Nguyễn Minh Tuấn - Vì sao cơ chế bảo hiến thành công ở Đức?

<div class="boxright200"><img
src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiamorBh30Y9FoMoBqDCFjI5BlAZMtcATXjDpIcrTkoXpiqO1yBJRzYzY6iUX753fYynJvt7BPraxFhyphenhyphen02ddRWTZPbVAnnyxIkxbHxh701fN2OuWFg8Yn9_-lGlY6x9N6kA9iXgdlry1Og/s1600/jpg_law_justice_003.jpg"
/></div>
Trong bài viết <a
href="http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=5038">"Thêm
một lời bàn về thể chế bảo hiến"</a> đăng trên Tạp chí
Tia sáng ngày 29/3/2012, PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa đã chỉ ra rằng
<em>chúng ta có thể dễ dàng vay mượn một mô hình nào đó
giống như một chiếc vương miện vào xứ mình, nhưng vấn đề
đặt ra là liệu vương miện ấy có tỏa sáng quyền uy, có
bảo vệ được dân quyền thực sự được hay không mới là
điều thực sự cần bàn</em>. Tôi hoàn toàn đồng tình và chia
sẻ với những trăn trở này. Cơ chế bảo hiến thực tế chỉ
có thể ra đời và phát huy tác dụng tích cực khi nó được
đặt trong những điều kiện của một bản Hiến pháp thực
sự dân chủ, cùng với những đảm bảo cụ thể về điều
kiện chính trị, kinh tế, xã hội.

Nhiều học giả hiện nay đánh giá cao cơ chế bảo hiến ở
Đức, coi đây là một trong những mô hình thành công trên thế
giới và rất đáng tham khảo đối với Việt Nam. Tuy nhiên câu
hỏi đặt ra là <em>vì sao cơ chế bảo hiến lại có thể thành
công ở Đức</em>, ẩn sau thành công ấy là những điều kiện,
tiền đề nào? Bài viết dưới đây tôi xin chia sẻ quan điểm
cá nhân cùng góp bàn, lý giải về vấn đề này.

Qua tìm hiểu, nghiên cứu, tôi cho rằng sở dĩ cơ chế bảo
hiến ở Đức có thể thành công là do cơ chế này đã hội
tụ được đầy đủ cả ba điều kiện cơ bản sau đây:

<strong><span class="underlined-text">Thứ nhất</span>, các nhà
lập hiến Đức đã đặt cơ chế bảo hiến trong điều kiện
của một chế độ dân chủ bền vững, đồng thời lường
tính trước lộ trình thực hiện</strong>

Không ai đi bảo vệ cái mà mình không mong muốn. Trước khi
đặt ra vấn đề bảo hiến, những nhà lập hiến và người
dân Đức ý thức rất sâu sắc điều mà họ muốn bảo vệ.
<em>Nhân dân Đức là những người thấu hiểu hơn ai hết sự
tàn bạo, phi nhân tính của thể chế độc tài dưới thời
Hitler đã gây ra và họ không muốn điều đó một lần nữa
lặp lại ở trên nước Đức</em>. Cũng chính từ nhu cầu ấy
mà một chế độ dân chủ cần phải được xây dựng và
được bảo vệ, những quyền làm người cơ bản phải được
đảm bảo.

<div class="boxright200"><div class="quotebody"><div class="quoteopen"><img
class="quoleft" src="/misc/quoleft.png"/></div>Việc kiến thiết một
Tòa án hiến pháp liên bang độc lập, bắt nguồn từ nguyên lý
xây dựng nhà nước pháp quyền (Rechtsstaat) ở Đức. Các nhà
lập hiến Đức cho rằng không thể có nhà nước pháp quyền
thực sự nếu như quyền lực nhà nước không bị hạn chế và
không tồn tại một cơ chế phân quyền, kiểm soát, cân bằng
giữa các nhánh quyền lực nhà nước. <img class="quoright"
src="/misc/quoright.png"/> <br class="quoteclear"></div><div
class="quoteauthor"></div></div>

Luật cơ bản của Đức (Grundgesetz - dưới đây viết tắt
là LCB) có hai Điều khoản đặc biệt quan trọng đó là Điều
1 (<em>qui định về nhân phẩm, quyền cơ bản của công dân và
khẳng định rằng các quyền này có hiệu lực trực tiếp,
đồng thời trực tiếp ràng buộc các nhánh quyền lực nhà
nước</em>[1]) và Điều 20 (<em>xác lập các nguyên tắc cơ bản
của Hiến pháp như nguyên tắc nhà nước pháp quyền, dân chủ,
liên bang và nhà nước xã hội</em>[2]). Để đảm bảo về mặt
chính trị - pháp lý, những nhà lập hiến Đức đã <em>khôn
khéo xây dựng một điều khoản vĩnh cửu, đó là Điều 79
khoản 3</em>. Điều khoản này ràng buộc <em>Điều 1 và Điều
20 kể trên là không thể thay đổi khi sửa Luật cơ bản vì
bất cứ lý do nào</em>. Chính thông qua qui định này, chế độ
dân chủ ở Đức đã được bảo vệ và được vĩnh viễn
hóa.

Thực ra không phải ngay sau khi có hiệu lực vào năm 1949
nước Đức đã có ngay một cơ chế bảo hiến hoàn chỉnh.
Phải chờ thêm hai mươi năm sau (năm 1969), kể từ khi Luật cơ
bản có hiệu lực, chế định khiếu kiện Hiến pháp của công
dân tại Điều 93 khoản 1 số 4a LCB mới được bổ sung, nhằm
cụ thể hóa con đường tố tụng Hiến pháp (Rechtsweg) tại
Điều 19 khoản 4 Câu 1 LCB.[3] Sau hai mươi năm, đặc biệt là
sau cuộc đại nhảy vọt về kinh tế và những chuyển biến xã
hội sâu sắc của những năm 1950, 1960, CHLB Đức mới hội tụ
được đầy đủ các điều kiện chín muồi cả về kinh tế
xã hội cũng như về pháp lý để hiện thực hóa đầy đủ
các qui định về bảo hiến.

<strong><span class="underlined-text">Thứ hai</span>, các nhà lập
hiến Đức đã xác định chính xác vị trí pháp lý và qui
định rất rành mạch chức năng, thẩm quyền của Tòa án hiến
pháp liên bang, xác định rõ phạm vi, biện pháp và cách thức
xử lý các hành vi vi hiến</strong>

Việc kiến thiết một Tòa án hiến pháp liên bang
(Bundesverfassungs-gericht) có một vị trí độc lập ở Đức bắt
nguồn từ nguyên lý xây dựng nhà nước pháp quyền
(Rechtsstaat). Các nhà lập hiến Đức cho rằng <em>không thể có
nhà nước pháp quyền thực sự nếu như quyền lực nhà nước
không bị hạn chế, không tồn tại một cơ chế phân quyền,
kiểm soát và cân bằng quyền lực giữa các nhánh quyền lực
nhà nước. </em>

Theo Luật cơ bản, Tòa án hiến pháp liên bang Đức đồng
thời có 2 chức năng. Hai chức năng này <em>tạo nên vị trí
độc lập</em> của Tòa án hiến pháp liên bang trong hoạt động
xét xử.

<em>Chức năng thứ nhất</em>, Tòa án hiến pháp liên bang là
một cơ quan có chức năng xét xử như các Tòa án khác (Theo các
Điều 92, 93, 94, 97 LCB).

<em>Chức năng thứ hai</em>, theo Điều 1 Khoản 1 <em>Luật tòa
án Hiến pháp liên bang</em> (Bundesverfassungsgerichtgesetz - dưới
đây viết tắt là LTAHPLB), Tòa án hiến pháp liên bang là một
thiết chế hiến định (Verfassungsorgan) giống như các thiết
chế khác ở liên bang như Hạ nghị viện (Bundestag), Thượng
nghị viện (Bundesrat), Tổng thống liên bang (Bundespräsident) và
Chính phủ liên bang (Bundesregierung).[4]
<div class="boxright200"><img
src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgKfWKUCfXERTUQ6jN0sz9vFsoeE1KcV-xVvsZSEj05bPBtxwfs56hyKJvXFdtQtkXivf7PkUK_BTh8ltFshSIOlNIdw3xVcxIikh6WNZxUwztXh63a8rHdEyKxppaetjRiM_eXrJWJZGg/s1600/bundesverfassungsgericht_aufbau.jpg"
/><div class="textholder"></div></div>

Theo Điều 2 Khoản 1 và Khoản 2 Luật Tòa án Hiến pháp liên
bang (LTAHPLB),[5] Tòa án Hiến pháp liên bang được chia thành
<em>2 Hội đồng xét xử</em>, mỗi Hội đồng xét xử gồm có 8
thẩm phán.

<em>Hội đồng xét xử thứ nhất</em> có nhiệm vụ xét xử
các vụ việc liên quan đến việc xâm phạm các quyền cơ bản
của công dân (Grundrechte) từ phía nhà nước theo Điều 14
Khoản 1 LTAHPLB, gọi chung là các khiếu kiện Hiến pháp
(Verfassungsbeschwerde).

<em>Hội đồng xét xử thứ hai</em> có nhiệm vụ giải
quyết các vấn đề còn lại thuộc thẩm quyền theo Điều 14
Khoản 2 LTAHPLB.

Việc chia thành hai hội đồng xét xử như vậy cũng là một
cách làm khôn khéo vì một mặt tiến độ xét xử các vụ
việc liên quan đến Hiến pháp được đẩy nhanh, mặt khác
tính chuyên môn hóa cũng được nâng cao do mỗi Hội đồng xét
xử phụ trách một nhóm các khiếu kiện hiến pháp độc
lập.[6]

Không ai đi bảo vệ và cũng không thể bảo vệ một Hiến
pháp không rõ đối tượng, không rõ mục đích. <em>Làm thế
nào để xác định được rằng một hành vi cụ thể có vi
hiến hay không, nếu như Hiến pháp chỉ toàn những qui định
chung, mơ hồ, không có giải thích cụ thể hay đảm bảo ràng
buộc gì cả?</em> Khi xây dựng cơ chế bảo hiến, các nhà lập
hiến đã ý thức rất rõ vấn đề khó khăn này và rất khéo
léo trong việc xác định chủ thể bảo vệ, mục tiêu bảo
vệ, phạm vi và cách thức bảo vệ Hiến pháp.
<div class="boxright200"><img
src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjKOLpT3yVh0YWwB5MsydX5GXS14QT0Tf9w1VOb_JOJ6GYJZLdqSWYIUjY2X0-uHhYLDijHoW32ORO2rn8OjqfGnM7PC4Um2JqCYForB3is5GO7C40nwtDEfyWIiXUFY1ndvy4r7Rmi-lg/s1600/bundesverfassungsgericht-klagearten.png"
/><div class="textholder"></div></div>
Cũng với cách lập luận, tư duy đó nên các nhà lập hiến
đã trao rất nhiều quyền cho Tòa án hiến pháp liên bang tại
các Điều 93, Điều 100, Điều 21 Khoản 2, Điều 41 khoản 2,
Điều 61, Điều 93 khoản 1 số 4b.[7] như sau:

– Quyền tuyên bố một đạo luật là vi hiến nếu đạo
luật đó trái với Luật cơ bản (Điều 100 khoản 1 LCB);[8]

– Quyền giải thích, kiểm soát các qui phạm Hiến pháp
(Điều 93 khoản 1 số 2 LCB, Điều 100 LCB);[9]

– Quyền giải quyết xung đột thẩm quyền giữa các cơ
quan nhà nước ở Liên bang (Điều 93 khoản 1 số 1 LCB);[10]
Quyền giải quyết tranh chấp thẩm quyền giữa liên bang và
tiểu bang (Điều 93 Khoản 1 số 3 và số 4);[11]

– Quyền giải quyết khiếu kiện liên quan đến bầu cử
(Wahlprüfungs-verfahren) (Điều 41 Khoản 2 LCB)[12], tuyên bố giải
tán một Đảng phái nào đó (Parteiverbotsverfahren - Điều 21
Khoản 2 LCB)[13], giải quyết khiếu kiện Tổng thống (Điều 61
Khoản 2 LCB);[14]

– và đặc biệt là quyền giải quyết khiếu kiện Hiến
pháp của cá nhân khi bị cơ quan công quyền xâm phạm các
quyền cơ bản qui định từ Điều 1 đến Điều 19 LCB
(Verfassungsbeschwerde - Điều 93 khoản 1 số 4a).[15]

<div class="boxright200"><div class="quotebody"><div class="quoteopen"><img
class="quoleft" src="/misc/quoleft.png"/></div>Làm thế nào để xác
định được rằng một hành vi cụ thể có vi hiến hay không,
nếu như Hiến pháp chỉ toàn những qui định chung, mơ hồ,
không có giải thích cụ thể hay đảm bảo ràng buộc gì cả?
Khi xây dựng cơ chế bảo hiến, các nhà lập hiến Đức đã ý
thức rất rõ vấn đề khó khăn này và rất khéo léo trong
việc xác định chủ thể bảo vệ, mục tiêu bảo vệ, phạm
vi, cách thức bảo vệ và đặt nó trong một chỉnh thể của
Luật cơ bản thống nhất.<img class="quoright"
src="/misc/quoright.png"/> <br class="quoteclear"></div><div
class="quoteauthor"></div></div>


Với những thẩm quyền quan trọng như vậy, những nhà lập
hiến Đức đã đặt kì vọng rằng thiết chế này sẽ đảm
bảo được đúng chức năng của mình là <em>chức năng bảo
vệ hiến pháp</em>. Theo số liệu thống kê thực tế từ ngày
7/9/1951 đến ngày 31/12/2007[16], <em>Tòa án hiến pháp liên bang
Đức đã thụ lý 169.502 vụ việc, trong số đó có tới 163.374
vụ việc (chiếm tới 96,37%) là các khiếu kiện Hiến pháp của
cá nhân (Verfassungsbeschwerde)</em>. Con số này cho thấy, số
lượng khiếu kiện Hiến pháp của cá nhân là chiếm tỷ lệ
lớn nhất, điều đó cũng phản ánh mong muốn của người dân
trong việc bảo vệ những quyền hiến định cơ bản của mình.

<strong><span class="underlined-text">Thứ ba</span>, các nhà lập
hiến Đức đã đặt ra đầy đủ các điều kiện để đảm
bảo cho sự độc lập của Thẩm phán Tòa án hiến pháp liên
bang</strong>

Điều 92 Câu 1 LCB qui định: <em>"Quyền xét xử được trao
cho thẩm phán"</em>. Điều này có nghĩa rằng ở Đức, thẩm
phán luôn nhận được sự tin tưởng tuyệt đối và cũng nhận
lấy trách nhiệm to lớn trước nhà nước và xã hội.

Các thẩm phán Tòa án hiến pháp liên bang Đức hội đủ
các điều kiện đảm bảo sự độc lập cả bên trong và bên
ngoài. Cụ thể là:

Về tiêu chuẩn của Thẩm phán<em>: Điều kiện để được
bầu làm thẩm phán Tòa án h</em>iến pháp liên bang trước tiên
phải đạt được những tiêu chuẩn sau:

– từ 40 tuổi trở lên (Điều 3 Khoản 1 LTAHPLB),

– tối thiểu phải thi đỗ kỳ thi quốc gia thứ hai về
luật (2. Juristisches Staatsexamen)[17] hoặc là Giáo sư luật
(Professor der Rechte)[18] tại trường Đại học ở Đức (Điều 3
Khoản 2 LTAHPLB và Điều 5 Khoản 1 Luật thẩm phán (Deutsches
Richtergesetz[19]).

– không được đồng thời là thành viên của Hạ viện,
Thượng viện, Chính phủ liên bang, cũng như bất cứ cơ quan
nào của bang (Điều 94 Khoản 1 Câu 3 Luật cơ bản và Điều 3
Khoản 3 LTAHPLB).

<em>Về qui trình bầu thẩm phán</em>: Thẩm phán Tòa án hiến
pháp liên bang được bầu theo nguyên tắc bầu đa số tiêu
chuẩn (tức là phải đạt được 2/3 số thành viên tán thành)
(Điều 94 Khoản 1 Câu 2 LCB và các Điều từ Điều 5 LTAHPLB).
Các thẩm phán được bầu theo nguyên tắc một nửa là từ
Hội đồng bầu thẩm phán (Richterwahlausschuss) của Hạ viện
(Theo Điều 6 LTCTAHPLB) và một nửa là bởi Thượng viện (Theo
Điều 51, 52 LCB và Điều 7 LTCTAHPLB).[20]

<em>Về nhiệm kỳ của Thẩm phán</em>: Nhiệm kỳ của Thẩm
phán Tòa án hiến pháp liên bang là 12 năm và chỉ được bầu
duy nhất một lần (Điều 4 LTAHPLB).
<div class="boxright200"><img
src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEg2YI6S_XnZGjgSl1IaA76zMXChRcNSCHeIM950Qc5OM9NqiB8IBTl6xhdyr0atfzvTxpw3i_d9xS-zH9FtMCOf6Ln7ua9utGEDjcI_pNLrhQGysV4K2x3TmhBbSp-ezMxmJ4XHAUsPJjM/s1600/bundesverfassungsgericht.jpg"
/><div class="textholder"></div></div>
<em>Về điều kiện đồng nghiệp giúp việc về khoa
học</em>: Tòa án hiến pháp liên bang hiện nay ở Karlsruhe có
khoảng 60 đồng nghiệp giúp việc về khoa học (wiss.
Mitarbeiter). Đây thực sự là những chuyên gia pháp lý giỏi,
được tuyển chọn kĩ lưỡng, là trợ lực quan trọng giúp các
thẩm phán Tòa án hiến pháp liên bang có thể hoàn thành nhiệm
vụ cao cả của mình.[21]

<em>Về thu nhập</em>: Lương của Chánh án Tòa án Hiến pháp
liên bang tương đương với lương của Bộ trưởng khoảng
15.500 Euro/ 1 tháng.[22] Lương của Thẩm phán Tòa án Hiến pháp
liên bang tương đương với lương của Chánh án Tòa án Tối cao
(Nhóm BBesO R10) khoảng 12.503 Euro/ 1 tháng.[23]

<em>Về tính độc lập với ngành hành pháp</em>: Theo Điều
94 Khoản 1 Câu 3 LCB và Điều 3 Khoản 3 LTCTAHPLB thì Tòa án
Hiến pháp liên bang:

- Không có giám sát công vụ (keine Dienstaufsicht),

- Không có sự chỉ đạo công tác xét xử từ bên ngoài
(keine Dienstweg),

- Không phụ thuộc vào các cơ quan hành chính trong việc trả
lương, có ngân sách riêng độc lập (eigener Haushalt) về việc
trả lương thẩm phán.[24]

<em>Về sự độc lập khi xét xử</em>: Điều 97 Khoản 1 LCB
qui định: <em>"Khi xét xử, thẩm phán độc lập và chỉ tuân
theo luật"</em>. Theo Điều 15 Khoản 2 Câu 1 LTAHPLB, khi xét
xử, Hội đồng xét xử phải có ít nhất 6 trên tổng số 8
thẩm phán tham gia và quyết định theo nguyên tắc quá bán
(einfach Mehrheit). Trong trường hợp số phiếu bằng nhau thì
giải quyết theo Điều 15 Khoản 4 Câu 3 LTAHPLB). Thẩm phán Tòa
án Hiến pháp khi phán quyết chỉ tuân theo Hiến pháp và luật,
hoàn toàn không chịu bất cứ tác động nào từ phía bên
ngoài, không chịu bất cứ sự chỉ đạo nào về mặt chính
trị hay hành chính. Đây là tiêu chí, là đòi hỏi quan trọng
nhất đảm bảo tính độc lập của thẩm phán.

<em>Về sự ràng buộc của phán quyết</em>: Ý nghĩa đặc
biệt nhất trong phán quyết của Tòa án Hiến pháp liên bang
chính là giá trị của phán quyết được qui định tại Điều
31 Khoản 1 LTAHPLB: <em>"Phán quyết của Tòa án Hiến pháp liên
bang có hiệu lực ràng buộc đối với các thiết chế hiến
định của liên bang, các tiểu bang cũng như tất cả các tòa
án và cơ quan hành chính."</em>[25]

Từ những phân tích trên có thể thấy rằng cơ chế bảo
hiến ở Đức thành công vì cơ chế này đã hội tụ được
đầy đủ các điều kiện <em>chính trị pháp lý, kinh tế, xã
hội và các điều kiện đảm bảo cho sự độc lập của quan
tòa</em>. Nhìn về Việt Nam, dù đã được bàn thảo khá nhiều,
nhưng xem ra hành trình xây dựng một cơ chế bảo hiến phù
hợp vẫn còn khá gian nan. Dường như chúng ta còn rất nhiều
việc phải làm, không chỉ xây dựng những nền tảng về mặt
pháp lý, mà còn cả những điều kiện khác về chính trị, kinh
tế, xã hội - những đảm bảo mà thiếu hoặc không được
quan tâm một cách xứng đáng, tôi cho rằng các qui định về
bảo hiến nếu có được đặt ra đi nữa thì cũng vẫn chỉ
tồn tại trên giấy mà không thể vận hành được vào cuộc
sống một cách hiệu quả.

__________________________________

<strong>Chú thích</strong>

[1] Điều 1 LCB qui định: "(1) Nhân phẩm là bất khả xâm
phạm (unantastbar). Coi trọng và bảo vệ nhân phẩm là nghĩa vụ
của tất cả các nhánh quyền lực nhà nước. (2) Nhân dân
Đức vì thế thừa nhận việc nhân quyền (Menschenrechte) là
bất khả xâm phạm và không thể bị lạm dụng hay áp đặt
(unveräußerlichen) như là nền tảng của mỗi một cộng đồng,
hoà bình và công lý trên toàn thế giới. (3) Các quyền hạn cơ
bản dưới đây ràng buộc các nhánh quyền lập pháp, hành pháp
và tư pháp với tính chất là quyền có hiệu lực trực tiếp
(unmittelbar geltendes Recht)."

[2] Điều 20 LCB qui định: "(1). Cộng hòa liên bang Đức là
một nhà nước liên bang dân chủ và nhà nước liên bang xã
hội. (2). Tất cả quyền lực nhà nước là từ nhân dân. Tất
cả quyền lực nhà nước được thực thi bởi nhân dân thông
qua bầu cử, trưng cầu dân ý và thông qua các cơ quan độc
lập thuộc nhánh quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. (3).
Quyền lập pháp bị ràng buộc bởi trật tự hợp hiến, quyền
hành pháp và tư pháp bị ràng buộc bởi các Đạo luật và các
văn bản pháp luật. (4). Tất cả người dân Đức đều có
quyền thay đổi nhà nước (Recht zum Widerstand), nếu nhà nước
ấy đi ngược lại những nguyên tắc cơ bản trên đây, khi mà
các liệu pháp khác đã được áp dụng nhưng không hiệu
quả".

[3] Điều 19 khoản 4 LCB qui định: "Bất cứ ai cho rằng
quyền tự do cơ bản của mình bị xâm hại, đều có quyền
khởi kiện lại nhà nước."

[4] Theo qui định của Luật cơ bản Đức có 5 thiết chế
Hiến định của liên bang (Verfassungsorgane) gồm có: Hạ viện
liên bang (Bundestag), Thượng viện liên bang (Bundesrat), Chính phủ
liên bang (Bundesregierung), Tổng thống liên bang (Bundespräsident)
và Tòa án hiến pháp liên bang (Bundesverfassungsgericht). Về nguyên
tắc, các thiết chế này là ngang hàng nhau, kiểm soát và cân
bằng quyền lực, không cơ quan nào cao hơn cơ quan nào. Các Tòa
án tối cao của liên bang (Bundesgerichthofs) trong hệ thống các
cơ quan tư pháp (Rechtsprechung) không có được vị trí là thiết
chế hiến định như Tòa án hiến pháp liên bang.

[5] Luật Tòa án Hiến pháp liên bang Đức (Gesetz über das
Bundesverfassungsgericht) lần đầu tiên được công bố vào ngày
12 tháng 3 năm 1951, trên Công báo số 1 từ trang 243, có hiệu
lực thi hành từ ngày 17 tháng 4 năm 1951. Mặc dù đạo luật
này do Nghị viện ban hành, nhưng thực chất nó xây dựng một
qui trình tố tụng hiến pháp bền vững, cùng với qui định
tự hành trong hoạt động của Tòa án (Điều 1 Khoản 3 BverfGG),
bảo vệ khá tốt sự độc lập của Tòa án, đồng thời với
qui định này Nghị viện cũng sẽ không thể dễ dàng sửa
luật nhằm tìm cách can thiệp vào công tác xét xử của Tòa án
Hiến pháp.

[6] Xem thêm: Võ Trí Hảo, Philipp Kunig, Đặc trưng của mô
hình tài phán Hiến pháp Đức, Nghiên cứu lập pháp. Văn phòng
quốc hội, Số 8 (4/2009), tr. 52–57.

[7] Tòa án Hiến pháp liên bang chỉ làm việc dựa trên cơ
sở có khiếu kiện. Chức năng của Tòa án Hiến pháp khác với
cơ quan hành chính không phải là thi hành Hiến pháp hay luật,
mà là bảo vệ Hiến pháp và pháp luật.

[8] Xem: Wernsmann, Konkrete Normenkontrolle (Art. 100 Abs. 1 GG), Jura
2005, S. 328.

[9] Xem: Jarass/Pieroth, Grundgesetz für die Bundesrepublik Deutschland,
Kommentar, 11. Aufl., 2011, Art. 93, Rn. 19 f.

[10] Xem: Jarass/Pieroth, Grundgesetz für die Bundesrepublik
Deutschland, Kommentar, 11. Aufl., 2011, Art. 93, Rn. 5 f.

[11] Xem: Hillgruber/Goos, Verfassungsprozessrecht, 2. Aufl. 2006;
Alleweldt, BVerfG und Fachgerichtsbarkeit 2006.

[12] T.Koch, „Bestandsschutz" für Parlamente? – Überlegungen zur
Wahlfehlerfolgenlehre, DVBl 2000, 1093; Roth, Subjektiver Wahlrechtsschutz
und seine Beschränkungen durch das Wahlprüfungsverfahren, FS Graßhof,
1998, S. 53.

[13] Xem thêm các phán quyết của Tòa án Hiến pháp liên bang:
BVerfGE 4, 27/30f.; BVerfGE 11, 239/241ff.

[14] Xem: Kunig, Der Bundespräsident, Jura 1994, S. 217f.; Kilian, Der
Bundespräsident als Verfassungsorgan, JuS 1988, S. 33.

[15] Xem: Zuck, Das Recht der Verfassungsbeschwerde, 3. Aufl., 2006;
Hain, Die Individualverfassungsbeschwerde nach Bundesrecht, 2002.

[16] Số liệu thống kê thực tế của Tòa án Hiến pháp
liên bang Đức về giải quyết các vụ việc của Tòa án Hiến
pháp liên bang Đức từ ngày 7/9/1951 đến ngày 31/12/2007 công
bố tại website chính thức của Tòa án hiến pháp liên bang
Đức tại địa chỉ:
http://www.bundesverfassungsgericht.de/organisation/gb2007/A-I-1.html truy
cập gần nhất ngày 3/4/2012.

[17] Hai ngành Luật và Y khoa là ngành đòi hỏi tiêu chuẩn
đầu vào cao cũng như quá trình đào tạo lâu nhất ở nước
Đức. Để có được chứng nhận kết thúc kỳ thi quốc gia
thứ hai Assessor, kết thúc quá trình đào tạo luật chính thức
(die voll-juristische Ausbildung), một sinh viên luật trung bình phải
mất từ 9 đến 10 năm theo học. Đây là điều kiện cần để
một người có thể hành nghề luật như Luật sư, thẩm phán,
công chức, công tố viên hoặc tiếp tục nghiên cứu ở
trường Đại học hay một Viện nghiên cứu. (Xem thêm: Nigel
Foster, Satish Sule, German Legal System and Laws, 3. Edition, Oxford, 2008,
p. 86).

[18] Điều kiện trở thành Giáo sư đại học (Professor) ở
Đức rất khắt khe. Ngoài việc có chứng nhận Assessor, sau khi
bảo vệ thành công luận án tiến sĩ (Doktorarbeit), người có
học vị tiến sĩ phải tiếp tục tích lũy nhiều điều kiện
khác như: 1. Hoàn thành bậc sau tiến sĩ (Habilitation), bảo vệ
thành công đề tài sau tiến sĩ (Habilitationsschrift); 2. Tích lũy
đủ các công trình khoa học; 3. Tích lũy đủ kinh nghiệm giảng
dạy và 4. Được một trường Đại học công nhận và bổ
nhiệm. (Xem thêm: Nigel Foster, Satish Sule, German Legal System and Laws,
3. Edition, Oxford, 2008, p. 88).

[19] Luật thẩm phán của Đức lần đầu tiên được công
bố ngày 8/9/1961, tại Công báo số 1 năm 1961 từ trang 1665, có
hiệu lực thi hành ngày 1/7/1962. Đạo luật này được sửa
đổi, bổ sung, được công bố lần thứ hai ngày 19/4/1972,
đăng trên Công báo số 1 năm 1972, từ trang 713.

[20] H. Maurer, Staatsrecht I, 6. Aufl. 2010, § 19, Rn.1–28.

[21] Xem: Điều 13 Khoản 1 Luật tổ chức Tòa án Hiến pháp
liên bang (GeschO BVerfG); Gröpl, Staatsrecht I, 3. Aufl. 2011, Rn. 1611ff.

[22] Xem cụ thể Luật về thu nhập của thành viên Tòa án
Hiến pháp liên bang (Gesetz über das Amtsgehalt der Mitglieder des
Bundesverfassungsgerichts) được ban hành ngày 28/02/1964, công bố
tại Công báo năm 1964, quyển 1, từ trang 133, có hiệu lực thi
hành từ ngày 1/7/1964.

[23] Theo danh mục bảng lương 4, nhóm R, Luật trả lương
của liên bang: Anlage IV Tabelle „R" zum Bundesbesoldungsgesetz, cập
nhật đến 28/2/2011.

[24] Gröpl, Staatsrecht I, 3. Aufl. 2011, Rn. 1611ff.

[25] H. Maurer, Staatsrecht I, 6. Aufl. 2010, § 19, Rn.1–28.


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/12248), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét