Hoàng Anh - Những thách thức đối với Đảng cộng sản Việt Nam

Là đảng duy nhất và nắm quyền lãnh đạo tại Việt Nam,
Đảng cộng sản VN đã mặc định về vị trí của mình trong
toàn bộ quy trình quyền lực và ra quyết định cũng như kiểm
soát hệ thống quản trị. Nhưng hiện nay Đảng cộng sản VN
đang đối mặt với một số thách thức mà nếu có cái nhìn
thật khách quan, sẽ dễ dàng cảm nhận ra tính nghiêm trọng hay
không của nó.

<h2>Thách thức từ những xung đột lợi ích liên quan đến
quyền sở hữu đất đai</h2>

<div class="boxright300"><img
src="http://www.boxitvn.net/wp-content/uploads/2011/01/image00227.jpg" /><div
class="textholder">Treo biểu ngữ cổ võ Đại hội Đảng cộng
sản Việt Nam. AFP</div></div>

Khiếu kiện đất đai không phải là vấn đề phức tạp duy
nhất đối với Việt Nam, nhưng đây rõ ràng là một quả bom
đối với toàn bộ cục diện. Chính quyền từ cấp cao nhất
có vẻ đã không đủ sâu sắc để phân tích hết tín hiệu
phát ra từ vụ nổ súng phản kháng ở huyện Tiên Lãng, Hải
Phòng, một trong khoảng trên 500 đơn vị hành chính cấp huyện
trên cả nước. Trước rất lâu và ngay sau khi vụ việc được
mệnh danh "Hoa cải đỏ" xảy ra, những vụ cưỡng chế
tương tự đã và vẫn diễn ra theo nhiều mức độ khác nhau ở
hầu như toàn bộ các huyện. Theo cách lý giải gần đây nhất
từ bộ Thông tin Truyền thông trong hội nghị báo chí ngày 30/3
tại Quảng Ninh thì bản chất của vấn đề là: "Một số
báo thông tin, bình luận có tính suy diễn, cho rằng, gốc của
vấn đề, vụ việc là do sở hữu toàn dân về đất đai trong
khi thực ra, nguyên nhân chủ yếu do nhận thức, thực hiện sai
các quy định pháp luật đất đai về cho thuê đất, thu hồi
đất, cưỡng chế đất cũng như do các quy định về quản lý
đất đai thiếu đồng bộ, chống chéo, phức tạp" (trích
Toàn văn Báo cáo Đánh giá Công tác Báo chí 2011).

Đây chính là quan điểm cuối cùng, được coi là kết luận
của Đảng về vụ việc ở Tiên Lãng. Sự nhìn nhận này cho
thấy sẽ không có bất cứ thay đổi hoặc tác động nào đến
mối quan hệ giữa chính quyền và người dân ngay cả khi cách
hành xử đáng xấu hổ của các quan chức ở Hải Phòng trong
vụ tranh chấp chính là mẫu số chung trong mọi xung đột giữa
hai nhóm lợi ích bất cân xứng: quan chức, doanh nhân cấu kết
đối đầu với nhân dân lao động, nhất là những người nông
dân có xu hướng tìm kiếm lợi ích dựa vào khai thác đất
đai.

Không thể phủ nhận xung đột lợi ích là vấn đề chung đối
với tất cả các xã hội có hoạt động kinh tế. Tạm cho
rằng, sự xung đột lợi ích trong lĩnh vực đất đai là một
mẫu xung đột có thể đại diện cho các hình thức khác, cũng
giống tất cả các xã hội. Nhưng sự khác biệt lớn nhất
giữa mô hình xung đột của Việt Nam với các mô hình xung
đột được kiểm soát tốt khác chính là sự thiếu vắng một
số yếu tố đảm bảo. Thứ nhất, các bên có lợi ích bị
xung đột biết và hiểu rõ ràng về quyền lợi của mình. Thứ
hai, có một thiết chế trung gian mang tính trọng tài đảm bảo
quy trình thương lượng hoặc giải quyết. Và thứ ba, quan
trọng nhất, là có được các nguyên tắc pháp lí chặt chẽ
được đảm bảo thực thi, hay một chế độ Pháp quyền.

Hệ thống pháp luật thiếu chuẩn mực, được làm ra do tác
động của các nhóm lợi ích luôn có khuynh hướng thao túng đã
luôn là một đặc điểm trong quy trình làm luật ở Việt Nam.
Hệ thống này trên thực tế là sự câu kết chặt chẽ giữa
những doanh nhân bất lương và những quan chức trong bộ máy
tham lam nhưng lại thiếu vắng hoàn toàn các tri thức và đạo
đức của người làm công tác quản trị quốc gia. Sự tráo
đổi lợi ích và quyền lực tạo thành một cơ chế đầu voi
đuôi chuột đầy mập mờ đã biến nông dân, nhóm lợi ích có
ít khả năng phản kháng nhất do thiếu tri thức và một công
cụ bảo trợ đáng tin cậy trở thành con mồi để tiêu diệt.
Sự đối trọng này là bất cân xứng đến mức trong một số
trường hợp trở thành xung đột tiêu cực khi nhóm lợi ích
nông dân phản kháng trong tình thế quẫn bách đường cùng.
Việc gia đình anh nông dân Đoàn Văn Vươn phản kháng với
quyết định cưỡng chế có động cơ cánh hẩu được chính
quyền từ thành phố Hải Phòng, huyện Tiên Lãng đến xã Vinh
Quang hậu thuẫn.

Xung đột này và cách giải quyết của chính quyền Trung ương
đã cho thấy một sự nhầm lẫn đáng cảnh báo về vai trò
thực sự của các bên. Một cách trực diện, có thể nhận ra
ngay rằng thêm một lần nữa quán tính hành động theo mô thức
"đóng cửa bảo nhau" lại được áp dụng. Nhà nước,
thiết chế có vai trò trung gian đại diện đã tham gia xung đột
với tư cách là một bên tranh chấp và hoàn toàn sao nhãng vai
trò của mình là thiết chế bảo đảm trình tự của một quy
trình chứ không phải bên tham gia các xung đột. Nó trở thành
lực lượng hậu thuẫn cho đám khủng long doanh nghiệp, vốn
luôn buông thả với lòng tham và các thủ đoạn của mình trên
con đường tìm kiếm lợi ích. Áp lực này đã đẩy người
nông dân, nói riêng, và các nhóm yếu thế khác đến bờ vực
của sự khánh kiệt.

Bản chất của vụ việc Tiên Lãng hay hàng ngàn vụ "Tiên
Lãng" khác ở cả khía cạnh địa lý và lĩnh vực chính là
việc họ, các nhóm lợi ích, đã được giới hạn trong một
khuôn khổ pháp lý hay chưa? Nói cách khác, đã đến lúc các
lực lượng quản trị quốc gia, hàm nghĩa cả Đảng lãnh đạo
hoặc Nhà nước thừa hành, phải lựa chọn một chỗ đứng có
tính trung dung nhất: là thiết chế đại diện được ủy
quyền phù hợp để điều hòa các mâu thuẫn. Điều này là
sự thách thức thứ nhất của Đảng trong quy trình vận động
của Việt Nam. Cách vô hiệu hóa quả bom này không phải chỉ
đơn giản chỉ là lấp cát lên nó để không ai nhìn thấy.

<h2>Thách thức thứ hai là áp lực về chủ quyền đối với hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.</h2>

Thông tin lan truyền theo tốc độ của sự tiến bộ về công
nghệ truyền dẫn đã trang bị cho lòng yêu nước của người
Việt Nam những chi tiết để soi sáng từng góc cạnh trong mối
quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Dù có thể đã mai một
nhiều đi trong khoảng gần một thế kỷ gần đây, nhưng không
thể phủ nhận đã từng tồn tại ở Việt Nam một nền văn
hóa nuôi dưỡng lòng yêu nước và một chủ nghĩa dân tộc
rất bản lĩnh.

Trong khi các cấp lãnh đạo từ thượng tầng có vẻ như đã
quay lưng lại với những tiếng nói yêu cầu một thái độ
dứt khoát trong vấn đề chủ quyền biển đảo, thì trong môi
trường hạ tầng, những tiếng thủ thỉ than oán về cách hành
xử quá nhũn và nhu nhược của chính quyền đang nuôi dưỡng
những căm giận. Thậm chí, nhiều cách đặt vấn đề đã
được nêu ra mà tâm điểm chính là việc theo hay bỏ Trung
Quốc với ý nghĩa là một mối quan hệ thuần phục liên quan
đến việc còn Đảng hay mất Nước. Mâu thuẫn đã được
nhận diện là, liệu Đảng có mâu thuẫn không khi chấp nhận
mọi sự áp đặt ngày càng ít điều kiện từ phía Trung Quốc
về mọi vấn đề mà quên đi rằng động cơ tồn tại của
nước Việt Nam từ thời lập quốc luôn có một yếu tố cố
định là thoát ra khỏi sự phong tỏa của gã hàng xóm tham lam
và luôn nung nấu dã tâm đã thành thâm căn cố đế.

Đôi lúc, cách hành xử của nhà quản trị sẽ là định
hướng cho các lực lượng đi theo khi họ nhận thức được
rằng điều đó là thuận chiều với tư duy chung của tất cả.
Nhưng không phải lúc nào người Việt Nam cũng tán thành cách
cư xử của các nhà lãnh đạo trước áp lực của Trung Quốc.
Thách thức của vấn đề này chính là chưa bao giờ người dân
Việt Nam chấp nhận vị thế nô lệ của bất cứ một kẻ
ngoại bang nào khác. Điều đó cho họ năng lực để theo dõi
và đánh giá từng việc làm của Chính quyền Trung ương. Dù
thơ ngây hay không thơ ngây khi các nhà cai trị ở thượng tầng
làm ngơ trước việc Trung Quốc cướp quần đảo Hoàng Sa từ
tay chính quyền Nam Việt Nam cũng là một tội lỗi không thể
tha thứ. Quan hệ giữa chính quyền phía Bắc với chính quyền
phía Nam có lẽ đã không tốt đẹp khi mỗi bên đại diện cho
một ý thức hệ. Nhưng có điều gì đó để các nhà lãnh
đạo miền Bắc quên đi một nguyên tắc của sự tồn vong cho
một quốc gia như Việt Nam là: Khi bất cứ kẻ cướp nước
nào xâm phạm phần lãnh thổ của mình dù chỉ là một cái
chạm đầu tiên của mũi giày chúng, tất cả sẽ phải là
người Việt Nam.

(Quan hệ giữa Trung Hoa lục địa và Đài Loan trong mối tương
quan tranh chấp chủ quyền biển Nam Trung Hoa là một bài học
tinh tế. Có thể Đài Bắc và Bắc Kinh đối lập với nhau về
nhiều điểm liên quan đến kinh tế, văn hóa, thương mại…
Nhưng họ hầu như không bao giờ lên tiếng phủ nhận khi bên
kia tuyên bố chủ quyền trên các đảo trong khu vực tranh
chấp).

Năm 2011, bất chấp sức ép từ Bắc Kinh lên bộ máy chính
quyền Hà Nội, 11 cuộc biểu tình vẫn diễn ra liên tiếp nhằm
thể hiện khát vọng được cất tiếng nói với thái độ
cương quyết về vấn đề chủ quyền đối với Hoàng Sa và
Trường Sa. Trước khi nó bị dập tắt bởi vô số mánh khóe
của an ninh trong nước, một sự thức tỉnh mạnh mẽ cùng với
nhiều thông tin đã được truyền đến người dân theo những
lớp lang khá cụ thể. Gần đây nhất, khi các nỗ lực nhằm
vinh danh và tưởng nhớ những anh hùng đã hy sinh trong cuộc
chiến chớp nhoáng năm 1988 đều bị chính quyền ngăn chặn,
làn sóng yêu nước vẫn ngấm ngầm tồn tại trên không gian
Internet. Hiệu ứng và quy mô của chúng có lẽ đã lớn đến
mức tất cả đều có thể nhận ra sẽ là một lời thách
thức từ chính các nhà lãnh đạo đối với nhân dân của mình
khi họ lựa chọn làm hài lòng Bắc Kinh và tiếp tục đàn áp
những tiếng nói yêu nước chân chính của nhân dân.

Vấn đề chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa chắc
chắn sẽ không bị xóa đi theo cách nhân viên nghành an ninh trong
nước bắt bớ, nạt nộ nhân dân để họ thôi đi biểu tình
hoặc đấu tranh theo những phương pháp hòa bình. Ngay cả khi
các chuyên gia an ninh dùng thủ đoạn xấu xa nào nhằm ngăn cản
một cuộc gặp mặt của những người biểu tình hay một trận
đá bóng giữa họ, mọi chuyện cũng sẽ chỉ làm tăng mối nghi
ngờ về tác dụng của miếng bả mà Bắc Kinh đã ma lanh trộn
vào. Xem ra, thách thức thứ hai cũng đã quá rõ. Việc quả bom
nổ hay không nổ dĩ nhiên không phụ thuộc vào việc anh đặt
đầu của nó quay về hướng Bắc hay hướng Tây.

<h2>Thách thức thứ ba: năng lực quản trị hữu hiệu</h2>

Việc xử lý các bị can trong vụ án Vinashin hôm 30/3 có thể
đã làm hài lòng một vài người. Nhưng đó không phải là
phương thuốc trị bệnh mà chỉ là một ít dầu xoa lên vết
sưng do ung thư nội tạng. Cái xác chết Vinashin đang trôi nổi
kia dù đã trở thành một sự cảnh báo về năng lực điều
hành kinh tế và khả năng hoạch định chính sách duy ý chí,
nhưng có vẻ nó chưa làm tỉnh ngộ hoặc làm chờn tay các nhóm
lợi ích đang lợi dụng thao túng các tập đoàn nhà nước.
Mỗi tập đoàn nhà nước kiểu Vinashin là một ngành độc
quyền. Mỗi ngành độc quyền là một đầu mối nắm trong tay
một mạch chủ nguồn lực quốc gia. Những kẻ thâu tóm các
tập đoàn độc quyền trên thực tế là những kẻ sử dụng
công cụ, khai thác nguồn lực quốc gia để thỏa mãn nhu cầu
lợi ích của mình hay phe nhóm mình.

Lần lượt những anh cả đỏ, những quả đấm thép đang chảy
ra, trở nên loãng nhếch bởi trên thực tế chúng chỉ là công
cụ cho một động cơ khác. Các tập đoàn này kể từ khi thành
lập đã đảm nhận 2 nhiệm vụ trọng yếu;

- Nhiệm vụ thứ nhất: đầu tư mọi ngành chúng muốn hoặc
nghĩ ra, gây lãng phí bất cứ cho mục đích gì mà chúng có
thể làm. Chưa nói đến động cơ chính của việc làm này,
chỉ nói đến việc những người chủ trương hiển nhiên không
phải là các tay tốt thí như Phạm Thanh Bình và bộ sậu. Hiển
nhiên là, họ không thể không biết việc làm này là sai. Ngay
cả khi họ vì một hạn chế nào đó để không hiểu đó là
sai, cũng đã có rất nhiều người tâm huyết nói cho họ biết
điều ấy. Điều đó có nghĩa họ hoàn toàn có mục đích khi
giành mọi quyết tâm để duy trì tình trạng lãng phí triền
miên đó. Mục đích của chúng thực ra nằm ở nhiệm vụ quan
trọng nhất kể ra sau đây.

- Nhiệm vụ thứ hai: làm ổ để vơ vét và tham nhũng. Thực
chất, hai nhiệm vụ này không thể tách nhau ra được. Với
những cơ chế hình thành, điều hành không minh bạch, các tập
đoàn được hậu thuẫn về chính trị và tài chính đến kinh
ngạc. Việc thành lập các Tập đoàn với mục đích như vậy
thực tế cũng không căn cứ vào bất cứ một tiêu chí nào về
hoạt động quản trị kinh doanh khoa học mà do ý chí và những
động cơ khác hẳn. Không có thay đổi nào về các nhiệm vụ
này ngay cả trước đó chúng tồn tại ở dạng các công ty
vừa hoặc nhỏ do nhà nước kiểm soát. Điểm khác biệt thậm
chí có thể làm chúng ta giật mình: Trước đây, họ tham nhũng
bằng các công ty có quy mô 1 tỷ. Bằng cách góp 50 công ty 1 tỷ
đó, họ sẽ có một công ty có quy mô 50 tỷ.

Quan hệ giữa hai nhiệm vụ như thế nào, thực ra không phải
là một câu hỏi khó. Để tham nhũng và lại quả được 1 tỷ,
họ sẵn sàng nhắm mắt bỏ qua mọi quy trình thẩm định một
dự án 20 tỷ, bất chấp cái dự án đó có thể không bao giờ
hoàn thành hoặc đó là một dự án để lại một đống sắt
vụn như siêu khách sạn nổi "Hoa Sen" mà ông Bình được cho
phép mua về.

Dù động cơ chính của việc thành lập và quản trị các tập
đoàn kinh tế là thế nào thì điều đó cũng đang đặt ra vấn
đề quản trị hữu hiệu và chống tham nhũng. Ở những chiều
kích khác nhau, tham nhũng do duy trì một mô hình quản trị lỏng
lẻo duy ý chí bản chất là sự cạnh tranh chia chác giữa các
nhóm lợi ích. Sự hậu thuẫn của chính sách và việc gắn
liền lợi ích giữa quan chức trong bộ máy chính quyền là
nguyên nhân làm biến dạng tính chất của mối quan hệ xã hội
này.

Yêu cầu cụ thể được đặt ra trong cuộc thương lượng
ngầm này là Đảng phải cải thiện các thành tích phát triển,
làm tăng mức sống giúp người dân đủ sức chống chọi lại
các biến cố kinh tế. Nhưng quan trọng hơn, phải có một luật
chơi mà chính Đảng phải tham gia với tư cách là một phần
chứ không phải là quản trò hiện tại.

<h2>Thách thức thứ tư: cách ứng xử với sức ép quốc
tế</h2>

Sự xuất hiện đều đặn hơn của người đứng đầu Chính
phủ, Nguyễn Tấn Dũng tại các hội nghị CG (Hội nghị nhóm
tư vấn các nhà tài trợ) hàng năm nói lên điều gì? Vụ án
động trời ở đại lộ Đông-Tây mà hệ quả là con tốt thí
Huỳnh Ngọc Sỹ bị trảm; và động thái tiếp theo khi Chính
phủ Nhật Bản tuyên bố cắt viện trợ vô thời hạn đã
khiến tâm trạng của rất nhiều người bị bao phủ bởi nỗi
xót xa tiếc nuối. Mặc dù sau đó, phía Nhật Bản đã tháo gỡ
lệnh cắt viện trợ, nhưng các động thái trên đã cho thấy
ở một mức độ nào đó sự phụ thuộc quá đáng của Việt
Nam vào các nguồn vốn vay và viện trợ.

Kịch bản thường thấy nhất trong các sự kiện này chính là
việc đại diện của nước chủ nhà tuyên bố họ cẩn trọng
với tất cả các nguồn vốn vay hoặc viện trợ và coi đó là
yếu tố quan trọng cho quá trình phát triển. Nhưng trên thực
tế, đây không phải chỉ là câu chuyện về việc sử dụng
các đồng vốn. Bản thân việc sử dụng các nguồn lực này
cũng đáng quan ngại vì cùng một hệ thống xử lí, nếu như
nguồn ngân sách trong nước bị làm thâm hụt do yếu kém chủ
quan của bộ máy hấp thụ thì không có nghĩa các nguồn vốn
vay hỗ trợ phát triển không bị đối xử như vậy. Đi kèm
với các cam kết tài trợ, đa phần người dân trong nước
không đươc tiếp cận với các ràng buộc, trong đó bao hàm cả
các điều kiện về cải thiện mô hình phát triển, cải thiện
môi trường kinh doanh, thậm chí là cả yêu cầu cải thiện hồ
sơ nhân quyền.

Trên thực tế, thông tin về kênh hỗ trợ này chỉ được
tiết lộ ở mức độ tối thiểu. Chính phủ Việt Nam chưa có
kế hoạch nào nhằm công khai các chi tiết liên quan đến việc
chi tiêu nguồn lực này, đồng thời họ từ chối luôn việc
thành lập những cơ chế cho phép giám sát và phản biện. Nói
cách khác, đến lúc này, việc nhận về hàng chục tỷ USD từ
các nhà tài trợ và tiêu dùng như thế nào vẫn chỉ là chuyện
riêng giữa Chính phủ và bản thân các nhà tài trợ. Và gần
như hội nghị hàng năm là thời điểm duy nhất họ trao đổi
công khai các vấn đề đã được lựa chọn kỹ càng.

Sử dụng danh nghĩa nhân dân để kêu gọi hỗ trợ quốc tế
cho các vấn đề hạ tầng, kỹ thuật và đào tạo, trong khi
không có cơ chế kiểm soát đa chiều theo chuẩn mực luôn là
vấn đề được đặt câu hỏi về độ trung thực và tính
hiệu quả. Điều hoài nghi này trên bề mặt đã làm giảm đi
tính nóng hổi của vấn đề, nhưng thực chất là một thủ
thuật nhằm làm biến dạng tình hình. Nó phản ánh gần như
trực diện thái độ và ý đồ của Chính phủ Việt nam trong
cách ứng xử mà sự khác biệt là rất lớn. Một mặt, trước
cộng đồng quốc tế là hình ảnh một Việt Nam nghèo đói và
cần được giúp đỡ để cải thiện nội lực. Mặt khác,
đối với nhân dân trong nước thì lảng tránh mọi câu hỏi
cật vấn và cơ chế kiểm soát từ bên trong. Tính hiệu quả
trong quá trình sử dụng vốn vay và vốn tài trợ phát triển,
bất chấp việc quy mô của chúng đang lớn lên từng ngày vẫn
là một điều tuyệt mật đối với nhân dân và thậm chí cả
các nhà tài trợ khi họ chỉ nhận được câu trả lời của
các thiết chế mà Đảng đã cài đặt và lên chương trình
rất kỹ lưỡng.

Tính từ năm 1992, thời điểm mà sau sự nới lỏng của Mỹ và
cộng đồng quốc tế, World Bank (Ngân hàng thế giới – WB)
được phép vào hoạt động tại Việt Nam nhằm hỗ trợ công
cuộc Đổi mới. Hàng tỷ USD đã được đổ vào các công
trình cơ sở hạ tầng và xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, vẫn
cần phải nói thêm nhiều lần nữa về cơ chế hấp thụ và
kiểm soát mọi dòng vốn trong bối cảnh căn bệnh tham nhũng
tràn lan trong cơ thể chính trị do Đảng kiểm soát. Cảnh báo
từ năm 2004 của WB về quá trình tăng trưởng khiến cho ngày
càng có nhiều người ít được hưởng lợi hơn đến nay vẫn
không có cải thiện nào (Vietnam: Development Report 2004: Rapid
economic growth won't be enough to eradicate poverty within the next few
years. If the pro-poor nature of economic growth in Vietnam over the last
decade provides good reasons to be optimistic, there are also clear signs
that development is becoming less inclusive.)

Mẫu ví dụ điển hình cho việc sử dụng nguồn vốn hỗ trợ
phát triển này có thể mô tả như sau: WB tài trợ cho một dự
án cơ sở hạ tầng khoảng 500 triệu USD để làm một con
đường dân sinh. Tuy nhiên, dưới khả năng phù phép của hệ
thống, số tiền này, thay vì được đầu tư để làm một con
đường trong một huyện nghèo phục vụ nhu cầu của nhân dân
thì được rót vào đầu tư cho con đường vòng quanh một
chiếc hồ ở Hà Nội, nơi có nhà ở của nhiều quan chức trong
bộ máy chính quyền. Thậm chí, con số cụ thể về số tiền
đầu tư một dự án như thế cũng không bao giờ được tiết
lộ. Điều này dường như đã là một chuyện bình thường và
không nên đặt lại vấn đề nữa.

Tựu trung lại, các vấn đề về tham nhũng và khả năng hấp
thụ vốn không được minh bạch không phải là những vấn đề
tách biệt. Nó cho thấy, động cơ lợi ích bị chi phối bởi
các cánh hẩu đang khoét sâu đến mức không thể kiểm soát
khoảng cách giàu nghèo trong một quốc gia. Câu hỏi đặt ra là,
sự việc sẽ còn là chuyện nội bộ của Việt Nam trong bao lâu
nữa khi mà hoạt động kinh tế trong nước đang tỏ ra quá yếu
kém và đã dần được nuôi dưỡng bởi cách bình oxy đặt bên
cạnh?

Khi chính quyền trung ương ở cấp thượng tầng theo đuổi
chiến lược nuôi dưỡng một bộ phận thân tín gắn liền
với lợi ích của chính họ và bỏ quên một cách chủ ý các
nhóm lợi ích yếu thế là một biểu hiện cho thấy họ đang
nuôi dưỡng động cơ xung đột xã hội. Nó cũng cho thấy một
thái độ ứng xử thiếu suy nghĩ một cách chủ quan đối với
sức ép của cộng đồng quốc tế vì sớm hay muộn, cách làm
việc thiếu minh bạch đó sẽ dẫn đến một số hệ quả
không mong muốn: Thứ nhất, nó sẽ khiến cho các nhà tài trợ
trở nên hoài nghi và hết kiên nhẫn; Thứ hai, đó là cách
thức không thể tốt hơn để từ chối mọi cơ hội thực sự
nghiêm túc để phát triển nội lực quốc gia. Và thứ ba, hãy
hình dung một bối cảnh mà các điều kiện để có được
nguồn vốn từ bên ngoài ngày càng rõ ràng xu hướng buộc
chính quyền do Đảng lãnh đạo phải thay đổi các ưu tiên
phát triển; trong khi lòng kiên nhẫn của nhóm lợi ích bị bỏ
quên đang đi đến giới hạn chịu đựng cuối cùng.

<h2>Thách thức thứ năm: Giải Hoa và Phi Hoa</h2>

Áp lực từ phía Trung Quốc đối với tiến trình chính trị
của Việt Nam hiện tại là một biến tướng nguy hại trong
mối quan hệ giữa hai nước. Ảnh hưởng của văn hóa và lịch
sử của Trung Quốc lên các quốc gia lân cận hiển nhiên không
phải là vấn đề phải bàn cãi. Nhưng trước hết, Trung Quốc
và Việt Nam dù là "hàng xóm liền vách" hay "đồng chí
bốn tốt" thì đây vẫn là hai quốc gia cụ thể, hai đất
nước cụ thể có lộ trình phát triển riêng. Thách thức thứ
năm thoạt nhìn có vẻ vẫn là một ẩn số, nhưng nó không
biểu hiện một cách mơ hồ mà phụ thuộc chủ yếu vào thái
độ của Đảng Cộng sản Việt Nam trong ứng xử với Trung
Quốc. Mèo có thể chơi với chuột, nhưng cuối cùng mèo sẽ ăn
thịt chuột, vì đó là bản năng của nó.

Con đường phát triển của Việt Nam, dù có thể có thêm nhiều
lí giải nữa về các yếu tố "cần" và "phải" làm gì
đó, nhưng suy cho cùng mấu chốt cũng chỉ có một điểm duy
nhất: Thoát Trung. Cục diện quan hệ hiện tại, nhìn từ bên
trong, là hệ quả của một quá trình nhầm lẫn giữa ý thức
hệ với quyền lợi quốc gia dân tộc. Nhìn từ bên ngoài,
Việt Nam trên thực tế đang là một quân bài mà Trung Quốc
muốn sử dụng triệt để nhằm hiện thực hóa tham vọng bá
quyền của mình. Đây chính xác là một gọng kìm khiến Việt
Nam hầu như đã bỏ lỡ tất cả những cơ hội tuyệt vời
nhất để vươn mình lên trở thành một nhân tố tích cực
trong cuộc cạnh tranh toàn cầu về các giá trị phổ quát.

Thứ nhất, về sự nhầm lẫn giữa ý thức hệ với quyền
lợi quốc gia. Nhầm lẫn tai hại của các thế hệ lãnh đạo
cấp thượng tầng trong Đảng là đã cố tình làm sai lệch vị
trí của hai vấn đề này, thậm chí đã có lúc gộp nó thành
một. Trung Quốc hay bất cứ quốc gia nào, thậm chí cả Mỹ
dưới nhiều hình thức, không phải là một kẻ mơ hồ trong
hành động. Là một quốc gia, họ luôn ý thức được lợi ích
của đất nước họ mới là giá trị bất biến. Việc thực
hiện một phương thức nào hay lựa chọn phương thức là cách
họ biểu hiện ra bên ngoài trình độ và ý thức cộng đồng
của họ. Điều này thay đổi theo hoàn cảnh chứ tuyệt nhiên
không phải là sự minh chứng cho lòng tốt và cố định.

Năm 1978, khi Trung Quốc thay đổi bằng một cuộc cải cách,
bản thân họ đã ý thức được các nguy cơ khi tiếp tục theo
đuổi câu chuyện viển vông và ngu xuẩn vào cái mà họ gọi
là Xã hội Chủ nghĩa. Trung Quốc từ thời điểm đó đã chính
thức trở thành một quốc gia theo đuổi mô hình kinh tế thị
trường tự do dưới cái áo khoác mang tên "Chủ nghĩa Xã hội
mang màu sắc Trung Quốc". Không phải ngay lập tức, nhưng
những đòi hỏi và sức ép bên trong cũng khiến Việt Nam nhận
thức ra vấn đề. Cuộc Đổi mới khởi sự năm 1986 cho thấy
những biến chuyển ở Việt Nam cũng là một sức ép. Nhưng
điều đáng tiếc, trong hành động này, các nhà lãnh đạo cao
nhất đã từ chối chấp nhận thực tế rằng, sức ép đó là
giành cho vận mệnh của dân tộc. Họ chỉ thừa nhận thông qua
hành động của mình rằng, sự thay đổi đó là cần thiết cho
việc duy trì vị thế lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Đây là một điểm yếu mà ngay lập tức Trung Quốc đã nhận
ra và khai thác triệt để. Sẽ không phải là thượng sách nếu
bộ máy lãnh đạo của Việt Nam đồng lòng với nhân dân trong
nước đang khao khát thay đổi cục diện. Một mặt, bằng các
chiêu thức ngoại giao cao tay, Trung Quốc vô hiệu dần dần các
đồng minh của Việt Nam và kéo hẳn nó vào lòng mình. Mặt
khác, Trung Quốc tạo ra cảm giác họ đang đồng hành với
Việt Nam trong bối cảnh cả hai nước đồng hành trên con
đường xây dựng XHCN. Thực tế đã cho thấy, trong một quốc
gia, sự không đồng lòng giữa lãnh đạo tối cao và nhân dân
sẽ khiến cho sức mạnh của họ suy yếu. Duy trì được sự
suy yếu đó, nghĩa là khoét sâu được mâu thuẫn giữa thượng
tầng và hạ tầng sẽ tạo ra được một nước Việt Nam tồn
tại ở dạng "đầu Ngô, mình Sở" và dễ dàng thao túng.
Chỉ cần can thiệp được vào nội tình Việt Nam và khống
chế được bộ máy cai trị, sự đối nghịch nội bộ sẽ
khiến Việt Nam luôn ở trong tình thế bị nội thương và luôn
èo uột. Thắng được nước cờ này, Trung Quốc đã yên tâm
hơn để thi triển những ngón đòn khác trong một tình thế mà
Việt Nam không còn khả năng kháng cự.

Thứ hai, Việt Nam như là một quân tốt trên bàn cờ Trung Quốc
đang đấu lại với phần còn lại của thế giới. Sự phát
triển bất chấp các quy luật và bài học về đạo đức của
Trung Quốc đã biến nó thành mối lo ngại của thế giới. Khó
có thể nói nhân dân Việt Nam, thậm chí cả một số nhà lãnh
đạo cao nhất trong Đảng lại không nhận ra mối lo ngại này
(lập trường của VN trong cuộc họp thượng đỉnh ASEAN vừa
mới đây mách với ta điều đó). Làn sóng phản đối Trung
Quốc lẽ ra đã biến thành một cơn sóng thần đủ sức làm
thay đổi nhiều thứ liên quan đến vận mệnh đất nước nếu
như nó không bị ngăn chặn sau khi đã diễn ra trong suốt 11
tuần liền ở Hà Nội và một phần thành phố Hồ Chí Minh.

Như đã nói, sự bành trướng của chủ nghĩa bá quyền đã làm
thay đổi quan điểm của nhiều quốc gia trong mối quan hệ với
Trung Quốc, đặc biệt là các nước láng giềng. Nói cách khác,
thậm chí những tham vọng không biết điều của nước này đã
biến nó thành kẻ thù hoặc ít nhất là một mối nguy hiểm
thường trực của đa số các nước láng giềng. trên thực
tế, trong khoảng 10 năm tính đến 2012, cả Ấn Độ, Nhật
Bản, Mông Cổ, Nga, Nhật Bản đã có những động thái nhìn
nhận gã khổng lồ đang trỗi dậy bằng con mắt nghiêm khắc
và đầy quan ngại. Việt Nam, trong tình huống đã từ bỏ khả
năng phản xạ đó, trở thành hướng đi khả dĩ nhất cho con
đường bành trướng quyền lực xuống phía Nam, ra Thái Bình
Dương qua hướng biển Đông. Đây chính là nguyên nhân quan
trọng nhất buộc Trung Quốc phải khắc chế để Việt Nam
không trở thành một chướng ngại vật. Điều đó cũng là
một sự khẳng định về việc Trung Quốc sẽ cảm thấy bất
an như thế nào nếu Việt Nam thực sự là một quốc gia giàu
mạnh và có tiếng nói trung lập.

Như vậy, thách thức thứ năm, cũng là thách thức lớn nhất
của Đảng cộng sản Việt Nam chính là việc nó có thực sự
mong muốn thoát ra khỏi sự ảnh hưởng của Trung Quốc hay
không. Giải Hoa, Phi Hoa, trong đa số trường hợp được sử
dụng như một ngữ nghĩa học thuật. Nhưng trong bối cảnh này,
nó là giải pháp ứng xử chính trị có tính quyết định đến
việc khẳng định lý do tồn tại của Đảng trong lòng xã hội
Việt Nam. Suy cho cùng, các biện pháp tuyên truyền hay hào quang
trong quá khứ không thể mãi là thành trì và cũng không đủ
vững vàng đảm bảo cho một vị trí lãnh đạo của Đảng
nữa. Sự tồn tại của nó trong tương quan với quan hệ Việt
Nam – Trung Quốc tuyệt nhiên cũng không phải là yếu tố có
tính quyết định mà bản thân Đảng phải nhận thức. Đảng
Cộng Sản Việt Nam phải chính danh trong chính đất nước mà
nó được sinh ra và tự nhận là đại diện. Mất tính chính
danh đi là mất tất cả.

<h2>Kết luận: Vẫn chưa quá muộn để thay đổi</h2>

Sự tồn tại của quốc gia Việt Nam, từ thưở khai quốc,
tuyệt nhiên không phụ thuộc vào một triều đại, một hệ tư
tưởng lãnh đạo, hoặc một đảng phái nào. Không có một
triều đại, không có một hệ tư tưởng lãnh đạo hoặc một
đảng phái nào là sự bảo đảm duy nhất cho tiến trình đó.
Chỉ có ở trong bản chất một nền văn hóa nuôi dưỡng lòng
yêu nước chân chính, một chủ nghĩa dân tộc bản lĩnh và khao
khát theo đuổi lợi ích dân tộc là những yếu tố không thể
bị đánh cắp hoặc tráo đổi.

Đã đến lúc từ bỏ tất cả những gì không phù hợp cho hệ
quy chiếu này để tham gia vào cuộc chạy đua cùng nhân loại.
Đã đến lúc từ bỏ, ngay cả khi đó từng là một ý thức
hệ thiêng liêng và nhìn lại nguyên nhân của mọi yếu kém,
xấu xa hiện tại để đặt ra những vấn đề có tính hiện
thực và chân giá trị hơn. Hãy thực sự nghiêm túc với nhau,
với chính mình để trả lời cùng nhau những câu hỏi mà việc
giải đáp nó bằng sự quyết tâm đích thực sẽ giúp tìm ra
được bí quyết đưa đất nước đi lên: Còn bao nhiêu trẻ em
chưa thực sự được đến trường, chưa được chăm sóc bằng
tình thương yêu và sự nghiêm khắc của đạo đức và tinh
thần nhân văn? Còn bao nhiêu người dân trong nước chưa được
tiếp cận thông tin từ thế giới, được học tập để có tay
nghề, được hưởng một cuộc sống tinh thần thoải mái, thanh
thản, được tôn trọng các quyền cơ bản và không sợ bị
bỏ tù khi bày tỏ chính kiến. Và họ, với tư cách là chủ
nhân đất nước và khai sinh của quyền lực quốc gia đã hoặc
có được tham gia quyết định các vấn đề liên quan đến sinh
mệnh của dân tộc hay chưa? Và sau hết, xin hãy tự hỏi liệu
đất nước mình đã có những bước tiến như thế nào so với
chính mình và các nước khác về lòng nhân ái, tình yêu thương
và sự tin cậy của người dân các quốc gia khác trên hành tinh
này?

H.A.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/12245), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét