Lê Nguyên Hồng - Mười một lý do để thay đổi thể chế chính trị độc đảng ở Việt Nam

<strong>Lời dẫn:</strong> Cần phải xác định rằng, ban đầu
ĐCSVN do ông Trịnh Đình Cửu – một nhà cựu lãnh đạo của
tổ chức Đông Dương Cộng Sản Đảng, làm lãnh đạo – là
một tập hợp đại đa số những người yêu nước chân chính.
Và thời kỳ trước ngày thành lập ĐCSVN (3/2/1930) các tổ
chức đảng Cộng Sản như: Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn,
An Nam Cộng Sản Đảng, và Đông Dương Cộng Sản Đảng, đều
do người Việt chủ trương theo chủ nghĩa Cộng Sản thuần
chất Việt Nam. Nhưng với sự xuất hiện của ông Hồ Chí Minh,
hướng đi của ĐCSVN đã rẽ sang một con đường khác. Đó là
lý do bao quát và khởi thủy, khiến người Việt Nam nhất
định phải tiến hành thay đổi thể chế chính trị 1 đảng
cầm quyền ở Việt Nam.

<h2>Lý do thứ nhất: ĐCSVN thực chất chỉ là một chi bộ của
Quốc Tế Cộng Sản 3 do Đảng Bôn xê vích Nga (Lê Nin đứng
đầu) sáng lập.</h2>

<center><img
src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiIMxuDMeRF21I9JicUqVf94JLrR7-RATTPW1a5bAH0QcNz68zk8OxEY-iyhKw9C4erZ9cbJ9TFApZQZXjsE4rRozGUEqr2qvu4t8K6YaS0-VO7TqYN3cVGLemLFeUrmKWen8km88lQ2dg/s1600/1.jpg"
/></center>
<center><em>Lê Nin trước đám đông</em></center>

Để xúc tiến việc mở rộng Đảng Bôn xê vích Nga khuynh loát
ra toàn thế giới, năm 1919 Lê Nin đã đơn phương xúc tiến
đảng này thành lập <a
href="http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30682&cn_id=235068">Quốc
Tế Cộng Sản (QTCS) 3</a> nhằm loại bỏ Phái Giữa và Phái
Hữu trong QTCS 2. Vì vậy QTCS 3 không phải là sự kế tiếp của
QTCS 2 và QTCS 1. Ông Hồ Chí Minh (năm 1924 tên là Nguyễn Ái
Quốc) là uỷ viên Bộ phương Đông của QTCS 3, trực tiếp phụ
trách Cục phương Nam.

Như vậy với việc chủ trì thành lập ĐCSVN (thời kỳ sau gọi
là Đảng Lao Động Việt Nam), ông Hồ Chí Minh đã biến <a
href="http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30061&cn_id=210418">3
tổ chức Cộng Sản thuần Việt</a> thành 1 tổ chức chính trị
chi nhánh của Đảng Bôn xê vích. Chính vì lý do trên, cho nên
người ta không ngạc nhiên gì khi ông Hồ Chí Minh nhắm mắt
nhận chỉ thị từ Stalin, phát động cuộc Cải Cách Ruộng
Đất đẫm máu tàn sát hàng chục ngàn người dân vô tội –
đồng bào của ông ta – tại Việt Nam trong những năm 1950 của
thế kỷ trước.

Thời kỳ sau năm 1945 bản thân Liên Xô lúc đó cũng còn đang
rất bận bịu với việc hàn gắn vết thương chiến tranh.
Đồng thời lo việc mở mang địa giới hành chính của Liên
Bang Xô Viết. Vì vậy họ chưa thể đi sâu đi sát trong việc
chỉ đạo quân cờ Việt Nam. Nhưng ngày 30/1/1950 họ cũng đã
chính thức dặt mối quan hệ ngoại giao với Hà Nội: Những
người Nga mặc thường phục đầu tiên đã bước chân đến
Việt Nam với vai trò ngoại giao, nhưng thực chất là chỉ đạo
chiến lược biến Việt Nam thành "tiền đồn" tấn công
thế giới Tư Bản, mà chiến trường Miền Nam Việt Nam là một
sự thử nghiệm đầu tiên. Nhưng cũng không thể quên việc
Stalin đã chỉ đạo ông Hồ Chí Minh thực hiện cuộc Cải Cách
Ruộng Đất.

Ngày 31/10/1952 Hồ Chí Minh lúc đó đang có mặt tại Moscow, đã
gửi liền 2 bức thư xin chỉ đạo của Stalin về chương trình
Cải Cách Ruộng Đất. Chỉ riêng việc ông Hồ Chí Minh phải
viết thư cho Stalin xin chỉ thị mà không được gặp trực
tiếp theo nghi thức ngoại giao, đã cho thấy tư cách Việt Nam
chỉ là loại chư hầu đối với Liên Xô.

Một chỉ dấu khác cho thấy Liên Xô không coi trọng Việt Nam
đó là, tuy thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1950 nhưng mãi
đến ngày 4/11/1954 họ mới cử đại sứ sang Hà Nội. Tổng bí
thư Khrushev và Bouglanin đã sang thăm Ấn Độ, Myanmar, Apganixtan
tháng 12/1955. Đồng thời vào tháng 8/1958 và tháng 10/1959 hai
nhân vật kể trên đã hai lần thăm Trung Quốc, nhưng họ không
thăm Việt Nam.

Đối với ĐCSVN do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo, họ đã quên
mất một điều quan trọng: Họ là người Việt Nam, họ cần
độc lập trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Chính vì không có tư tưởng độc lập cho nên họ đã làm
việc như những cái máy, chỉ biết tuân theo sự điều khiển
của người thợ máy. Nếu đủ sáng suốt, chính quyền Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa thời đó cần dựa vào người Pháp khi
họ quay lại Việt Nam trong vai trò của một nước Đồng Minh.
Và nếu làm tốt điều này thì Việt Nam đã hoàn toàn tránh
được cuộc chiến với Pháp kéo dài từ 1946 đến năm 1954.
Nhưng tất nhiên họ phải chấp nhận mất độc quyền về
chính trị.

Đối với cuộc chiến tranh Nam – Bắc Việt Nam từ 1954 đến
1975 nếu ĐCSVN biết dựa vào quốc tế và nghiêm chỉnh chấp
hành những điều đã ký kết tại Hội nghị Geneve năm 1954 thì
kịch bản chiến tranh đẫm máu "nồi da nấu thịt" đã
không xảy ra. Và tất nhiên người dân Việt Nam không cần đổ
máu vô ích vì lý tưởng của Chủ Nghĩa Cộng Sản. Bằng
chứng là Đông Đức và Tây Đức cuối cùng họ vẫn có thống
nhất trong hòa bình. Hoặc mặc dù ban đầu có chiến tranh,
nhưng Nam Hàn và Bắc Triều Tiên đã biết dừng lại cùng xây
dựng chính thể riêng, mà không cần bắt buộc phải cố sức
tàn sát lẫn nhau như ở nước ta.

Việc ĐCSVN bị lệ thuộc ngoại bang từ tư tưởng chính trị
đến phương châm hành động, đã đưa đất nước chìm đắm
trong bom rơi đạn nổ suốt 30 năm ròng. Điều đó cho thấy
mọi sự mất làm chủ sẽ chỉ dẫn đến sự mù quáng trong
hành động. Một đảng cầm quyền mà chỉ chăm chăm vào những
lý tưởng không tưởng mãi tận đâu đâu, chỉ chăm chăm chờ
chỉ thị của nước lớn, thì quả nhiên họ chỉ xứng đáng
ở vị trí của tuồng rối và bù nhìn.

<h2>Lý do thứ 2: ĐCSVN tiếm quyền lãnh đạo xã hội. </h2>

Tuy chưa có bất kỳ một văn bản pháp lý nào trước bản
Hiến pháp năm 1992 xác định quyền lãnh đạo đất nước của
ĐCSVN, nhưng trên thực tế mọi hoạt động điều hành quốc
gia từ 1945 đến nay đều do một vài cá nhân trong Trung ương
ĐCSVN thao túng và toàn quyền. Chúng ta phải thừa nhận, trong
quá khứ họ đã có công nhất định trong việc lãnh đạo nhân
dân bảo vệ tổ quốc, đồng thời ĐCSVN cũng có những cố
gắng trong việc phát triển đất nước trong thời kỳ đầu cho
đến khoảng cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990 –
thế kỷ XX.

<center><img
src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhINRRUSObhC30PQUauWL6DcvXgV3fHlnKxbcFc1QrrYUpkWzc-RabTasecv2Y-uM7DY087sTKx0XmffhhTiGkvOsFKNoNfVKE51GqmeLFAQpKf0gl2rclBZeXMQfGJRVhZUQo7uQ8cDAE/s1600/2.jpg"
/></center>
<center>Một số đảng viên ĐCSVN từng tham gia vụ xả súng "Ôn
Như Hầu"</center>

Sự kiện Việt Nam giành độc lập năm 1945 là cơ may khi Nhật
đầu hàng Đồng Minh và Pháp chưa kịp trở lại Việt Nam.
Việc giành chính quyền tại Hà Nội cũng là do người dân tự
giác tiến hành mà không cần tốn công sức và xương máu.
Nhưng sau khi từ Việt Bắc về Hà Nội, ĐCSVN tuyên bố giành
chính quyền và thành lập chính phủ liên hiệp. Sau khi ổn
định đất nước, họ đã lần lượt loại bỏ các đảng
phái chính trị và các thành phần ngoài ĐCSVN trong chính phủ
liên hiệp để chiếm thế độc quyền.

Ngày 12/7/1946 lực lượng Việt Minh dưới sự chỉ đạo của
ông Hồ Chí Minh và chỉ huy của Võ Nguyên Giáp, Huỳnh Thúc
Kháng, đã nổ súng bắn chết nhiều thành viên thuộc Chính
phủ liên hiệp là người của Việt Nam Quốc dân Đảng và
Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội, bắt giữ trái phép nhiều
người khác. Để giữ an toàn tính mạng, các lãnh tụ Đảng
Việt Cách là Nguyễn Hải Thần (phó chủ tịch chính phủ) và
các thành viên Việt Quốc - Việt Cách khác trong chính phủ như
Nguyễn Tường Tam (bộ trưởng Bộ Ngoại Giao), Vũ Hồng Khanh
(phó chủ tịch Ủy Ban Kháng Chiến) phải chạy trốn ra nước
ngoài. Sự kiện trên được ĐCSVN gọi là "sự kiện Ôn Như
Hầu".

Ngày 3/11/1946 Hồ Chí Minh lập ra chính phủ mới, nhưng ngay trong
chính phủ này (gồm 14 thành viên chủ chốt) cũng chỉ có 3
người là của Việt Minh (ĐCSVN). Còn lại 11 người khác đều
là người thuộc Đảng Dân Chủ, Đảng Việt Quốc, Đảng
Việt Cách và không đảng phái. Kéo dài đến tận năm 1955, lúc
đó chính phủ đã mở rộng thêm nhiều bộ mới, và với thủ
thuật của ông Hồ Chí Minh biến ĐCSVN thành 2 phe: Việt Nam
Độc Lập Đồng Minh và Đảng Lao Động Việt Nam, nhưng chính
phủ nói trên vẫn chiếm đại đa số là người không đảng
phái và thêm vào đó là người của các đảng phái mới xuất
hiện như Đảng Xã Hội, Đảng Xã Hội Pháp, Đảng Dân Chủ
Việt Nam, và các đảng có từ trước như Việt Nam Quốc Dân
Đảng…

Trải qua một thời kỳ khá dài ĐCSVN không phải là lực
lượng toàn quyền, nhưng dưới sự chỉ đạo trực tiếp của
Liên Xô, ông Hồ Chí Minh đã lần lượt loại bỏ tất cả
những thành phần không đảng phái và các đảng phái khác trong
chính phủ, để đưa ĐCSVN leo lên nắm độc quyền điều hành
đất nước. Còn 2 đảng khác là Đảng Dân Chủ và Đảng Xã
hội, ĐCSVN cho sống thoi thóp đến năm 1988 thì họ cũng bị
bức tử nốt. Kể từ đây, nhất là sau khi Hiến pháp 1992 ra
đời, ĐCSVN đã cưỡng chiếm thế độc tôn tuyệt đối về
quyền lãnh đạo đất nước.

<h2>Lý do thứ 3: ĐCSVN lừa dối nhân dân.</h2>

Kể từ sau khi thành lập ĐCSVN năm 1930, vai trò tổng bí thư
của đảng này chỉ là bù nhìn. Tất cả các chức danh tổng
bí thư của Trần Phú, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Trường Chinh
vv.., đều dưới quyền chỉ đạo của Hồ Chí Minh. Để nhấn
mạnh quyền lực của cá nhân, tại Đại hội ĐCSVN lần 2
(1951) ông Hồ Chí Minh đã phát minh ra chức danh "chủ tịch
đảng" cho mình, chức vụ này về mặt hình thức thấp hơn
tổng bí thư. Nhưng lại có thực quyền cao hơn tổng bí thư.
Điều trớ trêu này đã trực tiếp gây họa cho tổng bí thư
Trường Trinh khi phải chịu trách nhiệm về vụ "Cải cách
ruộng đất", trong khi thực ra chủ trương và trực tiếp chỉ
đạo thực hiện là Hồ Chí Minh.

Tháng 10/1956 Trường Chinh từ chức, Hồ Chí Minh đương nhiên
điều hành ĐCSVN liên tục 13 năm, đến tận năm 1969 – năm
ông ta qua đời. Đại hội ĐCSVN lần 3 năm 1960 (lúc đó vẫn
còn gọi là Đảng Lao Động) cũng chỉ đề xuất ông Lê Duẩn
làm Bí thư thứ nhất Ban chấp hành trung ương Đảng. Như vậy
ĐCSVN đã tự lừa dối mình và lừa dối nhân dân, biến mình
thành một thứ áo khoác ngoài cho "ông vua" Hồ Chí Minh.
Điều này càng được khẳng định thêm, khi chức danh Chủ
tịch nước của ông Hồ Chí Minh được miễn truy cứu trách
nhiệm hình sự trong mọi trường hợp, trừ khi phạm tội phản
bội tổ quốc (Điều 50 – Hiến pháp 1959). Nghĩa là Hồ Chí
Minh có quyền làm bất cứ việc gì phạm pháp, kể cả giết
người, đều không bị truy tố.

Trong mọi văn bản luật và dưới luật (kể từ Hiến pháp
trở xuống) do ĐCSVN chỉ đạo soạn thảo, họ đều đưa vị
trí quyền lực của nhân dân lên hàng đầu, như "nhà nước
của dân, do dân và vì dân" hoặc "dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra" hay "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản
lý, Nhân dân làm chủ". Nhưng trên thực tế, đó chỉ là
những chiếc bánh vẽ, không có thực chất.

Nếu nhà nước do dân thì tất nhiên các văn bản luật quan
trọng từ Hiến pháp đến Bộ luật hình sự, Bộ luật dân
sự vv.., và các vấn đề trọng yếu của đất nước phải
được nhân dân quyết định bằng những cuộc trưng cầu dân
ý. Trên thực tế, tuy hiến pháp qua các thời kỳ đều ghi
nhận quyền phúc quyết của dân, nhưng việc thực hiện quyền
này chưa một lần được tiến hành, nhất là không có lý do
gì khách quan trong thời kỳ sau chiến tranh từ 1975 đến nay.
Tương tự, nếu nhà nước của dân thì nhân dân có quyền phế
truất nhà nước, khi nhà nước đó không hoàn thành nhiệm vụ.
Nhà nước vì dân thì vấn đề quyền tự do, nhân quyền, và
lợi ích của mọi công dân phải được đặt lên hàng đầu.
Nhưng tất cả đều chỉ là trên giấy…

Hay như trong việc "dân kiểm tra", tức là mọi người dân
có quyền kiểm tra nhà nước. Nhưng cơ chế nào cho phép người
dân tiến hành kiểm tra thì không có. Thậm chí khi một số
người dân yêu cầu tự giác thành lập các tổ chức chống
tham nhũng của dân thì cũng bị cấm đoán, thậm chí còn bị
bắt giữ, câu lưu. Như vậy rõ ràng là "dân biết, dân làm,
dân bàn (bàn gì thì cứ bàn, nghe hay không là quyền của nhà
nước)" còn quyền "kiểm tra" nhà nước thì hoàn toàn
người dân không có! Câu trả lời đơn giản là không có cơ
chế để cho người dân thực hiện quyền hạn của mình…

Theo lập luận của tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ thì ĐCSVN đã "sáng
tác ra một công thức gồm ba vế hòng thay thế cơ chế Tam
quyền phân lập, đó là: "Đảng lãnh đạo, nhà nước quản
lý, nhân dân làm chủ". Thực chất là "Đảng lãnh đạo, Đảng
quản lý, Đảng làm chủ". Vậy nói thể chế chính trị ở
Việt Nam không phải là chế độ dân chủ mà là chế độ toàn
trị bởi ĐCSVN là hoàn toàn có cơ sở. Đó là những điều
dối trá kinh khủng nhất của ĐCSVN!

<h2>Lý do thứ 4: ĐCSVN dâng đất, dâng biển đảo cho ngoại
bang.</h2>

Công hàm ngày 14/9/1958 do ông Hồ Chí Minh chỉ đạo cựu thủ
tướng Phạm Văn Đồng ký xác nhận vùng lãnh hải 12 hải lý
cho Trung Quốc, đánh đấu "cột mốc" đầu tiên cho việc
ĐCSVN công khai dâng biển đảo của cha ông ngàn đời để
lại, cho Trung Quốc. Sự việc trên chỉ được chế độ chính
trị do ĐCSVN lãnh đạo, thừa nhận công khai trong một vài năm
gần đây. Sự thừa nhận đó có được là nhờ sức ép liên
tục của công luận trong và ngoài nước ròng rã hàng chục năm
trời lên thể chế chính trị cầm quyền.


Đối với việc ông Phạm Văn Đồng ký công hàm năm 1959;
nhiều người cho rằng, đó là tình thế bắt buộc, và người
chịu trách nhiệm chính phải là ông Hồ Chí Minh. Điều đó
đúng! Bản thân ông Đồng vốn là một người có thực tài.
Nếu xét trong hàng ngũ lãnh đạo cao nhất của ĐCSVN từ
trước đến nay thì ông Đồng chính là người uyên bác nhất.
Trên thực tế Hoàng Sa đã bị Trung Quốc đem quân tiến chiếm
từ năm 1956. Nhưng thay vì đưa quân ra chiếm lại Hoàng Sa, hay
ít nhất cũng có trách nhiệm lên tiếng phản đối trước công
luận quốc tế, thay mặt ĐCSVN ông Đồng đã ra văn bản cấp
nhà nước công nhận tuyên bố chủ quyền 12 hải lý của chính
phủ Trung Quốc. Hành động đó chỉ có duy nhất một cách lý
giải thuyết phục, đó là hành động từ chối lãnh thổ quốc
gia – hành động bán nước.

Không những thế, năm 1974 khi Trung Quốc mở cuộc tấn công
quân sự quy mô lớn xâm lược Hoàng Sa (lúc đó thuộc Việt Nam
Cộng Hòa quản lý), thì chế độ do ĐCSVN lãnh đạo đã không
hề có bất cứ động thái nào lên tiếng về sự việc nghiêm
trọng này. Riêng đối với Miền Nam Việt Nam, ông Hồ Chí Minh
vẫn tuyên bố đó chính là "máu của máu Việt Nam và thịt
của thịt Việt Nam", nhưng khi máu thịt đó bị xâm phạm,
họ lại cư xử như kẻ ngoài cuộc. Đó chính là bằng chứng
rõ ràng nhất về sự nhẫn tâm bán nước…

Cho đến tận ngày hôm nay, chương trình đàm phán và tiến
hành cắm mốc biên giới Việt Trung kết thúc tháng 12/2008 vẫn
bị chế độ giấu nhẹm. Nhân dân Việt Nam không ai được
biết cụ thể ra sao. Có chăng chỉ là <a
href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/02/090223_vietchina_border_tc2.shtml">những
tuyên bố chung chung trước báo chí</a>. Sự thật thì việc cắm
mốc ranh giới của biên giới Việt - Trung đã làm Việt Nam
mất gần như hoàn toàn các điểm cao chiến lược về quân sự
cho Trung Quốc: Tại Lạng Sơn mất các dãy 820; 636 thuộc xã
Quốc Khánh Huyện Tràng Định. Núi Đất Hà Giang thành Lão Sơn
của Trung Quốc. Núi Bạc thuộc Huyện Yên Ninh thành dải Âm
Sơn của Trung Quốc vv... Chưa kể đến việc mất phần lớn
thắng cảnh Thác Bản Giốc, và đặc biệt là mất địa danh
Ải Nam Quan - một chứng tích oai hùng trong lịch sử chống quân
xâm lược Phương Bắc.

Vấn đề phân định biên giới lãnh thổ, và kể cả các tranh
chấp, là điều vẫn thường xảy ra giữa các quốc gia có chung
đường biên giới với nhau. Nhưng việc nhà nước Việt Nam do
ĐCSVN nắm quyền cứ mặc nhiên âm thầm thỏa thuận việc phân
định lãnh thổ với phía Trung Quốc, mà họ không chịu công
khai bàn bạc với nhân dân, là điều khó hiểu. Nếu đã là
công minh, bởi đất nước Việt Nam không phải là của riêng
ĐCSVN; thì họ phải dựa vào dân để bảo vệ quyền lợi
thiêng liêng của tổ quốc. Vì trong dân còn có vô vàn những
bộ óc thông thái có thể tham mưu cho nhà cầm quyền. Hơn thế,
trong dân cũng còn lưu giữ nhiều bằng chứng về biên giới,
lãnh thổ, chủ quyền từ ngàn xưa để lại. Nếu không có
người tra cứu tìm hiểu thì những bằng chứng đó sẽ không
được trưng ra đúng lúc đúng chỗ để chứng minh với phía
Trung Quốc, nhằm giành lấy sự đúng đắn và công bằng.

Để chứng minh cho những quan điểm trên, chúng ta có thể liệt
kê ra hàng chục những văn bản cổ, văn bia cổ, và nhiều
những văn thư, công văn hoạt động hành chính cũng như quân
sự gần đây liên tục được phát hiện trong dân về Hoàng Sa
và Trường Sa. Tin chắc rằng, nếu như vấn đề phân định
biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc mà được công khai
bằng bản đồ tọa độ, bằng các văn bản cấp nhà nước
trên báo chí, rất có thể người dân trong nước(nhất là khu
vực Phía Bắc) sẽ cung cấp cho nhà nước nhiều bằng chứng
thuyết phục về lịch sử đường biên giới Việt -Trung.

Chương trình đàm phán về biên giới Việt – Trung kéo dài
nhiều năm, chỉ riêng việc cắm mốc đường biên cũng đã kéo
dài 7 năm (2001 – 2008), nhưng người dân Việt Nam chỉ được
nghe nói là có việc đó, còn cụ thể ra sao thì không ai được
biết. Người ta có quyền đặt câu hỏi: Nếu như không có
vấn đề gì khuất tất trong việc nhựơng bộ hàng trăm km2 khu
vực biên giới cho Trung Quốc (và không ai dám chắc là không có
kẻ nào nhắm mắt nhượng bộ lãnh thổ để bỏ túi hàng trăm
triệu USD), thì tại sao ĐCSVN lại hành xử một cách bất
thường như vậy? Dù là một người dễ tính nhất, ai ai cũng
phải đặt nghi vấn về những cuộc viếng thăm ngoại giao vừa
công khai, vừa bí mật của các ông cựu tổng bí thư Lê Khả
Phiêu, Nông Đức Mạnh, trong những chuyến thăm "hữu nghị"
với ĐCS Trung Quốc, trong lúc đang diễn ra những vòng đàm phán
Việt – Trung về biên giới…

Hơn thế nữa, một thái độ đớn hèn đến khó hiểu của
ĐCSVN trước những sự thật về việc Trung Quốc tấn công xâm
lược các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, sự việc các
chiến sĩ hải quân Việt Nam bị Trung Quốc tàn sát, đã được
ĐCSVN giấu nhẹm mấy chục năm qua. Chỉ đến ngày 25/11/2011
bằng <a href="http://www.youtube.com/watch?v=BQh8ehPaeW0">phát biểu
của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng</a> thì vấn đề Hoàng Sa và
Trường Sa mới được phơi bày một phần sự thật. Đây cũng
là sự vi phạm chủ trương của chính ĐCSVN trong phạm vi "dân
biết", và điều này đã vi phạm "quyền được biết thông
tin" được xác định trong Điều 69 -Hiến pháp năm 1992.
Những việc làm đó của ĐCSVN là những điều mà lịch sử
thực sự không thể nào chấp nhận!

Người ta cứ nghĩ làm như Lê Chiêu Thống khi xưa mới là bán
nước. Bán nước, theo nghĩa rộng cần phải hiểu đó là hành
vi không tích cực bảo vệ quyền lợi của tổ quốc, nhất là
trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia. Người ta có thể bán
nước cầu vinh, đánh đổi lấy tiền bạc, tài sản, gái
đẹp, thậm chí là chỉ để chạy tội cho riêng mình. Bán
nước, cũng có thể đó chỉ là hành động chấp nhận "xẻo
thịt cơ thể cho thú dữ ăn dần" xuất phát từ việc cầu an
do sợ chết. Những kẻ xấu có thể bán nước hoàn toàn hoặc
từng phần tùy theo hoàn cảnh. Nhưng tội bán nước, dù ở
cấp độ nào cũng xứng đáng bị nguyền rủa ngàn đời…

<h2>Lý do thứ 5: ĐCSVN xa rời quần chúng nhân dân.</h2>

Kể từ khi thành lập, và trong nhiều đề cương chính trị
của ĐCSVN, họ luôn xác định "lấy dân làm gốc". Đây là
một chủ trương đúng đắn, vì thực chất đảng cũng chính
từ dân mà ra. Nhưng trên thực tế nhân dân đã bị ĐCSVN sử
dụng như một thứ công cụ vô tri trong tay mình. Khi khó khăn
thiếu thốn vật chất thì họ huy động sức dân (điển hình
là "tuần lễ quyên vàng" của dân năm 1945). Họ lấy tiền
để đút lót cho quân Tàu Tưởng và nuôi bộ máy của chính
phủ. Sự thật thì việc quyên vàng chỉ nhắm vào giới nhà
giàu yêu nước, còn đại bộ phận nhân dân Việt Nam lúc đó
rất nghèo, không lấy đâu ra của cải để mà quyên góp. Khi
cần phát động chiến tranh thì họ hô hào "cứu nước" để
đẩy người dân lành ra tiền tuyến...

<center><img
src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj3Y4FBusf8qXOeaGBXrK1gqE4y4x7xyhwZ1z-NL95EzimpVlz_-rccKLyFdkmIn_yQ4A5fueb6ZUjN19Ii3YB8-9DDzsPp4bDYHqRo9uTdBerIGCFnXS8pm0U-RCKALtWyjMttjn8fNv4/s1600/5.jpg"
/></center>
<center><em>Đồng bào yêu nước đi quyên vàng tại Hà Nội năm
1945</em></center>


Về việc quyên vàng, xin dẫn chứng lời của Hồ Chí Minh như
sau: "Tuần lễ Vàng sẽ tỏ cho toàn quốc đồng bào và toàn
thế giới biết rằng trong lúc chiến sĩ Việt Minh trên các
mặt trận quyết hy sinh giọt máu cuối cùng để giữ vững
nền tự do độc lập của nước nhà, thì đồng bào ở hậu
phương, nhất là những nhà giàu có, cũng có thể hy sinh được
chút vàng để phụng sự Tổ quốc...". Tuy nhờ có công của
đồng bào có tiềm lực kinh tế giúp nước, nói thật đúng
bản chất sự việc là cứu chính phủ của Hồ Chí Minh thoát
chết trong tay Tàu Tưởng, nhưng sau này ĐCSVN dưới sự chỉ
đạo của Hồ Chí Minh đã giương cao khẩu hiệu "trí, phú,
địa, hào đào tận gốc, trốc tận rễ" để quay lại đàn
áp những người đã có công cứu sống chính phủ lâm thời
(trong đó có Hồ Chí Minh).

Riêng trong chính sách đãi ngộ người có công của chế độ
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (sau này gọi là Cộng Hòa Xã Hội
Chủ Nghĩa Việt Nam) đã cho thấy nhân dân chỉ là thứ công
cụ của ĐCSVN: Những người lính may mắn còn sống sót trở
về sau chiến tranh, không được hỗ trợ bằng những chính
sách tiền lương trợ cấp xứng đáng. Đặc biệt là những bà
mẹ liệt sĩ, vợ con liệt sĩ cũng chỉ được hưởng trợ
cấp tượng trưng (không đủ sống vài ngày trong năm). Đối
với những chiếc huân chương, huy chương, đó chỉ là thứ
đồ chơi không hơn không kém, vì nó không có bất cứ một
khoản vật chất đãi ngộ nào đi kèm. Mãi gần đây thì mỗi
huân huy chương có được chi một khoản rất nhỏ, sau khi
nhiều người có công với nước lên tiếng đòi hỏi. Riêng
những người đã qua đời từ trước thì coi như cống hiến hy
sinh cho đất nước không công…

Một chi tiết xa dân khác của ĐCSVN đó là, ngày nay các cán
bộ công quyền đã là những quan lại thực sự, người dân
khó mà tiếp cận để kêu oan, trình bày nguyện vọng, hay đơn
giản là đóng góp ý kiến xây dựng. Đây là một hiện tượng
tâm lý rất bình thường, vì bất cứ ai, khi đã trở nên giàu
có quyền thế thì tự nhiên họ coi giá trị mình là cao hơn
vị trí đối với người xung quanh. Mà cán bộ công quyền
hiện nay đều giàu hoặc quá giàu, bởi vậy họ xa lánh nhân
dân, xa lánh những người ở tầng lớp nghèo hơn họ là điều
đương nhiên.

Cả một bộ máy công quyền cồng kềnh, rắc rối, thiếu khoa
học thiếu hiệu quả, đã không thể nắm bắt được ý dân,
không hiểu nguyện vọng của dân, và cái quan trọng nhất là
không bảo vệ được nhân dân trước sự tấn công của cái
ác. Ví dụ chỉ một vụ việc có thể nói là nhỏ về quy mô
như vụ Tiên Lãng – Hải Phòng xảy ra ngày 5/1/2012, nhưng chính
quyền từ cấp xã đến cấp thành phố đều không xử lý
được, rốt cục chính phủ lên tiếng nhằm đáp ứng chiêu
trò "an dân". Nhưng nếu bình tĩnh mà suy xét thì trong mắt
ĐCSVN, họ mới chính là lực lượng có những thuộc tính:
"Đảng ta là đạo đức là văn minh"(xác quyết của chế
độ trên các phương tiện truyền thông là như vậy). Vì vậy
nhân dân chỉ là thứ cỏ rác - không có đạo đức, không có
văn minh - sống ở tầng lớp thấp hèn nhất của xã hội mà
thôi…

Một khi ĐCSVN - những người lãnh đạo - không hiểu ý dân,
không hiểu lòng dân thì làm sao có thể đưa đất nước phát
triển đi lên cho được? Ta thử đặt câu hỏi tại sao ĐCSVN
lại xa dân? Rất đơn giản, vì họ biết người dân không có
quyền chọn lựa tổ chức chính trị khác để lãnh đạo đất
nước, bởi hiện tại chỉ duy nhất ĐCSVN là độc quyền tồn
tại. Chẳng khác nào trên bến đò chỉ có duy nhất một con
đò rách nát, ai muốn qua sông thì không có sự lựa chọn nào
khác hơn việc nhắm mắt bước xuống con đò đó, phó thác cho
sự may rủi của số phận. Như vậy hiện nay quan hệ xã hội
đang quay trở về thời Phong kiến: "Dân cần quan, nhưng quan
lại không cần dân". Nếu cứ giữ nhịp "trở về" như vậy
thì Việt Nam sẽ trở về thời Đồ đá cũng không chừng...

<h2>Lý do thứ 6: ĐCSVN không coi trọng nhân tài đất nước,
dẫn đến tình trạng "chảy máu chất xám".</h2>

Một trong những điều kiện để cho người tài phát triển
năng lực tư duy, bộc lộ được những tài năng thiên phú và
công rèn giũa tri thức của họ là yếu tố môi trường sống
và làm việc. Một môi trường tốt, lành mạnh, sẽ tạo điều
kiện cho nhân tài phát triển khả năng cá nhân. Nhưng nếu
không có môi trường thì người tài không có đất dụng võ.

Theo ông Nguyễn Hữu Oanh – nguyên phó trưởng Ban tôn giáo của
chính phủ - nhận định: "Thường người tài hay tự tin, có
lòng tự trọng cao và có bản lĩnh. Hơn nữa, người tài
thường hay thẳng thắn và cương trực, họ không muốn ồn ào,
mặt khác họ hay có ý tưởng mới, nếu gặp người biết
trọng dụng thì đó là thời cơ để người tài thể hiện
mình". Đây là những nhận định rất chính xác! Hàng chục
năm qua do môi trường đào tạo trong nước quá lạc hậu và sau
khi ra trường khó có cơ hội làm việc đúng nghề, đúng năng
lực của mình, nên rất nhiều gia đình có điều kiện đã tìm
cách cho con em mình đi du học, sau đó họ tìm đủ mọi cách
để con em họ được ở lại nước ngoài.

Lấy ví dụ như trường hợp của giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn
Hiệu. Nếu không nhờ các nhà khoa học Liên Xô phát hiện ra
ông, thì ngày nay Việt Nam và thế giới đã không thể có giáo
sư, nhà khoa học danh tiếng Nguyễn Văn Hiệu. Một số trường
hợp khác, đó là những thí sinh đạt điểm tuyệt đối (42/42)
trong những kỳ thi Toán Quốc tế là Lê Bá Khánh Trình (1979),
Lê Tự Quốc Thắng (1982), Đàm Thanh Sơn (1984), Ngô Bảo Châu
(1988), Đinh Tiến Cường (1989), Ngô Đắc Tuấn (1995), Đỗ Quốc
Anh (1997), Lê Hùng Việt Bảo, Nguyễn Trọng Cảnh (2003), tất
cả những người này đều chưa được đầu tư đúng từ chế
độ do ĐCSVN lãnh đạo, cho họ phát triển. Trường hợp giáo
sư Ngô Bảo Châu có may mắn hơn, đó là nhờ gia đình có
điều kiện cho đi du học nên đã phát huy được tối đa khả
năng của mình…

Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay chỉ riêng tại Hoa Kỳ,
cứ 1000 người Mỹ gốc Việt thì có 3,5 người là bác sĩ. Đã
có 280 người Mỹ gốc Việt được cấp bằng phát minh khoa
học của Hoa Kỳ. Đặc biệt là trường hợp tiến sĩ Đoàn
Trung thuộc tập đoàn Micron ở Boise – Idaho có tới 72 bằng
phát minh. Ngoài ra tại Hoa Kỳ, người ta cũng thấy xuất hiện
nhiều nhà khoa học hàng đầu gốc Việt trong nhiều lĩnh vực
quan trọng như Khoa học Vũ trụ (TS Eugene Trịnh, TS Nguyễn Mạnh
Tiến), chế tạo vũ khí chiến tranh (TS Dương Nguyệt Ánh), công
nghiệp Hàng không (TS Cai Văn Khiêm), và còn hàng trăm cái tên
nổi tiếng khác…

Đặc biệt, có hai trường hợp là người Việt, nếu không may
mắn (bị ở lại Việt Nam) thì họ mãi mãi chỉ là những con
người tầm thường vô danh. Thứ nhất, đó là chính khách
người Đức gốc Việt tên là Philipp Roesler - cậu bé mồ côi
vô gia cư ở Việt Nam, hiện lại là đương kim phó thủ tướng
Đức – nguyên là bác sĩ và tiến sĩ kinh tế. Người thứ hai
- Võ Tá Đức - vốn là một cậu thiếu niên đạp xích lô
kiếm cơm nuôi gia đình ở tỉnh Phú Yên, may mắn tìm được
đường ra khỏi Việt Nam và sang Mỹ. Hiện nay anh đang là tiến
sĩ bộ môn khoa học nguyên tử tại một viện nghiên cứu khoa
học danh tiếng, thuộc loại lớn nhất thế giới và quốc gia
Hoa Kỳ, đó là trung tâm Los Alamos.

Như vậy có thể thấy, cho dù trí thông minh của người Việt
chắc chắn không hề thua kém bất cứ chủng người nào trên
thế giới, tài nguyên thiên nhiên thật sự là "rừng vàng,
biển bạc", với quỹ dân số "tuổi vàng" từ 15 đến 59
chiếm gần 62,5%, nhưng sau khi kết thúc chiến tranh tương tàn
tới 37 năm, đất nước Việt Nam vẫn lẹt đẹt trong nhóm
những nước nghèo nhất thế giới. Một trong những nguyên nhân
cơ bản nhất gây nên sự trì trệ và đi xuống của xã hội,
chính là hiện tượng nhân tài thui chột do không được chế
độ đầu tư đúng. Tình trạng đó chỉ có thể giải thích là
ĐCSVN – người đã và đang nắm quyền độc tôn lãnh đạo
đất nước – đã không đủ tâm, không đủ tầm để chèo
lái con tàu Việt Nam.

<h2>Lý do thứ 7: ĐCSVN không phải là nơi tập trung những đại
diện ưu tú của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của
dân tộc.</h2>

Theo Điều lệ của ĐCSVN (<a
href="http://www.xaydungdang.org.vn/Home/vankientulieu/Van-kien-Dang-Nha-nuoc/2011/3346/DIEU-LE-DANG-CONG-SAN-VIET-NAM-khoa-XI.aspx">tài
liệu 19/1/2011</a>) thì "ĐCSVN là đội tiên phong của giai cấp
công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao
động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi
ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của
dân tộc". Ta hãy thử tìm hiểu điều này.

<center><img
src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiYJTBe4KVvx0TV-6plSBEIw0ADsDnQ4Fcr2r3UgzmBb4mrduoyPZEskFkeyRVoNdiiia37VJrKsaf5UQNNqhHUefjuhEGIOl1ri_ElqPJqLDTMxuvU9mr6jqZb5sy5eJlgqZHRgpeON9w/s1600/7.jpg"
/></center>
<center><em>Chân dung chính khách "Gu gờ chấm Tiên
Lãng"</em></center>

Trong thời kỳ đầu giành lại đất nước, nhân dân Việt Nam
hoàn toàn có thể chấp nhận những người chưa phải là những
đại diện ưu tú nhất trong nhân dân, làm những người lãnh
đạo đất nước như ông Hồ Chí Minh (chỉ có bằng Tiểu
học), ông đại tướng Võ Nguyên Giáp (chưa hề 1 ngày đi
lính). Nhưng sau khi ổn định đất nước, đặc biệt là sau
chiến tranh, bất cứ một quốc gia nào muốn phát triển đúng
với khả năng của mình, đều phải chấp nhận những cuộc
thay đổi về nhân sự lãnh đạo đất nước. Đơn giản là
lãnh đạo nhân dân trong chiến tranh hoàn toàn khác việc lãnh
đạo họ trong thời bình. Vì thời chiến là phá, là giết
được càng nhiều người của phe địch càng tốt, còn thời
bình lại cần có những bộ óc lãnh đạo có tài làm kinh tế,
xây dựng đất nước và hàn gắn vết thương chiến tranh…

Thế nhưng trong thời bình, ĐCSVN lại chấp nhận cho nhiều
những cá nhân lên nắm quyền lãnh đạo, chỉ với tiêu chí là
họ đã có thành tích trong chiến tranh. Đặc biệt sau này, có
trường hợp ông Nông Đức Mạnh lên làm tổng bí thư ĐCSVN.
Đây là một "cuộc cách mạng lùi" về nhân sự lãnh đạo
đất nước. Một số nguồn tin cho rằng, có thể vì ông Mạnh
là con trai của ông Hồ Chí Minh (đó có lẽ là cách giải thích
thuyết phục nhất), vì một anh công nhân lâm nghiệp, chưa hề
học qua đại học, nhưng lại được cử đi nghiên cứu sinh
tại Liên Xô, khi về nước cũng không có đề tài nghiên cứu
nào, không có năng lực gì đặc biệt, lại leo lên chức vụ
tổng bí thư ĐCSVN nhanh đến chóng mặt, là điều bất
thường!

Tất cả "tài sản" tinh thần của ông Mạnh để lại cho
người dân Việt Nam sau 2 nhiệm kỳ làm tổng bí thư (2001 –
2011), là đất nước đi xuống, nạn tham nhũng, ô dù móc ngoặc
hoành hành, xã hội rối loạn, tệ nạn xã hội và tai nạn giao
thông tăng vùn vụt. Không những thế, người con trai cả của
ông Mạnh bằng cách nào đó lại dễ dàng được cất nhắc
lên vị trí bí thư tỉnh ủy Bắc Giang, và là ủy viên Trung
ương ĐCSVN. Cũng cần nhắc lại rằng, ông Tuấn có điểm
giống cha mình, tức là học hành ban đầu không đâu đến đâu
(phải đi lao động phổ thông theo diện xuất khẩu lao động
sang CHDC Đức)…

Nếu làm một cuộc điều tra nghiêm chỉnh thì đại đa số các
vị trí lãnh đạo trong ĐCSVN hiện nay đều có học vị tiến
sĩ, phó tiến sĩ. Nhưng thực chất những tấm bằng đó có
chất lượng đến đâu thì rất dễ kiểm tra. Ngay như đối
với cương vị chủ tịch nước của ông Nguyễn Minh Triết
(2006 – 2011), cũng cho thấy ông này thiếu kiến thức lãnh
đạo và tỏ ra không có tầm trong những lời phát biểu trước
toàn thế giới: "Có người ví von, Việt Nam Cuba như là trời
đất sinh ra. Một anh ở phía đông, một anh ở phía tây. Chúng
ta thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới. Cuba thức thì Việt
Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ". Hay như những phát biểu
phi văn học và phản nhân văn của ông Triết tại buổi lễ
khánh thành tượng đài Thánh Gíong: "Công lao là như thế, tài
năng là như thế, nhưng mà không màng chức vụ, danh lợi, không
đòi hỏi ai cám ơn cả, không đòi hỏi phong chức phong tước
gì cả, đánh giặc xong là thanh thản về trời để sống một
cuộc đời vui thú điền viên, một cuộc đời thanh thản…".
Một người với cương vị chủ tịch nước mà phát ngôn như
vậy thì quả là ĐCSVN khéo chọn "nhân tài" cho đảng của
mình!

Ngày 17/2/2012; trước khoảng 500 cán bộ hưu trí trung, cao cấp
tại CLB Bạch Đằng tại hội trường đường Lê Đại Hành,
Hải Phòng, ông Nguyễn Văn Thành – bí thư thành ủy Hải
Phòng, ủy viên trung ương ĐCSVN – đã đăng đàn phát biểu
một diễn văn hết sức ngô nghê về ngôn từ và trái ngược
hoàn toàn với chỉ đạo của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về
vụ Tiên Lãng. Đặc biệt, tuy được cho là có trình độ tiến
sĩ kinh tế và cử nhân Anh văn, nhưng ông Thành lại dùng câu
"Gu gồ chấm Tiên Lãng" hết sức sai lạc đến độ khó tin,
gây ra biết bao lời đàm tiếu bàn tán xôn xao trong dư luận xã
hội. Điều này chỉ có thể lý giải là ông Thành không biết
gì về mạng Internet.

Chỉ với một vài những dẫn chứng như trên, có thể thấy
việc ĐCSVN cho rằng, họ là những đại diện tiên phong của
giai cấp công nhân và của nhân dân lao động cũng như toàn
thể nhân dân Việt Nam, là những lời nói hoàn toàn không có
cơ sở và không có bất kỳ một sự thuyết phục nào. Thực ra
cán bộ cao cấp của ĐCSVN hầu như toàn là một lũ trọc phú
dốt nát (hiểu đó là sự dốt nát do không đủ tầm chứ
không phải là để so sánh với sự thiểu năng trí tuệ), họ
đã thay nhau leo lên nắm quyền bằng cơ cấu phe nhóm ô dù và
bằng những thủ đoạn bẩn thỉu, chứ không phải bằng những
phẩm chất tốt đẹp và tài năng chân chính…

<h2>Lý do thứ 8: ĐCSVN thực ra là một tổ chức tham nhũng từ
cấp trung ương đến địa phương.</h2>

Ai cũng biết tham nhũng có mặt ở nhiều nơi, nhiều nước trên
thế giới. Nhưng nó thực sự đã trở thành đại quốc nạn
của Việt Nam nhiều năm qua. Chính bộ máy thông tin báo chí
của chế độ cũng phải công khai thừa nhận điều này. Hàng
ngày người ta vẫn nghe các cán bộ cao cấp của ĐCSVN kêu gọi
chống tham nhũng, minh bạch tài sản cá nhân cán bộ. Nhưng trên
thực tế họ không để ngỏ một kẽ hở nào để nhân dân có
thể tham gia chống tham nhũng. Tại sao lại có chuyện phi lý
đó? Bởi vì ĐCSVN chỉ hô hào suông nhằm lừa bịp đại
chúng, chứ không có ý định chống tham nhũng thật. Vì tham
nhũng chỉ rơi vào cán bộ công quyền. Mà cán bộ công quyền
thì 100% là đảng viên ĐCSVN. Nếu chống tham nhũng nghiêm túc
thì chẳng lẽ họ lại đi chống lại chính bản thân mình?

Ngày 1/12/2011 tổ chức Minh Bạch Quốc Tế vừa cho ra công bố
Bảng xếp hạng về tham nhũng trên toàn thế giới. Trong đó
họ công bố kết quả điều tra tại Việt Nam cho thấy, tại
các thành phố có tới 40% người dân phải đút lót để có
được dịch vụ cho mình hoặc người thân. Theo bảng tổng
sắp của tổ chức này thì Việt Nam đang đứng thứ 112 trong
số 183 nước trên thế giới. Nhưng trên thực tế tổ chức
Minh Bạch Quốc Tế cũng chỉ căn cứ vào những "số liệu
nổi" do chính chế độ chính trị do ĐCSVN lãnh đạo, cung
cấp. Phần chìm của tảng băng nổi tham nhũng tại Việt Nam
mới thể hiện đúng bản chất vấn đề.

Tại sao nạn tham nhũng lại tiếp tục hoành hành ở Việt Nam
với quy mô và mức độ ngày một tinh vi và trầm trọng hơn?
Nguyên nhân chính là sự bất cập của thể chế chính trị
cầm quyền. Chính cơ chế và sự lỏng lẻo của hệ thống
pháp luật tạo ra tham nhũng, cơ chế dọn đường cho tham nhũng.
Những thiếu hụt, bất cập của cơ chế, của chính sách vĩ
mô, đã tạo ra những "khoảng trời" để cho những hành vi
thao túng kinh tế, thao túng chính trị thỏa sức tung hoành. Đơn
cử ví như sự thiếu chặt chẽ trong tổ chức, quản lý, giám
sát việc chấp hành luật thuế, hay các hoạt động cấp phép
như cấp các giấy phép nhập khẩu, xuất khẩu. Bên cạnh đó,
việc quy hoạch đất đai và việc cán bộ công quyền cố tình
hiểu sai, làm sai luật đất đai, dẫn đến việc quy hoạch
lại đất đai bị chồng chéo, các dự án ma, dự án treo không
quan tâm gì đến quyền lợi của đại chúng nhân dân...

Tất cả các hành vi tham nhũng trục lợi từ đối tượng thứ
2 đều do cơ chế "xin cho" mà ra. Trong đó việc thu các
khoản phí và lệ phí, nói chung là tham nhũng về kinh tế, hoặc
tham nhũng về quyền lực (mua quan bán chức - mục đích cuối
cùng cũng là kinh tế), tựu chung đều dẫn đến việc tiền
bạc chảy vào túi một số cá nhân có quyền lực trong ĐCSVN
từ cấp xã phường đến trung ương.

Hiện nay nạn "rút ruột thuế" đang có chiều hướng gia
tăng, và rất khó kiểm soát. Ai cũng biết thuế là nguồn thu
chủ yếu của quốc gia. Nhưng nếu như doanh nghiệp chịu thuế
(hoặc rộng hơn là người nộp thuế), câu kết với cơ quan
thuế thì nhà nước khó có thể giám sát và kịp thời phát
hiện. Theo cách "làm" này, thay vì người chịu thuế phải
nộp cho nhà nước 100% số tiền thì họ chấp nhận chi cho các
cá nhân có quyền trong ngành thuế khoảng 10 đến 20%, và nộp
ngân sách một khoản chỉ khoảng 30% nữa. Như vậy nhà nước
sẽ thất thu thuế khoảng 40 đến 50%.

Một dạng tham nhũng khác, đã nhắc sơ qua ở trên, đó là tham
nhũng dựa vào việc mua quan bán chức. Những kẻ phải bỏ
tiền ra mua chức sẽ coi đây là một vụ đầu tư. Họ sẽ
phải làm trái, vơ vét thật nhiều hòng bù đắp vào những
khoản tiền ban đầu họ đã bỏ ra để mua chức vụ. Căn
bệnh này có tính dây chuyền từ thấp lên cao, và tác động
cực mạnh đến đời sống toàn xã hội.

Hiện nay nạn tham nhũng có tổ chức, theo ê kíp đang thịnh
hành nhất. Những người có quyền khuynh loát (cỡ như thủ
tướng, bộ trưởng) đang công khai tạo thế lực vây cánh cho
gia đình hệt như cung cách gia đình trị của thời phong kiến.
Việc làm này đang đưa đất nước Việt Nam rơi vào tình
trạng kinh tế nhà nước rơi vào tay các tập đoàn gia đình,
đan xen vào đó là những "tập đoàn" gia đình trị về chính
trị (ví dụ ông Nông Đức Mạnh làm tổng bí thư thì cất
nhắc con trai là Nông Quốc Tuấn lên bí thư tỉnh ủy. Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng thì dựng con gái lên chi phối và
điều hành các tập đoàn kinh tế, con trai lên làm thứ trưởng
Bộ xây dựng, người khác thì nắm Đoàn thanh niên vv…).

Nếu như tiến hành một cuộc khảo sát toàn quốc, kể từ
những đảng viên ĐCSVN làm đội trưởng, đến kế toán các
đội sản xuất tại các nông lâm trường, và các trưởng thôn
trưởng ấp (vùng đồng bằng) thì họ đã là những người
"có máu mặt" về tài sản. Nếu là ở cấp phường xã thì
chủ tịch xã hay trưởng phòng tài chính cấp phường xã thực
sự đã là những người giàu nổi bật so với nhân dân lao
động. Ở các cấp cao hơn như huyện, quận, sở, và các công
ty nhà nước, thì các cán bộ lãnh đạo và quản lý tài chính,
đều là các tỉ phú (có nhiều tỉ tiền Việt). Đối với
cấp tỉnh và tương đương thì cứ theo cấp số mà nhân lên,
cán bộ đầu tỉnh và các bộ ngành, tất cả đều là đại
gia, triệu phú tiền Dollars Mỹ. Tiền đó ở đâu ra, nếu không
là do tham nhũng?


<a
href="http://giaoduc.net.vn/NTD-thong-thai/Thi-truong/Chu-nhan-nhung-biet-thu-bo-hoang-phan-lon-la-quan-chuc/5811.gd">Một
bằng chứng hùng hồn</a> về chuyện nhiều cán bộ ĐCSVN giàu
có bất minh đến độ thừa tiền đầu tư mua hàng trăm biệt
thự "triệu Đô" ở các trung tâm đô thị như Hà Nội, Sài
Gòn, rồi bỏ hoang cho cỏ mọc. Theo thông tin từ đại diện
bán hàng của một doanh nghiệp bất động sản lớn, sở hữu
nhiều dự án đô thị hoành tráng tại phía Tây Hà Nội khẳng
định: có đến 60-70% lượng biệt thự tại các khu đô thị
mới thuộc sở hữu của quan chức nhiều cấp, ngành. Chỉ có
từ 30-40% số biệt thự còn lại thuộc sở hữu của các tổng
giám đốc hoặc các doanh nhân ở Hà Nội hay từ nhiều địa
phương có tiền mua gom...

Hiện trạng trên sẽ đưa đất nước Việt Nam đến đâu? Đó
là thảm trạng tham nhũng không thể kiểm soát, không thể thanh
tra, kiểm tra, vì các đối tượng thanh kiểm tra đều cùng một
tập đoàn gia đình. Đồng thời với "tiêu chí gia đình"
thì nhân tài ngoài xã hội đương nhiên không được trọng
dụng, đất nước cứ như vậy mà đi xuống, còn hầu bao không
đáy của những kẻ tham nhũng thì ngày một phình to. Một ngày
không xa, với nạn tham nhũng bòn rút của công, chiếm đoạt
của dân, tràn lan vô tội vạ như hiện nay, đất nước Việt
Nam sẽ khánh kiệt, vỡ nợ, và thế hệ con cháu chúng ta sẽ
lãnh nhận hậu quả đau đớn đó chứ không phải ai khác!

<h2>Lý do thứ 9: ĐCSVN là nguyên nhân trực tiếp gây nên tình
trạng mất tự do, dân chủ, nhân quyền.</h2>

Mặc dù chỉ là đi sao chép những ý chính trong Tuyên ngôn độc
lập của Hoa Kỳ và Pháp, nhưng bản Tuyên Ngôn độc lập của
Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do ông Hồ Chí Minh tuyên
đọc ngày 2/9/1945 tại Ba Đình – Hà Nội, cũng đã thể hiện
được những nội dung quan trọng về Độc Lập, Tự Do, Nhân
Quyền, Bình Đẳng bác ái. Người dân Việt Nam khao khát tự do
hạnh phúc chỉ mong chờ có vậy. Chính vì họ tin tưởng rằng:
Mình sẽ có tự do, mình sẽ có quyền sống, quyền làm chủ
bản thân cũng như làm chủ đất nước, cho nên dù phải hy
sinh, họ cũng chẳng từ nan. Đây là động lực quan trọng
nhất để người dân lăn xả trong những cuộc chiến mà ông
Hồ Chí Minh lãnh đạo ĐCSVN chủ trương phát động.


<center><img
src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhZgifxZCAfcs4Ht_SX45lep4RRPWhxEx0IVac1SQlZAQ5kw07uX5kQK_ycrS_qAKpLMqPjFBOJEwPh7_j7r869Lm8sfiLX84-ARGiweUqkGcHjC_-rkDjq4zfi9P6IpTuHRndFun6vmJM/s1600/9.jpg"
/></center>
<center><em>Biểu tình bày tỏ lòng yêu nước cũng bị đàn áp
thẳng tay</em></center>


Sự thật bắt đầu bộc lộ ngay từ khi bản Hiến pháp 1959 ra
đời với Điều 50 quy định "miễn tội cho chủ tịch nước,
chỉ ngoại trừ tội phản bội tổ quốc". Đây là một biểu
hiện phân biệt rõ nhất về quyền bình đẳng giữa người
với người. Còn vấn đề tự do, vì bị cuốn vào những cuộc
tàn sát nội bộ và chiến tranh liên miên, người dân cứ
tưởng tự do nghĩa là được cầm súng bắn vào kẻ địch. Sau
này hết chiến tranh họ sẽ được hưởng chế độ "làm theo
năng lực, hưởng theo nhu cầu"…

Kể từ sau khi vụ án Nhân Văn Giai Phẩm (1960), quyền tự do
báo chí đã bị bóp nghẹt, đánh dấu bằng việc ĐCSVN chính
thức ban hành "Sắc lệnh báo chí" và tuyên bố "báo chí
là cơ quan ngôn luận của Đảng". Đó chính là thời điểm
bắt đầu của đêm trường cho báo chí và văn nghệ tự do.
Hóa ra tự do của chế độ do ĐCSVN lãnh đạo chỉ là phải
nghe lời Đảng, làm theo lời Đảng một cách máy móc, bất
biết hậu quả ra sao, không cần biết việc đó có đúng pháp
luật và đạo lý hay không!

Nói một cách công bằng, vấn đề Nhân quyền là một khái
niệm khá mới mẻ (Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền chỉ ra
đời năm 1948). Vì vậy chúng ta cũng không nên bắt bẻ chuyện
ĐCSVN vi phạm nhân quyền trong thời kỳ chiến tranh. Nhưng sau
năm 1975 vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền vẫn là món hàng
quá xa sỉ đối với đại chúng nhân dân. Người dân chỉ cần
mở miệng nói một câu trái với chủ trương của ĐCSVN thì
ngay lập tức bị bắt giữ và cầm tù như một tội phạm
thực sự, thậm chí không cần xét xử.

Một đất nước mà tòa án xét xử cho có hình thức, công an,
Viện kiểm sát cũng chỉ làm việc như những công cụ đàn áp
dân chúng, thì không thể lấy đâu ra sự công bằng. Tất cả
các văn bản luật từ Hiến pháp trở xuống đều đi sao chép,
vay mượn từ những quốc gia khác trên thế giới như Mỹ,
Pháp, Liên Xô vv.., chỉ để trang trí cho chế độ chứ không
được áp dụng cách công bằng, vì vậy những văn bản đó
hoàn toàn vô giá trị đối với những người khao khát tự do,
nhọc công tìm kiếm những giá trị nhân quyền.

Theo báo cáo hàng năm của tổ chức Human Rights Watch thì,
"Việt Nam tăng cường đàn áp những nhà bất đồng chính
kiến trong nỗ lực củng cố quyền lực của Đảng Cộng Sản.
Các nhà chức trách đã bắt giữ hàng trăm người ủng hộ
dân chủ hòa bình, các nhà hoạt động tôn giáo độc lập,
bảo vệ nhân quyền, và các nhà phê bình trực tuyến trên
mạng Internet, họ sử dụng điều luật "Xâm phạm an ninh
quốc gia" mơ hồ, diễn đạt tùy tiện, thiếu cơ sở về các
tội "tuyên truyền chống nhà nước" (Điều 88 Bộ luật hình
sự), hoặc "lợi dụng quyền tự do dân chủ" (Điều 258 –
Bộ luật hình sự).

Mặc dù Việt Nam đã ký kết hầu như tất cả các văn bản
quan trọng với Liên Hiệp Quốc về việc tôn trọng quyền tự
do, dân chủ, nhân quyền. Nhưng dưới áp lực bảo vệ bằng
mọi giá quyền độc tôn lãnh đạo của Đảng, ĐCSVN đã không
để cho người dân tự do hoạt động tôn giáo: Họ bắt buộc
các hoạt động tôn giáo phải nằm dưới sự kiểm soát của
chế độ.

Về quyền tự do lập hội, ĐCSVN yêu cầu các cơ quan chức
năng của họ như công an, giám sát và theo dõi chặt chẽ
"Chính phủ cấm các công đoàn độc lập và các tổ chức
nhân quyền, cũng như các đảng đối lập chính trị. Công nhân
đều bị cấm tiến hành các cuộc đình công không được uỷ
quyền của liên đoàn lao động do Đảng kiểm soát. Các nhà
hoạt động thúc đẩy quyền của người lao động và công
đoàn độc lập bị sách nhiễu, bị bắt giữ, hoặc bị tù"
(Human Rights Watch).

Đối với "Quyền biểu tình" của người dân, tuy được ghi
nhận trong Hiến pháp năm 1992 nhưng người dân không được
hưởng quyền này. Đây là một hành động "đứng trên pháp
luật" của ĐCSVN. Nếu một chế độ có dân chủ, thì quyền
biểu tình thông qua những cuộc biểu tình, là cách nhanh nhất
để chuyển tải ý nguyện của nhân dân đến kẻ cầm quyền.
Nó còn là một vũ khí của đám đông nhằm ngăn chặn kịp
thời những sai lầm của nhà nước đối với chính sách vi mô
và vĩ mô của quốc gia. Tại Việt Nam, ngay cả khi người ta
biểu tình thể hiện lòng yêu nước, như các cuộc biểu tình
chống Trung Quốc tại Hà Nội năm 2011 cũng bị đàn áp không
thương tiếc. Đó là những sự thật không thể chối cãi…

Một chế độ tự xưng là dân chủ, nhưng bất kể ai thu thập
thông tin, chuyển tải thông tin, bằng bất kỳ hình thức nào:
Truyền miệng, dùng phương tiện Internet, nhóm họp bàn luận
vv.., đều bị phá rối và bắt giữ. Trong hàng chục năm qua
chế độ do ĐCSVN lãnh đạo đã ra tay bắt bớ hàng trăm
trường hợp, chỉ vì họ thực hiện quyền thu thập và chuyển
tải thông tin. Mặc dù quyền này cũng đã được chế độ xác
nhận với quốc tế bằng việc ký kết công nhận Tuyên Ngôn
Quốc Tế Nhân Quyền.

Bằng những hành động phi pháp của mình, ĐCSVN đã tạo nên
một môi trường ngột ngạt về tự do, dân chủ, nhân quyền
ở Việt Nam. Đây chính là bằng chứng rõ nhất: Họ chính là
nguyên nhân gây nên tình trạng mất tự do, dân chủ và nhân
quyền. Những việc làm đó đã đi ngược lại xu hướng phát
triển của nhân loại, phủ nhận các giá trị văn hóa của
đất nước!

<h2>Lý do thứ 10: Thực trạng xã hội do ĐCSVN nắm quyền –
rối loạn về nhiều mặt, xuống cấp về mọi mặt.</h2>


Có thể gói gọn sự xuống cấp và rối loạn trong xã hội
Việt Nam hôm nay bằng hai từ: "Mất cắp". Trong đó có thể
liệt kê ra các nội dung mất cắp như: Mất cắp nguồn gốc,
mất cắp danh dự, mất cắp nhân tính, mất cắp văn hóa vv…

Mất cắp nguồn gốc: Không phải ngẫu nhiên mà nhà sử học
Dương Trung Quốc tuyên bố: "Thế hệ chúng ta sau này mất
gốc hoàn toàn. Nếu có tiếp cận phương Tây thì chỉ là tiếp
cận văn minh bề ngoài, phương tiện sống, kiến thức. Chẳng
hạn chúng ta biết tiếng Anh, nhưng không hiểu nền văn minh
của Anh là như thế nào". Thật vậy, nếu làm một cuộc
khảo sát nhỏ thì sẽ thấy đại đa số học sinh, sinh viên
ngày nay không thuộc Lịch Sử nước nhà, không hiểu đâu là
cội nguồn dân tộc, không biết gì về văn hiến ngàn năm

Mất cắp danh dự: Chúng ta đã mất hết danh dự, khi nhượng
bộ cho Trung Quốc nhiều vị trí chiến lược quan trọng trên
đường biên giới đất liền, mất Hoàng Sa và một phần
Trường Sa. Ngư dân Việt Nam bị bắt cóc đòi tiền chuộc ngay
trên vùng biển của quê hương mình. Nhiều trường hợp người
Việt gây án, quậy phá ở nước ngoài, cướp bóc, buôn bán ma
túy, trồng Cần Sa vv… Hiện nay có hàng chục ngàn (con số
thực có thể lên đến hàng trăm ngàn) cô dâu Việt lấy chồng
Đài, chồng Hàn, chồng Trung, mà để trở thành nàng dâu xứ
lạ, mỗi người đã phải trải qua những cuộc "coi mắt"
hoàn toàn lõa lồ cho những gã đàn ông ngoại xem, như một món
hàng. Thậm chí có cả chục phụ nữ Việt bị chính người
Việt dắt mối đi làm thuê bằng cách đẻ mướn cho người
nước ngoài, không phải chỉ bằng phương pháp cấy ghép trong
ống nghiệm – Một hình thức mang thai hộ bắt buộc hết sức
vô nhân đạo, bị phát hiện năm 2010 tại tỉnh Nonthaburi –
Thái Lan. Như vậy chẳng phải vô cớ mà tổng giám mục Ngô
Quang Kiệt đã từng phải thốt lên: "Tôi nhục nhã khi mang
hộ chiếu Việt Nam"

<center><img
src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhbvcUvf4L3OSdr_8WcjjRl_MtiSzUtDLLRB8eAzLi6pMlJPp_7y2DPz2rlUFo-jErRxaVfiake6BxgT7LfKozhfLNuCh7GaXMUmLFl0XlXQ3dEynsewDwM3g2WRK66SXk8olCORyuTY9c/s320/10.jpg"
/></center>
<center><em>Nét mặt đau khổ của người bị mất cắp tại Hà
Nội van xin kẻ cắp trả lại giấy tờ tùy thân</em></center>

Mất cắp nhân tính: Ngày nay nếu không có việc cần thiết thì
không mấy người lương thiện nào thich bước ra khỏi nhà
mình. Vì ra khỏi cửa là có thể gặp cướp bóc, chém giết,
hãm hiếp tràn lan, người ta sẵn sàng lao vào ẩu đả nhau,
đâm chém, thậm chí dùng cả súng để hạ sát nhau, nguyên nhân
xuất phát chỉ vì một va chạm nhỏ trong giao thông, mà một
lời xin lỗi cho cả hai phía là đã quá đủ để làm hòa.
Đến nỗi, không hiểu vì thiếu hiểu biết hay căm ghét cuộc
đời nghèo túng của mình mà muốn trả thù đời, một số
người trồng rau chỉ vì một bó rau giá vài ngàn bạc, đã
sẵn sàng sử dụng thuốc trừ sâu cực độc, sẵn sàng phun
các loại hóa chất, và cả dầu nhớt vào rau trước ngày thu
hoạch, rồi vô tư đem bán…

Mất cắp văn hóa: Người nước ngoài đến Việt Nam không thể
đoán được gạch lát nền các trung tâm sinh hoạt văn hóa công
cộng như Cung văn hóa hữu nghị Việt – Xô, Nhà hát lớn ở
Hà Nội, Sân khấu Lan Anh, Trống Đồng, Nhà hát kịch ở Sài
Gòn làm bằng loại đá hoa nào. Kỳ thực nó được các nam
thanh nữ tú dùng bã kẹo cao su "tô điểm" thành những hoa
văn có một không hai. Rồi lễ hội hoa trở thành lễ hội
cướp hoa, Đường phố, vườn hoa, công viên ở những nơi
đông người, sau những ngày lễ và mỗi tối thứ bảy đều
ngập ngụa rác thải. Chưa bao giờ người ta lại lo lắng cho
nền văn hóa bị vong bản như ở Việt Nam hiện nay. Mọi thứ
đều được đặt trên giá trị đồng tiền. Thanh thiếu niên
càn quấy, tụ tập lập băng đảng đua xe, hút chích, thác
loạn. Người ta quay cuồng, hối hả trong sự đảo điên, mà
đích đến chỉ là vật chất, tiền bạc và nhục dục…

Mất cắp giáo dục: Chưa bao giờ và có lẽ là không có nơi
nào trên thế giới xảy ra quá nhiều những chuyện tày trời
về tha hóa, mất đạo đức trong ngành Giáo dục và quan hệ
thầy trò như ở Việt Nam: Thầy giáo cưỡng dâm học sinh, đưa
học sinh vào con đường bán dâm cho các đại gia cán bộ nhà
nước, học sinh chém cô giáo vì bị cho điểm kém, thầy cô say
sưa móc túi phụ huynh học sinh trong "dịch vụ" học thêm
dạy thêm. Rồi chuyện chạy lớp chạy trường, nạn bằng cấp
giả mạo, bằng cấp thật kiến thức giả, Bộ giáo dục loay
hoay hàng chục năm trời vẫn không thể cho ra đời, dù chỉ
một bộ sách giáo khoa tiểu học cho hoàn chỉnh (chưa dám nói
đến các cấp cao hơn), thôi thì đủ thứ chuyện ngang tai trái
mắt vô phạm trong ngành Giáo dục…

Mất cắp sự công bằng: Công bằng không có nghĩa là cào
bằng, nó chỉ mang tính tương đối. Nhưng chưa bao giờ nó lại
thể hiện việc bị mất cắp rõ rệt như hiện nay. Câu nói
"con vua thì lại làm vua" chẳng có sai. Nếu là con cái một
quan chức cấp huyện trở lên đến trung ương, hay từ cỡ giám
đốc chẳng hạn, thì chắc chắn người đó sẽ có cơ hội
vào học tại các trường có đầu ra "ngon ăn", tức là dễ
kiếm việc làm, lương cao, có việc ở thành thị. Cao hơn thì
sẽ được đi du học nước ngoài bằng tiền tham nhũng, hoặc
bằng tiền học phí công khai do nhà nước chi trả. Chưa bao
giờ lũ con ông cháu cha lại ngông nghênh hợm hĩnh, cao ngạo và
trác táng như hiện nay. Người ngay thẳng, chống tiêu cực, thì
bị trù dập trả thù dã man và hèn hạ. Hệ thống công quyền
đang tự tạo ra những mối quan hệ giữa các cá nhân nắm
quyền ở mọi cấp, bằng một sợi dây xích nhằng nhịt, kết
nối bởi tiền – Quyền, giống như một băng đảng xã hội
đen. Một sự đảo lộn trật tự đến chóng mặt, quay
cuồng…

Mất cắp quyền sống: Một con người sẽ chỉ là một con vật
nửa người khi bị tước quyền sống, quyền tự do. Bởi vậy
nhân loại mới đặt vấn đề Nhân quyền lên hàng đầu trong
các quyền sống của con người. Nhưng ngày nay chuyện đó là
chuyện xa sỉ ở Việt Nam. Anh muốn chỉ trích ai cũng được,
lên án ai cũng được, nhưng trừ chính quyền ra. Nếu vi phạm
điều này thì ngay lập tức có "hai chiếc Còng", đó là
điều 88 Bộ luật hình sự sẽ "bập" vào tay anh. Anh có
đất đai, nhà cửa nhưng không được trao đổi, mua bán vì rơi
vào một dự án treo. Anh có nhà nhưng không được sửa chữa
vì đây là phố cổ, làm gì cũng phải cần được nhà nước
cho phép vv và vv… Tóm lại con người của anh chỉ thuộc về
anh một phần, còn lại thì thuộc quyền của Đảng, của nhà
nước, anh có quyền sở hữu thân thể nhưng không có quyền
sở hữu hành vi chính đáng của mình…

Mất cắp lòng tin: Hệ lụy và là kết quả của mọi sự mất
cắp, đó là mất lòng tin. Lòng tin là cái mà người ta thường
phải mất rất nhiều thời gian để xây dựng nên, nhưng nó
lại rất dễ bị mất đi, vì chỉ cần "một sự bất tín"
là "vạn sự bất tin" ngay. Trước đây người dân tin vào
Đảng, vào bác Hồ, vì được nghe tuyên truyền là "Bác và
Đảng sống cho dân cho nước". Nhưng rút cục, bác Hồ cũng
là người dối trá, tự viết sách ca ngượi bản thân mình
(Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch -
Trần Dân Tiên), bác cũng có vợ, thậm chí còn có tới hai, ba
vợ (Tăng Tuyết Minh, Nông Thị Xuân…). Mà trái khoáy ở chỗ:
Vợ Bác cũng không nhận, con Bác cũng chẳng dám công khai.

Đối với ĐCSVN thì ngày nay các "quan" Đảng từ cấp xã
phường đến trung ương, họ đều là những người giàu có
hơn hẳn người dân lao động. Một bộ phận lớn cán bộ nhà
nước đã trở thành các đại gia, triệu phú, tỉ phú tiền
Dollars Mỹ, nhờ vào tham nhũng, cướp bóc, bòn rút của dân,
của quốc gia, bằng đủ mọi hình thức. Người dân mạnh ai
nấy sống cho riêng mình, xã hội đã phân hóa rõ ràng tầng
lớp bị trị và kẻ thống trị. Nhà nước sợ nhân dân nổi
loạn chống chính quyền, nhân dân sợ nhà nước lừa dối,
đàn áp. Vậy còn ai tin ai?


<h2>Lý do thứ 11: Hiện nay ĐCSVN đã mất thực quyền lãnh đạo
đất nước. Họ chỉ còn là một dạng "ốc mượn
hồn".</h2>

Trước những năm 1990 ĐCSVN lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt
của nhà nước, bao trùm lên cả Hành pháp, Tư pháp và Lập
pháp. Tuy nhiên, điểm lại lịch sử, có thể rút ra nhận xét:
Trong chiến tranh, trên vị trí cao nhất của chính trường,
quyền lực tối cao của ĐCSVN đã làm tốt vai trò của nó trong
thời chiến, bởi vì chiến tranh đòi hỏi sự tập trung quyền
lực như thế mới có thể thành công. Chính sự tập trung
quyền lực ấy là chìa khóa của sự thắng lợi, cho dù cái
gọi là "thắng lợi" đó cũng chẳng để làm gì, và nó
không có gì là vẻ vang khi họ "chiến thắng" chính đồng bào
của mình!


<center><img
src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgXwjsK3Y90SBAhlHgJNorNhmkMGhfgC-D5zjDPV6b5TmQhRq5qEBLrA2AFngPWDgIyqJr4_5eXlWWE9bK_jqthsQv0cL1Hc-tX_7N847sS4HjfZV6HgQHxC0bjkzcq0jWW3NF8MaMUBP0/s1600/11.jpg"
/></center>
<center><em>Ốc Mượn Hồn đẹp thế, nhưng thực ra con ốc đã
chết,
chỉ có cái vỏ bên ngoài, còn bên trong là con vật
khác.</em></center>


Tuy nhiên, kể từ khi cố gắng hội nhập nền kinh tế thị
trường, ĐCSVN đã buộc phải trao quyền quyết đoán về kinh
tế tài chính cho chính phủ. Một hiệu ứng dây chuyền đã
trực tiếp tác động vào cơ chế điều hành các hoạt động
kinh tài từ chính phủ đến tỉnh, huyện và xã. Trong khi
trước đây, quân đội, công an, các cấp hành chính từ xã
đến trung ương, vai trò của chính ủy hay bí thư đảng ủy là
vai trò cao nhất. Những người đứng đầu tổ chức Đảng
tại các đơn vị và địa phương có quyền quyết định hầu
như tất cả, đặc biệt là thu chi tài chính.

Nhưng kể từ khoảng cuối những năm 80 đầu những năm 90 của
thế kỷ trước, ĐCSVN buộc phải đẻ ra cơ chế kinh tế thị
trường "theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa". Điều này
lại nảy sinh nhu cầu độc lập tự quyết của khối chính
quyền. Theo tác động dây chuyền, vì vậy đã có biến đổi
lớn về vai trò lãnh đạo của khối quân sự và khối Đảng
ngay cả trong các lực lượng võ trang.

Người xưa thường nói: Mạnh vì gạo, bạo vì tiền. Không
phải ngẫu nhiên mà quyền lực trong bất kỳ xã hội nào đều
có xu hướng tập trung vào tay các nhà quản lý kinh tài. Một
khi ĐCSVN không thể quyết định được việc thu chi, các khoản
đầu tư đều do chính phủ nắm trọn, thì quyền lực của họ
cũng theo đó bay đi. Họ chỉ còn có thể sử dụng Quốc hội
để quản lý. Nhưng Quốc hội vốn chỉ là cơ quan mang tính
hình thức, nội dung vẫn do các cán bộ nhà nước từ cao đến
thấp tham gia, cho nên Quốc hội có mà cũng như không. Như vậy
chính cái cơ chế "định hướng" không giống ai là nguyên
nhân quan trọng nhất, tước đi quyền lãnh đạo của ĐCSVN.


Một hiện tượng tâm lý đã ngấm ngầm diễn ra nhiều năm
qua, đó là những người có thực tài, và có con mắt thực
dụng, đã sử dụng chiếc áo đảng viên chỉ là thứ bề
ngoài cho có đủ lệ bộ. Họ tìm cách nắm giữ những vị trí
có thực quyền quyết định về tài chính trong cơ quan, đơn
vị, từ dân sự đến quân sự. Nếu thử làm những cuộc
điều tra tại bất kỳ một cơ quan hay đơn vị nào, người ta
cũng dễ dàng nhận thấy: Nếu được cử đi đào tạo theo
ngạch Đảng thì nhiều người không chịu đi, đương nhiên
những người có năng lực yếu hơn sẽ được chọn cho có
đủ số lượng. Như vậy dần dà, những người được đào
tạo chuyên trách Đảng đã bổ xung cho đội ngũ đó nhiều
những cá nhân yếu kém.


Người ta cứ ngỡ nằm mơ, khi thấy những chính khách cỡ ủy
viên trung ương ĐCSVN như ông Nguyễn Văn Thành – bí thư thành
ủy Hải Phòng – nói câu "Gu gờ chấm Tiên Lãng" trước
ống kính báo chí và trước cử tọa hơn 500 người. Nhưng đó
là sự thật về trình độ và "tầm" của cán bộ đảng
chuyên trách thời nay. Họ được đào tạo từ phong trào Đoàn
thanh niên, hoặc do sự đùn đẩy của tổ chức (cho nghỉ việc
thì không nỡ nhưng giao việc thì lại không làm được) mà lên
nắm những vị trí như vậy. Cho nên họ ngày một trở nên
thụ động đến ngu dốt. Thử hỏi hiện nay một cán bộ
chuyên trách Đảng làm việc bao nhiêu giờ một ngày? Tại cơ
quan họ làm những gì, nếu không phải là đọc báo, xem ti vi
và uống trà giết thời gian?


Trong cơ cấu chính trị hiện nay ở tầm quốc gia, người ta
thấy ngay vai trò của thủ tướng hoàn toàn khuynh loát vị trí
tổng bí thư. Đơn giản vì thủ tướng đang nắm quyền sinh
quyền sát về kinh tế. Thủ tướng có quyền bãi nhiệm bổ
nhiệm từ cấp lãnh đạo các bộ, đến các tỉnh, có quyền
phong hàm tướng tá cho các cá nhân trong lực lượng võ trang
(việc thông qua quốc hội chỉ là hình thức, vì 100% đề xuất
của thủ tướng về nhân sự đều "được" quốc hội chấp
nhận). Vì vậy quyền lực cao nhất vô tình đã rơi ra ngoài
tầm với của ĐCSVN. Người ta cũng có thể thấy quyền bất
khả xâm phạm của thủ tướng trong vụ tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ
kiện thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Đồng thời người ta cũng
thấy ông Dũng đã vượt quyền Quốc hội trong việc ký kết
dự án khai thác Bauxite chỉ bằng thủ thuật lách luật đơn
giản là xé nhỏ dự án để mức thẩm quyền ký duyệt không
vượt quá 35 ngàn tỉ đồng cho mỗi dự án.


Mấu chốt vấn đề đã rõ, hiện nay vị trí lãnh đạo của
ĐCSVN chỉ còn là hình thức, giống như con ốc mượn hồn mà
thôi. Họ đã tự đánh mất thực quyền bởi tổ chức Đảng
đã dung nạp quá nhiều những con người bất tài như Đỗ
Mười, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Văn Thành.
Đó là đơn cử ở cấp trung ương, còn ở cấp xã, cấp huyện
và cấp tỉnh, chắc chắn sự yếu kém còn kinh khủng hơn nữa.
Nhưng họ vẫn tồn tại vì hư danh và chỉ là bình phong cho
những kẻ có thực quyền.

<h2>Kết luận: Chỉ có duy nhất một con đường - loại bỏ
ĐCSVN ra khỏi đời sống chính trị xã hội.</h2>

Giải thể ĐCSVN – nói một cách hình tượng sát thực hơn là
"giải tán ĐCSVN"- là mục tiêu rõ ràng và mang tính sống
còn đối với toàn thể gần 90 triệu người Việt trong và
ngoài nước. Đây chính là nút thắt của sợi dây oan khiên,
bất công, đã trói buộc người dân Việt Nam gần 70 năm qua.
Nhiều người cho rằng ĐCSVN chính là cú lừa chính trị lớn
nhất trong lịch sử dân tộc, điều đó quả không sai. Nhân
dân Việt Nam ngàn năm văn hiến, dũng cảm, anh hùng, bỗng tự
trói tay, nhắm mắt, lầm lũi bước theo ĐCSVN một cách mù
quáng và hoàn toàn vô thức bởi "mâm cỗ" tự do trên giấy
mà ĐCSVN đã vẽ ra…


Nhưng vì cơ cấu "Đảng lãnh đạo" quái dị, cho nên ĐCSVN
gắn liền với cơ chế quản lý nhà nước. Chính vì lý do này
nên việc giải tán ĐCSVN chỉ có hai con đường: Hạ bệ bằng
con đường nghị viện, thông qua tổng tuyển cử đa đảng,
hoặc là bằng một cuộc cách mạng lật đổ. Nhưng cho dù
bằng cách nào đi nữa thì việc giải tán ĐCSVN là điều cấp
bách không thể chậm trễ.


Một thế mạnh về lý và pháp lý cho nhân dân Việt Nam khi họ
đã quá chán ghét chế độ Cộng Sản, đó là ĐCSVN có một
tử huyệt mà lâu nay những người đấu tranh chưa khai thác
triệt để: Tuy ĐCSVN được hiến pháp (cũng do ĐCSVN lập ra)
quy định họ "là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội"
(Điều 4 -HP), nhưng trong Bộ luật hình sự của họ lại không
quy định bất cứ điều khoản nào nhằm bảo vệ ĐCSVN bằng
pháp luật. Chỉ có các điều khoản bảo vệ nhà nước (gồm
Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp) mà thôi. Vì vậy đương nhiên
là chống Đảng và lật đổ Đảng là không hề phạm pháp (xin
xem thêm bài "<a
href="http://lenguyenhong.blogspot.com/2011/12/chong-ang-va-lat-o-ang-co-pham-phap-hay.html">Chống
Đảng và lật đổ Đảng có phạm pháp hay không?</a>").

Qua 11 lý do và đồng thời cũng là nguyên nhân gây nên thảm
trạng xã hội trải dài gần 70 năm qua, được điểm trong 11
phần trước của bài viết "Mười một lý do để thay đổi
thể chế chính trị 1 đảng cầm quyền hiện nay ở Việt
Nam", mặc dù đó chưa phải là tất cả mọi lý do chủ quan
và khách quan, nhưng đó cũng đồng thời chính là những nguyên
nhân và thực trạng quan yếu nhất để thấy rằng: Lựa chọn
hay là chết, không còn đường nào khác, người dân Việt Nam
cần phải tiến hành một cuộc cách mạng thay đổi thể chế,
thay đổi thể chế Cộng Sản lạc hậu cũ nát phản dân chủ
hiện nay do ĐCSVN độc quyền lãnh đạo, bằng hành động cụ
thể là giải tán ĐCSVN.


Không có lý do gì, khi người chủ đích thực của đất nước
lại đi sợ hãi một nhúm người thiểu số trong trung ương
ĐCSVN. Không có lý do gì, nhân dân Việt Nam lại mãi chấp
nhận, khi ĐCSVN thực chất chỉ là đứa con sinh sau đẻ muộn
và nay hoàn toàn côi cút, của Đảng Bôn Sê Vích lạc loài tận
trời Âu. Không có lý do gì, khi cha đẻ và là cái nôi của ĐCS
- thành trì của cái gọi là "Chủ Nghĩa Xã Hội"- đã tan
rã, đã bị người dân Liên Xô lật đổ từ lâu, thì ĐCSVN
(một thứ quái thai dị dạng theo voi hít bã mía) lại cứ mãi
tồn tại…


Nguyên nhân của sự cam chịu nằm ở đâu? Đó chính là sự
sợ hãi. Đúng, sự sợ hãi của người dân chính là một trong
những lý do để ĐCSVN tồn tại đến tận ngày hôm nay. Mặc
dù ĐCSVN chỉ còn là một dạng ốc mượn hồn, nhưng những
kẻ có thực quyền trong trung ương ĐCSVN lại đang sử dụng
tấm bình phong ấy làm lá chắn an toàn bảo vệ cho chiếc ghế
quyền lực, hòng vơ vét thật nhiều của cải làm giàu cho
riêng mình. Những kẻ đó đang nắm sức mạnh tuyệt đối về
vũ lực là quân đội và công an. Không những thế, hệ thống
tư pháp bù nhìn – công cụ đàn áp núp danh pháp lý – cũng
đang thuộc quyền kiểm soát của họ.


Đến giờ phút này ĐCSVN đã lộ rõ là một tổ chức chính
trị lạc loài, bịp bơm, bán nước, dối trá, tham nhũng, tàn
bạo và phản dân chủ. Họ không có cách gì để che đậy bản
chất xấu xa nữa, và có thể họ cũng chẳng thèm quan tâm
đến danh dự (vì họ làm gì có danh dự). Ngày nay ĐCSVN hiện
nguyên hình là một tổ chức cầm quyền kiểu Phong kiến: Gia
đình trị, dùng bạo lực trấn áp, biến người dân thành con
sâu cái kiến, thành công cụ sai khiến trong tay họ. Nhưng lịch
sử đã chứng minh: Hàng loạt những triều đại Phong kiến tàn
bạo, sẵn sàng tru di tam tộc, cửu tộc những người chống
đối, rốt cuộc cũng vẫn bị lật đổ.


Trong những thời khắc nhạy cảm như hiện nay, đôi khi "khai
hỏa" cho sự sụp đổ của "triều đại" do ĐCSVN cầm
quyền lại chính là người Cộng Sản, là các đảng viên
ĐCSVN. Họ có thể lật đổ nhau vì nhiều lý do, và có thể
bằng nhiều con đường. Đó chính là những yếu tố nội bộ
bất ngờ từng xảy ra hết sức chóng vánh trong nhiều triều
đại Phong kiến. Điều gì đã làm nên những cuộc lật đổ
đó trong lịch sử? Rất dễ hiểu, đó chính là tham vọng
quyền lực và ma lực của đồng tiền.


Thời xưa toàn bộ nhà nước bị thâu tóm trong một dòng họ,
một huyết thống, mà đã như vậy. Ngày nay dù cố gắng đến
mấy thì các quan ĐCSVN cũng không thể nhồi nhét hết gia đình
họ vào bộ máy nhà nước. Vậy thì mối quan hệ giữa các cán
bộ đảng viên ĐCSVN đương quyền chỉ là quan hệ vật chất
thuần túy. Quan hệ này rất mong manh, vì "trâu buộc" bao
giờ cũng ghét "trâu ăn". Ngay như vị trí được coi là có
quyền lực khuynh loát như thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hiện
nay, cũng đang tiềm ẩn nhiều kẻ thù. Kẻ thù có thể bất
ngờ lộ diện từ chính những thuộc cấp thân tín nhất của
ông Dũng, vì tham vọng quyền lực và sức hút của những món
lợi khổng lồ…


Nhưng một bộ phận không nhỏ khác trong nội bộ ĐCSVN cũng có
thể khơi mào cho những cuộc nổi dậy, đó chính là những
đảng viên ĐCSVN lâu năm, những đảng viên trí thức bị thất
sủng, không được trọng dụng, hay vì cơ chế và sự xuống
cấp của văn hóa mà vô tình họ bị đẩy ra bên lề cuộc
sống (ví dụ các nhà văn, nhà thơ, thậm chí là cả nhà báo,
nhà nghiên cứu khoa học, nhà nghiên cứu xã hội vv…). Những
thành phần này mới chính là những người không biết sợ, vì
họ quá hiểu bản chất cũng như thế yếu của ĐCSVN. Thậm
chí nhiều cán bộ cao cấp của ĐCSVN hiện nay đã từng là
học trò hoặc cấp dưới của những thành phần trí thức vừa
kể. Mặt khác, họ không có gì, hoặc rất ít những thứ để
mất. Đó cũng chính là động cơ gián tiếp thôi thúc họ hành
động.


Ngày cáo chung của ĐCSVN đang đến, đó là quy luật tất yếu
của lịch sử: Những gì không phù hợp và đi ngược lai trào
lưu phát triển phải bị loại bỏ!

Không có lý do gì để người ta cứ dài cổ nai lưng cho một
lũ cường hào ác bá chễm chệ ăn trên ngồi chốc trên đầu
trên cổ mình!

Không có lý do gì để những người có học, có hiểu biết,
có nhận thức và trọng danh dự, lại cho phép những tên quan
lại ngu ngốc, dốt nát, điều khiển mình!

Không có lý do gì một đất nước văn hiến ngàn năm lại để
cho những kẻ ít học nhưng nhiều thủ đoạn cầm quyền!

Không có lý do gì mà gần 90 triệu người dân lại chịu bó tay
với một nhóm đặc quyền đặc lợi trong ĐCSVN. Phải thay
đổi thôi! Dẫu muộn vẫn còn hơn không!

Chắc chắn nhân dân Việt Nam sẽ biết chọn đúng lúc để
quyết định ngày loại bỏ con ốc mượn hồn mang danh ĐCSVN ra
khỏi đời sống chính trị xã hội. Không ai luyến tiếc, khi
loại bỏ một cái vỏ ốc vô giá trị cả!

<em><strong>Lê Nguyên Hồng</strong></em>

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/12116), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét