập đã thất bại trong cuộc tổng
khởi nghĩa 1930 với hậu quả là các lãnh tụ chính bị chế
độ thuộc địa Pháp hành quyết. Sau Cách Mạng tháng 8 đảng
CSVN mở đợt khủng bố tiêu diệt VNQDĐ, hai người chú bị
thủ tiêu, cha bỏ trốn...</em>
<em>Trong thời gian tại Pháp Nguyễn Gia Kiểng làm chủ tịch
Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Paris năm 1965 và chủ tịch
Liên Minh Sinh Viên và Công Nhân Việt Nam tại Châu Âu năm 1968.
Ông là người lãnh đạo sinh viên và công nhân Việt Nam có
ảnh hưởng lớn nhất tại Pháp cho đến khi về nước. Về
nước ông làm chuyên viên ngân hàng và dạy môn kinh tế chính
trị tại đại học Minh Đức Sài Gòn rồi làm phụ tá bộ
trưởng kinh tế với hàm thứ trưởng cho đến ngày 30-4-1975.
</em>
<em>… Nguyễn Gia Kiểng viết rất đều trên nguyệt san Thông
Luận và trang Web Thông Luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên
từ hơn hai mươi năm qua chung quanh các chủ đề triết lý chính
trị, kinh tế, vận động dân chủ, và đôi khi lịch sử.
Nguyễn Gia Kiểng đặc biệt chú trọng hô hào cho văn hóa tổ
chức, coi xã hội dân sự với những tổ chức không thuộc
chính quyền như một điều kiên bắt buộc cho tiến trình dân
chủ hóa. Ông là tác giả cuốn sách chính trị bằng tiếng
Việt được đọc nhiều nhất trong những thập niên gần đây:
Tổ Quốc Ăn Năn (đã được Nguyễn Ngọc Phách dịch sang
tiếng Anh: Whence… Whither… Viêtnam?). Dù luôn luôn tự khẳng
định là một người hành động, Nguyễn Gia Kiểng là một
trong những nhà lý luận chính trị có ảnh hưởng nhất Việt
Nam hiện nay và đã đem lại cho tiếng Việt nhiều từ ngữ
chính trị đã trở thành quen thuộc. Tổ chức mà ông lãnh
đaọ, Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên, được coi là tiêu biểu cho
khuynh hướng hoà giải dân tộc.</em></div>
Rút trong cuốn "ĐÊM DÀY LẤP LÁNH"
Nguyễn Thanh Giang
Số nhà 6 – Tập thể Địa Vật lý Máy bay
Trung Văn – Từ Liêm – Hà Nội
Mobi: 0984 724 165
<h2>Ghi chú:</h2>
1- Nguyễn Gia Kiểng – Tổ Quốc ăn năn
2- Bình Ngô Đại cáo
3- Nhật Tuấn – Vài nhận xét về cuốn "Tổ Quốc ăn năn"
của Nguyễn Gia Kiểng
4- Nguyễn Gia Kiểng – Đi tìm một mô thức phát triển đất
nước
5- Nguyễn Gia Kiểng – Chúng ta đang ở giai đoạn hậu cộng
sản?
6- Nguyễn Gia Kiểng – Trí thức là một khái niệm chính trị
7- Nguyễn Gia Kiểng – 1989, thế giới và Việt Nam
8- Nguyễn Gia Kiểng – Chủ nghĩa thực tiễn và trường hợp
Obama
9- Nguyễn Gia Kiểng - 35 năm sau ngày 30-4-1975: Vài khẳng định
cần thiết
10- Nguyễn Gia Kiểng – Tình cảm và chỗ đứng nào cho cờ
vàng?
11- Nguyễn Gia Kiểng – Thân chào và cảm tạ
12- Dự án Chính trị Dân chủ Đa nguyên
13- Nguyễn Gia Kiểng – Mở mắt và nhỏ lệ
14- Trương Nhân Tuấn – Về những "Xét lại" của Nguyễn
Gia Kiểng
15- Nguyễn Gia Kiểng – Vài ghi chú về chủ nghĩa cá nhân
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/12269), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét