viện nhằm kiểm soát quyền lực của Chính phủ. Bỏ phiếu
tín nhiệm phải mang trong nó ý nghĩa cải tổ, xây dựng, ngăn
chặn sự tồn tại kéo dài một Chính phủ yếu
kém.</strong></em>
Ở CHLB Đức, công cụ quan trọng nhất của Hạ nghị viện
nhằm kiểm soát quyền lực Chính phủ là <em>Hạ viện có
quyền tuyên bố bất tín nhiệm Thủ tướng</em>.
Lần đầu tiên trong lịch sử của Đức vấn đề Hạ nghị
viện có quyền bỏ phiếu tín nhiệm Thủ tướng được đặt
ra tại Điều 54 Hiến pháp dân chủ của Cộng hòa Weimar năm
1919. Sau một thời gian thực hiện, qui định này tỏ ra bất
cập, vì theo qui định này Hạ viện có quyền bất tín nhiệm
Thủ tướng, nhưng không qui định nghĩa vụ của Hạ viện
phải đồng thời tìm ra được một người kế nhiệm thay thế
Thủ tướng xứng đáng hơn. Những nhà khoa học và các chính
trị gia cho rằng qui định này không chứa đựng trong đó yếu
tố xây dựng hay cải tổ (destruktives Missvertrauensvotum) và có
thể dẫn tới nguy cơ chia rẽ nội bộ hoặc duy trì một Chính
phủ yếu, thiếu bền vững.[1]
Rút kinh nghiệm từ Hiến pháp cộng hòa Weimar, Luật cơ bản
(LCB) của Cộng hòa liên bang Đức[2] sau này tại Điều 67
Khoản 1 Câu 1 đã qui định Hạ viện chỉ có thể tuyên bố
chính thức bất tín nhiệm Thủ tướng khi Hạ nghị viện đã
bầu ra được một Thủ tướng kế nhiệm mới với tỷ lệ đa
số tuyệt đối. Quy định này được gọi là bỏ phiếu tín
nhiệm có tính chất xây dựng và cải tổ (konstruktives
Missvertrauensvotum).[3]
Về thủ tục, theo Điều 67 Khoản 1 Câu 2 Luật tổ chức
Hạ nghị viện[4] thì đề nghị bỏ phiếu tín nhiệm phải do
một phần tư (1/4) Nghị sĩ của Nghị viện ký tên đề nghị
và trong đề nghị đó phải đề cử được Thủ tướng kế
nhiệm để Hạ viện bầu.
<center><img
src="http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2012/03/26/09/20120326095716_300911Duc.jpg"
/></center>
<center><em>Lần đầu tiên trong lịch sử của Đức vấn đề
Hạ nghị viện có quyền bỏ phiếu tín nhiệm Thủ tướng
được đặt ra tại Điều 54 Hiến pháp dân chủ của Cộng hòa
Weimar năm 1919.</em></center>
Theo Điều 67 Khoản 2 LCB thì trong vòng 48 tiếng đồng hồ (2
ngày), sau khi nhận được đề nghị, việc bầu người kế
nhiệm Thủ tướng (Nachfolger) phải được tiến hành. Nếu ứng
viên kế nhiệm đạt được đa số tuyệt đối,[5] theo nguyên
tắc tổng phiếu bầu đạt được 50% + 1 trên tổng số thành
viên Hạ nghị viện (Mitgliedermehrheit des Bundestages - Điều 76
Khoản 1 Câu 1 LCB),[6] coi như thủ tục bầu Thủ tướng kế
nhiệm thành công. Sau đó Tổng thống liên bang ra quyết định
chính thức miễn nhiệm Thủ tướng đương nhiệm và bổ nhiệm
Thủ tướng mới (Điều 67 Khoản 1 Câu 2 LCB).
Cho đến nay ở nước Đức có hai lần Hạ nghị viện tiến
hành bỏ phiếu tín nhiệm Thủ tướng vào năm 1972 và 1982, tuy
nhiên chỉ một lần Hạ nghị viện bỏ phiếu bất tín nhiệm
thành công vào năm 1982. Năm đó Thủ tướng đương nhiệm Helmut
Schmidt (thuộc Đảng SPD) bị Hạ viện bỏ phiếu bất tín
nhiệm và người kế nhiệm là Helmut Kohl (thuộc Đảng CDU)
được bầu làm Thủ tướng.
<strong>Bảng 1. Bỏ phiếu tín nhiệm[7]</strong>
<table><tr><td>Thời gian</td><td>
Người kế nhiệm (Đảng)</td><td>
Thủ tướng đương nhiệm (Đảng)</td><td>
Tổng phiếu bầu người kế nhiệm</td><td>
Tổng phiếu không tán thành hợp lệ</td><td>
Không bỏ phiếu</td><td>
Không có mặt/ Không bỏ phiếu</td><td>
Kết quả bất tín nhiệm?</td></tr>
<tr><td>27/4/1972</td><td>
Rainer Barzel (CDU)</td><td>
Willy Brandt(SPD)</td><td>
247</td><td>
10</td><td>
3</td><td>
236</td><td>
Không thành công</td></tr>
<tr><td>1/10/1982</td><td>
Helmut Kohl (CDU)</td><td>
Helmut Schmidt (SPD)</td><td>
256</td><td>
235</td><td>
4</td><td>
2</td><td>
Thành công</td></tr></table>
Khác với bỏ phiếu tín nhiệm (Missvertrauenvotum) là phải do
Hạ viện tiến hành, việc thăm dò tín nhiệm (Vertrauensfrage)
theo Điều 68 LCB do Thủ tướng tự đề xuất.
Kết quả thăm dò tín nhiệm sẽ đưa đến hai khả năng:
<span class="underlined-text">Khả năng 1:</span> Nếu Thủ tướng
vẫn nhận được sự ủng hộ của Nghị sĩ Hạ nghị viện
(đạt được tín nhiệm của quá nửa số Nghị sĩ) thì Thủ
tướng sẽ tiếp tục điều hành Chính phủ - một Chính phủ
mà thủ tướng nhận được tín nhiệm đa số (Mehrheitskanzler).
<span class="underlined-text">Khả năng 2:</span> Nếu Thủ tướng
không nhận được sự ủng hộ của Hạ viện, Thủ tướng có
thể lựa chọn một trong 3 cách thực hiện dưới đây:
<em>Cách 1:</em> Thủ tướng vẫn tiếp tục điều hành Chính
phủ, nhưng lúc này là một Chính phủ thiểu số
(Minderheitskanzler). Việc thăm dò tín nhiệm là quyền của Thủ
tướng và cũng không ép buộc Thủ tướng phải từ chức ngay
khi không đạt được tín nhiệm đa số, nhưng vấn đề ở
chỗ nếu chỉ được thiểu số ủng hộ, Thủ tướng sẽ gặp
nhiều khó khăn trong điều hành Chính phủ và tình trạng ấy
là không thể mãi kéo dài.
Một điều khá thú vị theo Luật pháp Đức là ngay cả khi
không đạt được tín nhiệm, nhưng luật vẫn cho phép Thủ
tướng một cơ hội cuối cùng để lấy lại sự tín nhiệm
của mình. Đây là tình huống đặc biệt, Chính phủ có thể
đệ đơn đề nghị Tổng thống ban bố tình trạng khẩn cấp
về lập pháp (Gesetzgebungsnotstand) tối đa trong 6 tháng, trên cơ
sở sự đồng thuận của Thượng nghị viện (Bundesrat) theo
Điều 81 Khoản 1 Câu 1 LCB. Theo Điều 82 Khoản 2 Câu 1 LCB, trong
khoảng thời gian này các đạo luật có thể được thông qua,
ban hành bởi Chính phủ liên bang và Thượng viện (Bundesrat),
không cần đến sự đồng ý biểu quyết thông qua của Hạ
viện (Bundestag).[8]
<em>Cách 2:</em> Thủ tướng từ chức và Hạ nghị viện bầu
Thủ tướng mới theo Điều 63 LCB. Thực ra cũng không cần chờ
đến sau khi có kết quả thăm dò, trong nhiệm kỳ của mình,
Thủ tướng hoàn toàn có thể từ chức bất cứ lúc nào.
<em>Cách 3:</em> Thủ tướng có thể đề nghị Tống thống
liên bang giải tán Hạ viện theo Điều 68 Khoản 1 Câu 1 LCB.
Giải tán Nghị viện phải diễn ra trong vòng 3 tuần kể từ khi
có kết quả thăm dò không đủ phiếu tín nhiệm. Sau khi giải
tán Hạ viện, một Hạ nghị viện mới phải được bầu trong
vòng 60 ngày (Điều 39 Khoản 1 Câu 4 LCB).
Theo Điều 68 Khoản 1 Câu 1 LCB, Hạ viện không có quyền tự
giải tán (kein Selbstauflösungsrecht). Việc giải tán Hạ viện
phải thỏa mãn cả hai điều kiện cả về hình thức và nội
dung:
- Điều kiện hình thức (formelle Auflösungslage): Qua kết quả
thăm dò tín nhiệm cho thấy sự tín nhiệm với thủ tướng và
chính phủ không đạt được đa số tuyệt đối.
- Điều kiện nội dung (materielle Auflösungslage): Thủ tướng
mất tín nhiệm của Hạ viện do không đủ năng lực điều
hành dựa trên những bằng chứng cụ thể. Nếu tiếp tục duy
trì và không nhận được ủng hộ của Hạ viện, đất nước
sẽ rơi vào tình trạng chính trị thiếu bền vững
(politisch-instabile Situation).
Thiếu hai điều kiện này việc giải tán Hạ nghị viện có
thể bị coi là giải tán giả (unechte Vertrauensfrage) và là hành
vi vi phạm hiến pháp. Lường tính khả năng giải tán giả,
phán quyết của Tòa án Hiến pháp liên bang số 114 (BVerfGE 114,
121, 155 ff.) đã có qui định cụ thể về cấm việc giải tán
Hạ nghị viện giả để tranh thủ kéo dài nhiệm kỳ mới của
Thủ tướng.[9]
Trong lịch sử của Cộng hòa liên bang Đức, việc thăm dò
tín nhiệm đến nay đã được sử dụng 5 lần. Trong đó chỉ
có hai lần (dưới thời Thủ tướng Schmidt 1982 và Schroeder 2001)
đủ phiếu tín nhiệm của Hạ viện (echte Vertrauensfragen).
Dưới thời các thủ tướng Brandt 1972, Kohl 1982 và Schroeder 2005,
sau khi thăm dò tín nhiệm, Thủ tướng không đạt đủ đa số,
đã đề nghị Tổng thống giải tán Hạ viện. Đặc biệt, năm
1983 và năm 2005 các Hạ nghị sĩ đã đệ đơn lên Tòa án Hiến
pháp liên bang yêu cầu xem xét chống lại kế hoạch giải tán
Hạ viện này. Cả hai lần này Tòa án hiến pháp liên bang đã
đều bác đơn của các Hạ nghị sĩ vì không đưa ra được
những bằng chứng cần thiết.[10]
<strong>Bảng 2. Thăm dò tín nhiệm[11]</strong>
<table><tr><td>Thời gian</td><td>
Thủ tướng (Đảng)</td><td>
Tín nhiệm</td><td>
Không tín nhiệm</td><td>
Không bỏ phiếu</td><td>
Không có mặt/ Không hợp lệ</td><td>
% Biểu quyết tín nhiệm</td><td>
Kết quả tín nhiệm?</td><td>
Hệ quả pháp lý</td></tr><tr><td>
20/9/ 1972</td><td>
Willy Brandt (SPD)</td><td>
233</td><td>
248</td><td>
1</td><td>
14</td><td>
47%</td><td>
Không đủ tín nhiệm</td><td>
Giải tán Hạ viện</td></tr><tr><td>
5/2/ 1982</td><td>
Helmut Schmidt (SPD)</td><td>
269</td><td>
225</td><td>
0</td><td>
3</td><td>
54,1%</td><td>
Đủ tín nhiệm</td><td> </td></tr><tr><td>
17/12/ 1982</td><td>
Helmut Kohl (CDU)</td><td>
8</td><td>
218</td><td>
248</td><td>
23</td><td>
1,6%</td><td>
Không đủ tín nhiệm</td><td>
Giải tán Hạ viện</td></tr><tr><td>
16/11/ 2001</td><td>
Gerhard Schröder (SPD)</td><td>
336</td><td>
326</td><td>
0</td><td>
4</td><td>
50,5%</td><td>
Đủ tín nhiệm</td><td> </td></tr><tr><td>
1/7/ 2005</td><td>
Gerhard Schröder (SPD)</td><td>
151</td><td>
296</td><td>
148</td><td>
5</td><td>
25,2%</td><td>
Không đủ tín nhiệm</td><td>
Giải tán Hạ viện</td></tr></table>
Như vậy có thể thấy rằng bỏ phiếu tín nhiệm chính là
công cụ của Hạ viện kiểm soát quyền lực của Chính phủ.
Một mặt Hạ nghị viện bầu ra Thủ tướng thì phải chấp
nhận chính sách hay con đường chính trị của Thủ tướng đưa
ra, mặt khác khi chính sách của Thủ tướng qua một thời gian
thực hiện trên thực tế cho thấy không hiệu quả, không nhận
được ủng hộ của Hạ viện thì phải có biện pháp giải
quyết ngay, để tìm người kế nhiệm xứng đáng hơn không
để tình trạng trì trệ, yếu kém kéo dài. Mong muốn của
những nhà lập hiến Đức là làm sao để <em>bỏ phiếu tín
nhiệm phải mang trong nó ý nghĩa cải tổ, xây dựng, ngăn chặn
sự tồn tại kéo dài một Chính phủ yếu kém</em>. Vì vậy
ngoài qui định phải đạt được 1/4 số Nghị sĩ Hạ viện
đề nghị, cần phải đưa ra được một người kế nhiệm
xứng đáng hơn Thủ tướng đương nhiệm. Người Đức cho
rằng cách làm minh bạch này sẽ tạo ra một cơ chế cạnh tranh
"khỏe mạnh", đồng thời hạn chế nguy cơ chia rẽ trong Hạ
nghị viện.
<em>Nếu như bỏ phiếu tín nhiệm là sự tác động từ bên
ngoài, thì việc thăm dò tín nhiệm là sự chủ động tự thân
từ bên trong</em>. Hai cơ chế này tác động tương hỗ, bổ sung
cho nhau, hối thúc liên tục việc xây dựng một Chính phủ
hiệu năng. Thông qua bỏ phiếu tín nhiệm Chính phủ, Nghị
viện thực hiện khả năng kiểm soát quyền lực của Chính
phủ, thực thi trách nhiệm là cơ quan đại diện của nhân dân.
Thông qua việc thăm dò tín nhiệm, Thủ tướng có thể biết
được sự ủng hộ của Hạ viện đối với chính sách của
mình đến đâu, để từ đó có sự điều chỉnh hợp lý. Đây
là cách làm bản chất là hướng tới sự minh bạch.
[*] Tác giả Nguyễn Minh Tuấn là nghiên cứu sinh Khoa Luật, ĐHTH
Saarland, CHLB Đức; Giảng viên Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà
nội.
___________________
[1] Xem thêm L. Berthold, Das konstruktive Misstrauensvotum und seine
Ursprünge in der Weimarer Staatsrechtslehre. in: Der Staat. Duncker &
Humblot, Berlin 36.1997, S. 81ff
[2] Ở Đức Luật cơ bản (Grundgesetz) là Hiến pháp, văn
bản pháp lý có hiệu lực cao nhất trong hệ thống pháp luật.
Văn bản này được Hội đồng Nghị viện (Das Parlamentarische
Rat) thông qua ở Bonn vào ngày 8 tháng 5 năm 1949, công bố trên
Công báo Số 1 năm 1949, có hiệu lực từ ngày 24 tháng 5 năm
1949. Sau khi nước Đức thống nhất, Luật cơ bản có hiệu
lực trên toàn nước Đức cho đến nay.
[3] Ch. Gröpl, Staatsrecht I, 2. Aufl. 2010, Rn. 1393f.
[4] Luật tổ chức Hạ nghị viện liên bang Đức
(Geschäftsordnung des Deutschen Bundestages) thông qua ngày 2 tháng 7
năm 1980, công bố tại Công báo số 1 năm 1980, có hiệu lực
ngày 1 tháng 10 năm 1980.
[5] Trong khoa học Luật hiến pháp ở Đức, người ta phân
chia thành 3 loại đa số gồm đa số tương đối, đa số đơn
giản (hay còn gọi là đa số tuyệt đối) và đa số tiêu
chuẩn.
- Phần lớn trong các cuộc bầu cử người ta áp dụng đa
số tương đối (relativ) - bầu người có số phiếu cao hơn (Ví
dụ: Điều 63 Khoản 4 LCB);
- Đa số đơn giản (einfach) (Ví dụ: Điều 42 Khoản 2 Câu 1
LCB) hay đa số tuyệt đối (absolut) (Ví dụ Điều 63 khoản 2
Câu 1 LCB, bổ sung bởi Điều 121 LCB) là đa số quá bán theo
nguyên tắc 50% + 1 phiếu bầu
- Đa số tiêu chuẩn (qualifiziert) - phải đạt được mức
cụ thể, thông thường là 2/3 trong tổng số thành viên đồng
thuận (Ví dụ: Điều 79 Khoản 2 LCB, Điều 77 Khoản 4 LCB).
[6] Đa số còn tiếp tục được phân loại theo từng
trường hợp cụ thể dựa theo số lượng số phiếu tán thành
trên tổng số phiếu được đưa ra (Zustimmungsquorum) và đa số
dựa trên tổng số đại biểu (Beteiligungsquorum). Trong trường
hợp này là đa số tuyệt đối dựa trên tổng số đại biểu
tức là tổng số phiếu bầu người kế nhiệm trên tổng số
thành viên Hạ nghị viện. (Xem thêm Ch. Gröpl, Staatsrecht I, 2.
Aufl. 2010, Rn. 1393ff.).
[7] Thông tin trên được tổng hợp từ trang thông tin chính
thức của Chính phủ liên bang Đức (Bundesregierung) tại:
http://www.bundesregierung.de/Webs/Breg/DE/Homepage/home.html và trang
thông tin chính thức của Hạ nghị viện liên bang Đức
(Bundestag) tại:
http://www.bundestag.de/dokumente/textarchiv/2010/28643198_misstrauenvoten_serie/index.html
truy cập gần nhất ngày 29/01/2011.
[8] H. Maurer, Staatsrecht I, 5. Aufl. 2007, § 14 Rn. 1f.
[9] F. Reimer, Vertrauensfrage und Bundestagsauflösung bei
parlamentarischer Anscheinsgefahr, JuS 2005, 680-683.
[10] H. Maurer, Staatsrecht I, 5. Aufl. 2007, § 14 Rn. 26f; Ch. Gröpl,
Staatsrecht I, 3. Aufl. 2011, Rn. 1393f.
[11] Thông tin trên được tổng hợp từ trang thông tin chính
thức của Chính phủ liên bang Đức (Bundesregierung) tại:
http://www.bundesregierung.de/Webs/Breg/DE/Homepage/home.html và trang
thông tin chính thức của Hạ nghị viện liên bang Đức
(Bundestag) tại:
http://www.bundestag.de/dokumente/textarchiv/2010/28643198_misstrauenvoten_serie/index.html
truy cập gần nhất ngày 29/01/2011.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/12130), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét