Hamvas Béla - Tác phẩm cuộc đời

<div class="special_quote"><em>(Trích tiểu luận triết học
Patmosz)</em></div>

Con người cần tạo dựng tác phẩm từ bản thân mình, để có
thể sống trong vĩnh cửu. Nhưng tác phẩm cần là tác phẩm
mở, để nếu ai muốn bước vào, ta đều tiếp nhận.

Tác phẩm có thể là một ngôi nhà, có thể là một bức họa,
có thể là một đất nước. Akhilleus (<em>vị thần Hy lạp
Asin</em>) không làm thơ, nhưng ai dám bảo chàng đã không tạo
dựng tác phẩm cuộc đời? Bằng hành động của mình, chàng
đã cho ra đời một tác phẩm cuộc đời anh hùng. Những vị
thánh.

Cần phân biệt tác phẩm với sự trưng diễn. Tác phẩm làm ra
từ chất liệu cuộc sống con người, như thể một thứ duy
nhất, quánh đọng và mang hình hài cuối cùng của một cái gì
sẽ mất đi; còn sự trưng diễn, sự khoe khoang là một kỳ
công có thể học và lặp lại. Trong sự trưng diễn, khoe khoang
vắng thiếu con người.

Truyền thống Ấn độ gọi tác phẩm là nghiệp, là thứ tạo
từ chất liệu sẽ rữa nát, nhưng sẽ còn lại. Sự trưng
diễn, khoe khoang không phải là một tác phẩm lớn, chỉ là
một hành động tức thời, không thứ bậc và không tầm vóc.

Tác phẩm là một cái gì phải lớn hơn đời sống, và vì thế
cần hiến dâng đời sống cho tác phẩm. Hiến dâng không vì
để tác phẩm còn lại mà để tác phẩm tồn tại.Tồn tại
trong vĩnh cửu. Từng viên gạch của tác phẩm cuộc đời đều
chối bỏ một cái gì đó từ đời sống. Vừa hưởng thụ
đời sống vừa xây dựng tác phẩm cuộc đời, điều ấy
không có.

Tác phẩm cần nâng con người lên sự nhất quát độc lập
với đời sống, lên sự sống ở mức độ cao hơn, trong những
tỷ lệ vượt xa những tỷ lệ của cái tôi, và nhắc lại
bản thân nó bội lần so với bản thân nó.

Nghiệp là hình dáng cô đọng của toàn bộ tư tưởng, ngôn
từ và hành động của con người, trong một không gian rộng
lớn hơn đời sống, và không thể chạy trốn khỏi những hậu
quả của nghiệp; chỉ có một cách duy nhất có thể là tính
sổ đối với nghiệp. Nhưng sự tính sổ này của nghiệp
(chính là tác phẩm cuộc đời) cũng là tác phẩm.

Tác phẩm này ở Ấn độ người ta gọi là <em>nirva - niết
bàn</em>, ở xứ Ả rập gọi là <em>fana</em>. Đây là tác phẩm
sau rốt, cuối cùng; dấu hiệu bên ngoài của nó không nhận
thấy, nhưng sự tồn tại còn lại của nó tuyệt đối. Đời
sống của con người lớn hơn bản thân nó, tính chất cô
đọng của nó chứa chất trong các lĩnh vực giống như đời
sống, nhưng trong các hình dáng khác và tác động trở lại
đời sống cùng các sức mạnh và tạo ra hình thức đời sống
từ hình ảnh của chính nó.

Chúng ta đều biết đời sống không có mục đích; nhưng đời
sống có ý nghĩa.

Con người tự đặt ra ý nghĩa trong bản thân họ để cho rằng
sống một đời sống như thế nào là xứng đáng. Nếu duy trì
đời sống thấp hơn một mức độ nhất định nào đấy, vô
nghĩa; nếu vượt qua những mức độ này, bản thân đời sống
bắt đầu trở thành tác phẩm.

Cần xây dựng đời sống một cách có ý thức, nhất quán,
không phải từ đời sống sinh học, mà từ những điều như
âm nhạc, thi ca hoặc siêu hình học. Bởi vì tác phẩm cuộc
đời có logic đặc thù, độc lập với đời sống sinh học.
Logic này không phải việc chia sẻ ngày càng hăng hái những
của cải tự nhiên của đời sống, mà phải là tầm vóc của
đời sống. Hai thứ này không thể tương thích với nhau.

Tầm vóc coi đời sống ở mức độ hành vi hưởng thụ là
sự phản bội, bởi nó cần trung thành một cách không khoan
nhượng với cái cao hơn. Người ta có quyền sống một đời
sống tâm lý hoặc cộng đồng, nhưng mức độ tầm vóc của
nó sẽ coi điều này như một sự phản bội đối với tác
phẩm cuộc đời. Cho dù rất nhiều thứ chống lại nó, nhưng
con người vẫn bắt buộc phải coi tác phẩm cuộc đời là
của mình.

Phiền nhiễu hơn nữa, phải chăng sự tồn tại mà tác phẩm
miêu tả, đó là tôi, hay là hiện thực của tôi đi chăng nữa,
nhưng vẫn là một người nào đó cao xa hơn tôi.

Một du khách cho rằng đền thờ Parthenon (Hy lạp) như một hình
ảnh gây sốc nhưng không phải là nghệ thuật, theo nhiều
người nó không hề đẹp. Nhưng vị trí, chính xác là vị trí
nơi người ta xây đền Parthenon nổi bật lên giữa khung cảnh
xung quanh, và trong sự tồn tại của nó hình như cao hơn một
mức.

Không rõ nguyên nhân của sự đánh giá này, và để chứng minh
còn ít khả năng hơn nữa. Nhưng về mặt kiến trúc tuyệt
hảo. Và như vậy sự có mặt của cái đền thờ này ở đây,
tựa hồ cao hơn như nó có.

Việc xây dựng tác phẩm diễn ra chống lại con người; Một
trạng thái, khi một câu trả lời tìm thấy một kẻ ở một
nơi bí ẩn nào đó (kẻ là tôi nhưng không phải tôi) không
trả lời cho điều tôi cần phải nói, cần phải làm gì, mà
chỉ là: tôi cần phải sống như thế nào.

Một tác phẩm chân chính chỉ có sau cái chết
(<em>posthumus</em>). Chừng nào tác giả còn sống, chừng đó tác
phẩm cũng vẫn đứng trong ảo ảnh đời sống vây quanh người
sống. Bởi vì chừng nào một người còn sống, họ chỉ có
đời sống, chỉ khi người đó mất đi, họ mới có số phận.
Lúc đó đề tài tác phẩm của đời của họ mới khép lại,
xong xuôi và là số phận.

Có những tác phẩm, trước cái chết năm phút vẫn mang một ý
nghĩa nào đấy; năm phút sau ý nghĩa này không còn tìm thấy ở
bất kỳ đâu. Có những tác phẩm, hàng trăm năm trời không ai
biết đến, bỗng một ngày như thể hôm nay vừa hoàn tất.

Không được phép nhìn thấy lợi thế mà con người đặt
đời sống của nó vào đó. Giữa các tác phẩm lớn không có
sự khác biệt tuổi thọ. Mọi tác phẩm lớn đều cùng thời.
Tất cả các tác phẩm lớn đều ở thời hiện tại. Tất cả
các tác phẩm lớn đều hiện đại.

Người Hy lạp đặt tên việc chuẩn bị tác phẩm cuộc đời
là <em>poiezis</em>, đơn giản nghĩa là <em>làm</em>. Với người
Heber cũng chỉ là <em>jezirah</em>. Có thể bởi vì trong sự
chuẩn bị này con người không phải đối diện với cái gì
cả, khi <em>làm</em> tác phẩm cuộc đời chúng ta đối diện
với bản thân mình;

Tác phẩm không phải là một sự sáng tạo, mà là sự sáng
tạo lại bản thân chúng ta cao hơn bản thân chúng ta. Không
phải <em>poiezis</em> mà là <em>metapoiezis</em>.

Có thể đối với người Hy lạp và Heber đời sống là như
vậy, như đang có, thế là đủ, để làm ra tác phẩm. Nhưng
với chúng ta, chúng ta cần nâng bản thân mình lên cao hơn.
<em>Über</em> - siêu nhân - siêu việt, như Nietzsche nói.
Hiện thực của tác phẩm cuộc đời là sự siêu thực. Cái
là đời sống, tạm thời và phi dáng hình. Cần phải sống
tận cùng số phận, hoàn tất, khóa lại, cần phải cao hơn
đời sống một bước, như đền thờ Parthenon.

Bước nhảy từ đời sống vào tác phẩm cuộc đời:

Tác phẩm cuộc đời là metapoiézis (<em>siêu sáng tạo</em>), con
người xây dựng bản thân nó cao hơn chính nó cho sự vô tận.
Từ tác phẩm cuộc đời này cần phân biệt thứ tác phẩm quá
kích thước so với đời sống, là sự đánh lừa cố tình,
để con người cao hơn như nó muốn. Đấy là sự trưng diễn.
Cái gì tràn đầy những sức mạnh quyền lực cao hơn cuộc
sống, sẽ còn lại; Sự trưng diễn sẽ tan ra cùng đời sống.

Sự trưng diễn, khoe khoang không xây dựng lên từ hiến dâng
vĩnh viễn, chính bởi vậy không phải sự biến đổi của
thuật luyện vàng bất tử là ý nghĩa cuối cùng của nó; sự
trưng diễn, khoe khoang do con người chỉ đạo, vì tác động
của ý thích là chính. Đôi khi còn không được như vậy. Con
người trong tác phẩm - như một sự hóa thân cuối cùng - lớn
cùng tác phẩm; còn sự trưng diễn, khoe khoang chỉ để dấu con
người ra sau nó.

Nói chung có thể phân biệt rõ ràng giữa tác phẩm và sự
trưng diễn, thậm chí trong một sáng tạo có thể biết tác
phẩm dừng lại ở đâu và sự trưng diễn, khoe khoang bắt
đầu từ đâu.

Sự trưng diễn, khoe khoang giới thiệu một phiên bản cực kỳ
nào đấy của con người; còn tác phẩm miêu tả cái bình
thường. Dấu hiệu của sự cực kỳ là âm điệu lên gân,
ngụy tạo. Kết quả của tiểu xảo, của sự kỳ công, thuật
gian dối là một sự đánh lừa trên giấy, cái có tên là stilus
(<em>phong cách</em>). Tác phẩm xác thực (<em>autentikus</em>) không
có phong cách.

Tác phẩm tuyệt đối là những cuốn sách thiêng (lời tuyên
ngôn).

Chúng ta gọi các tác phẩm đã trần thế hóa là văn học.

Ngôn ngữ của những cuốn sách cổ là ngôn ngữ xác thực.
Ngôn ngữ của văn học là chủ nghĩa ngụy biện.

Giới hạn cuối cùng của ngụy biện là chủ nghĩa báo chí.

Ngôn ngữ xác thực vì sự thật, ngôn ngữ ngụy biện vì
quyền lợi. Biểu hiện của chủ nghĩa báo chí là các bê bối
khơi cảm giác.

Trong thời cổ, con người không cần đi tìm tác phẩm từ bản
thân họ, mà họ nhận lấy như một nhiệm vụ. Đấy là thời
kỳ, khi các tác phẩm cộng đồng lớn (được gọi là) các
nền văn hóa tạo ra đời sống.

Nhiều nguồn cho thấy vào giữa thế kỷ thứ hai trước công
nguyên, sự tạo dựng tác phẩm cuộc đời bắt đầu biến
thành nhiệm vụ cá nhân. Nhưng trước hết điều này phụ
thuộc vào biến cố tôn giáo, khi con người không kiếm tìm
cảm hứng một cách cộng đồng nữa mà như một cá nhân.

Từ đó cho tới nay sự sáng tạo tác phẩm cuộc đời của cá
nhân phụ thuộc vào tư tưởng của sự bất tử cá nhân, và
trở thành một hành động cao cả. Sự thật là bên cạnh ý
nghĩa của tác phẩm cuộc đời cá nhân, tác phẩm của cộng
đồng ngày mỗi suy giảm. Những tác phẩm cá nhân, như của
nhà tiên tri, của thánh, vua, người anh hùng, nhà thơ và những
người khác nữa, đều khoác một hình hài.

Những thí nghiệm cộng đồng ngày càng trở nên tuyệt vọng,
và ngày nay ở bất kỳ lĩnh vực cộng đồng nào, trong dân
chúng, đẳng cấp, giai cấp, quốc gia, tôn giáo không thể hình
dung ra nổi một niềm cảm hứng. Có thể con người không còn
khả năng tan hòa thật sự vào bất kỳ một cộng đồng bất
kỳ nào nữa.

Không bao giờ còn các nền văn hóa nữa, và việc xây dựng
một nền văn hóa mới là vô nghĩa. Không còn các tôn giáo, dân
tộc, giai cấp. Chỉ còn một tập thể người duy nhất, một
nhân loại rải rắc trên quả đất, và trong tập thể người
này niềm cảm hứng (tác phẩm cuộc đời) mang tính cá nhân.

Tập thể ngày hôm nay chỉ dâng mời niềm cảm hứng thấp kém
trong giá trị cho con người, và chỉ những sinh linh đã xa rời
bản chất của con người chấp nhận, bắt buộc phải chấp
nhận. Giờ đây, trong giây phút này, cộng đồng là chướng
ngại vật cho việc thực hiện tác phẩm cuộc đời cá nhân.

Từ ngày xuất hiện thiên chúa giáo cho đến nay, cảm hứng như
thế nào được gọi là cao quý, tác phẩm như thế nào là dành
cho bản thân, trong vĩnh cửu cần chọn nơi nào ẩn náu, đều
do tự bản thân con người quyết định lấy.

Một ví dụ về con người xác thực của thế kỷ hai mươi
không là một kẻ đứng đầu nhà nước, quân đội, hay một
tỷ phú, một nhà bác học hay họa sĩ mà là một nhân vật như
Albert Schweitzer (<em>1875-1965 bác sĩ, linh mục người Đức, Nobel
1952</em>). Khi thế gian đầy rẫy những kẻ trưng diễn khoe
khoang, những người như Albert Schweitzer chỉ duy nhất có một.

Một nhiều hơn mười nghìn, Heraldeitos từng nói. Tác phẩm
cuộc đời là bản chất của con người.

Albert Schweitzer đã định nghĩa tác phẩm cuộc đời bằng ngôn
ngữ của Kinh Thánh, bởi như vậy tất cả mọi người lập
tức hiểu ngay, ông nói: Thiên chúa không dạy dỗ về tha thứ
tội lỗi hay sự phục sinh, mà dạy rằng con người phải chung
tay xây dựng đất nước của Thượng đế. Đây là tác phẩm
cuộc đời, từng con người phải tự tạo dựng và đối với
toàn thể nhân loại chúng ta bắt buộc phải thực hiện, bởi
vì nếu không, chúng ta sẽ bị hủy diệt.

Đất nước của Thượng đế là bầu khí quyển chung của nhân
loại, và là tất cả các tác phẩm cuộc đời cá nhân của con
người, là ý nghĩa xác thực của lịch sử người thay thế
những nền văn hóa đã bị tan rã, là chất làm tan hòa những
dân tộc, những giai cấp, những tôn giáo đã bị tách biệt
khỏi nhau và đặc biệt là những cá thể bị tách khỏi nhau
trong sự đồng nhất vũ trụ, là sự thực hiện hình hài sự
sống sau rốt cao hơn cả sự tồn tại của thời kỳ hoàng kim
ban đầu.

Đấy là một sự việc vô cùng giản dị: trong khi các dân tộc
trên quả đất bị tàn sát, Schweitzer trong rừng cổ cứu chữa
các con bệnh, trong khi trên quả đất sự đê tiện thô bỉ
nhất ngày càng tiếp diễn vì quyền lực và của cải, thì
Schweitzer làm việc để có tiền mua thuốc cho các con bệnh.
Không thể có sự thật nào giản dị hơn. Cả đến tính chất
thiên tài cũng không cần nốt, để có thể trở thành một con
người bình thường giản dị như vậy.

Nền tảng của những cuốn sách thiêng là trật tự.Trật tự
chỉ có một, preegzisztens, có nghĩa là đã từng có trước kia
và đang có, như thế gian này.Trật tự là thứ tự nó điều
chỉnh bản thân từ nó, là thứ liên tục sắp xếp và giữ cho
có trật tự.

Đấy là trật tự siêu hình (Ấn độ, Trung quốc), đấy là
trật tự khách quan vũ trụ (Orpheus) đấy là trật tự tôn giáo
và đạo đức (Iran, Judea) là trật tự của đời sống người
ngày nay, trong vĩnh cửu (Thánh Kinh).

Nếu ý thức về trật tự bị đánh mất, xuất hiện hệ
thống. Hệ thống là thứ muốn trở thành trật tự, nhưng
không được, nó luôn luôn đánh mất một cái gì đó ở một
nơi nào đó, và chính từ điều này nó thất bại.

Người định nghĩa tư tưởng này là Rudolf Kassner.

Ngôn ngữ của trật tự có thể nhận ra: không chứng minh
(không ngụy biện), mà tuyên bố (lời tuyên ngôn). Nhưng trong
thời kỳ lịch sử, các nhà nước, các xã hội, các tôn giáo,
các thế giới quan và các nền triết học không tạo dựng bởi
trật tự mà bởi hệ thống.

Ở châu Âu - trừ một vài nhà tư tưởng ngoại lệ - người ta
chỉ xây dựng các hệ thống. Những tư tưởng tùy tiện bằng
những dẫn chứng vô tận (ngụy biện, biện chứng) những
điều ít nhất tại một vài nơi đã chứng minhsự phi lý của
nó và đã sụp đổ. Cho đến tận hôm nay chúng ta vẫn đang
sống trong những mảng đổ nát của toàn bộ các hệ thống.

Nếu một tư tưởng cần đến sự chứng minh, đấy là một
tư tưởng kém cỏi, Vauvenargues (<em>nhà văn Pháp Luc de Clapiers
Vauvenargues 1715-1747</em>) đã nói.

Các nhà đạo đức không cần những thủ tục phiền toái để
phát biểu họ muốn gì. Bởi nếu cần như vậy, có thể xây
dựng cả một hệ thống như của Kant với những tác phẩm
trào lộng (epigramma) của Chamfort (<em>Nicolas Chamfort 1741-1794 nhà
văn trào lộng Pháp nổi tiếng.</em>)

Các nhà đạo đức muốn một thứ ngôn ngữ xác thực. Những
tiên tri đạo đức tầm cỡ thế giới (<em>Montaigne, Sebastian
Frank, Erasmus, Pascal, Kierkegaard, Lichtenberg, Nietzsche</em>) đòi hỏi
cái đang có. Không cần đến hệ thống. Chỉ một câu là đủ.

Sự sống trong hình hài đang có của nó, như chúng ta đang
sống, rách rưới, đầy thiếu hụt, đầy những hố sâu, lỗ
thủng, những mảnh vỡ và sự xuống dốc, và các loại chủ
nghĩa đối kháng đang bóp chết lẫn nhau.

Việc tránh xa các mâu thuẫn để xây dựng một thế giới
bằng phẳng và dễ chịu, trong đó quá nửa là sai, vô nghĩa.
Cái xác thực, đúng với châu Âu không phải những gì hệ
thống của <em>Aquinoi Tamás, Descartes, Kant, Hegel</em> nêu lên, mà
của nhà đạo đức.

Hệ thống, trong mọi trường hợp là hình ảnh của bộ máy
quyền lực. Chúng ta đều biết bộ máy quyền lực lúc nào
cũng chiếm đoạt, ăn cướp sự sống. Hệ thống đứng ngáng
con đường thực hiện trật tự.

Hệ thống là hiện tượng trừu tượng một lần, còn trật
tự là biểu hiện của cái vô tận. Hệ thống là một cục
vón, còn trật tự đơn thuần là một ý nghĩa.Trong trật tự
có tất cả, trong hệ thống luôn luôn bỏ sót một cái gì đó.

Mọi hệ thống đều cố gắng mẫu mực, bởi vậy nghiêm
trang. Bởi vậy nực cười. Trật tự trong mỗi phút đều khác,
nhưng vẫn là như vậy. Trật tự luôn luôn mở, hệ thống luôn
luôn khóa và khả năng thuận lợi nhất mà nó mời chào là sự
ẩn nấp, dấu giếm.

Trong hệ thống con người chứng minh một cách khổ sở những
điều phần lớn không làm được. Chứng minh là chiến thuật
bảo vệ, của con người ẩn nấp trong hệ thống.

Hình tượng của tư duy trật tự là trào lộng (epigramma), luôn
mở và không chứng minh. Đạo Đức Kinh, Luận Ngữ, Heracleitos,
Vedanta, Sankja, các nhà thông thái Hy lạp, Talmud, các nhà đạo
đức học. Kẻ nào cùng lúc viết nhiều hơn lượng chứa nổi
trong một danh thiếp, kẻ đó không nói đúng sự thật.

Trật tự thiêng là cái thường nhật êm đềm hàng ngày.

Trong hệ thống, kích thước của sự vật là con người (sự
ngụy biện). Bởi vậy cần đến sự chứng minh. Biện chứng
ngụy biện là sự can thiệp thô bạo vào trật tự tuyệt đối
của sự sống; trào lộng là một quá trình cấp cao của tư
tưởng. Kẻ nào nằm trong ý thức của trật tự, kẻ đó không
cần đến hệ thống (Đạo Lão). Hệ thống là hình thức
tuyệt vọng của sự vô chính phủ, và giữa mọi thứ, tuyệt
vọng nhất là trạng thái ảo tưởng.

Trào lộng hiện đại là một kẻ đầu cơ không bị phạt
(<em>Paul Valéry 1871-1945 nhà thơ Pháp</em>), là sự săn lùng khả
năng vô trách nhiệm.Văn học muốn tự bảo vệ nó khỏi những
lời tràng giang đại hải vô nghĩa, nên đã tạo dựng những
ly kỳ độc đáo ngôn từ.

Hệ thống tuyệt đối (théorie pure) không nói lên điều gì
hết, chỉ chứng minh. Đây là nền tảng bộ máy của một quá
trình chỉ tự chứng minh cho bản thân. Đây là sự quan liêu,
là kỹ thuật, khoa học, là quyền lực nhà nước, tổ chức
công nghiệp, tự động hóa, máy móc hóa, các lý thuyết bấm
nút. Là hệ thống tàn phá sự sống.

Nền tảng của hệ thống là lý thuyết, lý thuyết là nguyên
tắc cứng nhắc, nguyên tắc dẫn đến sự khủng bố. Đây là
một kiến trúc trừu tượng. Một tư duy mù lòa. Một triết
học nhà tù: cái gì là quy tắc hợp lý trong nhà tù đây, ý
thức hệ nào làm cho đời sống trong nhà tù dễ chịu hơn
đây.

Còn sự khác biệt? Nước Nga: hãy trở thành chỉ là một nhà
tù chung. Nước Mỹ: mỗi người hãy là một nhà tù riêng.

Con người có nghĩa vụ đối với tác phẩm. Trong ý thức về
tác phẩm không ai có thể nói đến những quan điểm thực
hành, như sinh kế và hiệu quả chẳng hạn. Cần giữ một sự
nhất quán mà không ai có thể nói đấy là của họ, nhưng cũng
không ai phủ nhận được.

Nếu con người sống trong trật tự hiện thực cao hơn của tác
phẩm, nó sẽ có nhận thức về sự hiện hữu của một quyền
lực lớn hơn nhiều so với những sức mạnh bên trong bản
chất sinh học của nó, và cả sự điên cuồng mãnh liệt nữa,
nếu nó đồng nghĩa nó với điều này hay không đi chăng nữa.

Sự khác biệt là nếu tôi hiến dâng cuộc đời tôi cho tác
phẩm, tôi chỉ đau khổ, nhưng nếu tôi từ chối tác phẩm,
tôi đã bôi bẩn nó.

<em>(Ghi chép trong phần Tác phẩm cuộc đời)</em>

Sự hoạt động mê muội và vô phương cứu chữa của châu Âu
là một cản trở trước kia (nay vẫn còn) để hiểu những
từ ngữ cơ bản của các cuốn sách phương đông cổ thiêng
liêng. Những từ ngữ cơ bản này - chưa nói đến những điều
khác - trước hết là sự diễn tả trạng thái cao nhất con
người có thể đạt tới.

Những từ ngữ cơ bản này trong tiếng Sankhja: <em>purusa-
prakriti</em>, trong kinh Vedanta: <em>atman</em> và <em>niết bàn</em>,
trong yoga là <em>nivritti</em>, trong kinh Phật là <em>sunjata (Bồ
đề tâm tuyệt đối)</em>, trong Đạo Lão là <em>vô vi</em>.

Không có khả năng để hiểu bởi vì ở châu Âu, ngay từ đầu
người ta đã phân tích những từ ngữ này trong mối quan hệ
hành động và không hành động, và dịch ra như thế. Người ta
cho rằng cái gì không hoạt động, cái đó tất yếu phải là
phi hành động, nghĩa là phải là sự thụ động.

Một phương pháp phân tích như vậy sai lầm cơ bản. Sai lầm
trong thời cổ, trong suốt thời trung cổ (huyền học - mistika)
trong thời đại mới (chủ nghĩa kvietizmus) Trong sự sai lầm này
một trong những nỗ lực tinh thần châu Âu cơ bản nhất đã
bị thất bại, đấy là Soledad. Những người theo phong trào này
đơn giản là họ không biết họ muốn gì, nhất là Molinos
(<em>Miguel de Molinos 1628-1697 linh mục Tây Ban Nha</em>) lãnh đạo
tâm linh tiêu biểu.

Những từ ngữ cơ bản của các cuốn sách thiêng có thể hiểu
được nếu ta tiếp cận không từ sự hoạt động mà từ tư
tưởng tác phẩm cuộc đời.

Từ Vi-vô dịch sát nghĩa không phải là sự thụ động không
làm gì cả, mà là trạng thái tĩnh lặng khi xây dựng tác phẩm
cuộc đời.

Trong yoga từ <em>nivritti</em> không có nghĩa là sự thụ động
của ý thức mà là sự xoa dịu trạng thái bồn chồn bất ổn
mà con người cần tự gây dựng cho mình khi làm tác phẩm cuộc
đời.

Từ <em>niết bàn</em> không phải là một sự trống rỗng, không
sự sống, không là cái gì cả, mà chính là trạng thái trong
suốt tinh khôi sau cùng, khi hoàn thành tác phẩm cuộc đời.

Bởi vì sự phá hủy của tác phẩm cuộc đời chính là sự
còn lại tuyệt đối của bản chất. Tác phẩm cuộc đời luôn
luôn là khách thể, và nếu là khách thể, nó ở trong thế gian,
nó sẽ mất, thay đổi, là ảo ảnh; còn nếu nó không trở
thành đối tượng, bản chất nó còn lại trong tồn tại tuyệt
đối.

Những từ ngữ cơ bản của các cuốn sách thiêng chỉ đường
cho việc xây dựng tác phẩm cuộc đời, hay nói cách khác nó
chỉ ra sự giải phóng khỏi những gánh nặng của những hành
động tốt - xấu tích lũy trong quá trình hoạt động.

<em>Désoeuvrement</em>, một từ tiếng Pháp may mắn và chính xác
để diễn tả: sự tính sổ với tác phẩm cuộc đời, sự
giải thể tác phẩm cuộc đời, hay một cái gì đó tương tự.

Trong mọi trường hợp, trong sự sáng tạo tác phẩm cuộc đời
có sự vô tình, không mối bận tâm, là thứ không phải sự
hoạt động, cũng không phải phi hành động, như kinh Ấn độ
Bhagavadgíta đã dạy: không <em>prakrit</em> cũng chẳng phải
<em>nivritti</em>.

Và nếu không phải là cái này cũng chẳng phải là cái kia, thì
chắc chắn là sự tiêu diệt những mầm nghiệp quả, và là
một hoạt động, thay vào việc xây đắp, tháo gỡ, nghĩa là
thay vào việc tạo ra những khả năng dành cho số phận người
mới bằng hành động, lời nói, tư tưởng, lại diệt trừ, soi
sáng và tính sổ với những liên hệ, những lớp số phận
mới tích lũy ngày mỗi nhiều hơn trong con người.

Việc tích nghiệp người Trung quốc gọi là teh, người Ấn
độ gọi là sakti, tiếng Sankhja gọi là prakriti, là sự hoạt
động, là thân sinh, là nguyên tử âm, là thứ tạo nên đời
sống; bởi vì sự tương đồng (analog) của sáng tạo tác phẩm
cuộc đời là sự sinh nở.

Khi nói đến sự tháo bỏ tác phẩm cuộc đời, các cuốn sách
thiêng tuyên bố: là sự tính sổ với tác phẩm của người
đàn bà (sakti, prakriti,teh). Bên cạnh đó cần làm tắt đi
những đợt sóng ý thức và sự bất an của ý thức. Đấy là
mục đích duy nhất của kinh Joga Patandzsali: csitta vritti nirodah.
Đấy là nỗ lực của đạo Phật, là tâm Bồ đề tuyệt đối
(sunjata),là mahasunjata, là sự trống rỗng tuyệt đối.

Không dựng thêm nghiệp, không gỡ nghiệp. Là sự tháo bỏ
tất cả. Ở châu Âu người ta nói đấy là sự thanh toán lịch
sử, bước ra khỏi lịch sử. Nhưng nếu cần phải hành động,
hãy làm thiếu vắng cái tôi.Nếu cần phải nói, lời nói hãy
là vô ngôn. Nếu suy nghĩ, hãy phi tư tưởng.

Hãy thả lỏng, để các sức mạnh thông qua ta tỏa khắp thế
gian, nhưng bản thân ta không tham dự cũng như không thụ động
trong quá trình ấy. Bởi vậy lời dạy hoa của Đức Phật là
lời dạy hoàn hảo nhất: khi ngài trao cho một kẻ tu hành một
cành hoa và không nói một lời.

Sự gỡ bỏ tác phẩm cuộc đời là sự gỡ bỏ kết quả của
một hoạt động khi trong con người những khả năng số phận
mới hơn tăng lên, những khuynh hướng mới hơn, những dục
vọng không được thỏa mãn xuất hiện, những mong ước, mục
đích, sự thèm muốn, những vấn đề chưa giải quyết, sự
dính mắc, lòng hận thù, sự ghen tỵ, sự ghen tuông, sự háo
danh. Tất cả những điều này là kết quả của nỗi khát
sống muốn kéo dài đời sống đến vô tận.

Nói đúng hơn là khi con người đồng nhất mình với cái tôi
cá nhân, kẻ mang những dục vọng, những đòi hỏi, bản năng
không được thỏa mãn. Trong trạng thái truyền thống Ấn độ
và Trung quốc gọi là vô-vi và niết bàn, sự đồng nhất của
con người với cái tôi cá nhân bị xóa bỏ.

Kẻ hành động, không phải là nó, mà là một thế lực thông
qua nó, ở bên trong nó. Bản thân nó trống rỗng. Bởi vậy
Gúenon đã nói, trạng thái giải phóng không phải trạng thái
đứng trên con người mà là một sự kiện xảy ra ngoài
không-thời gian và lớn hơn con người, là sự kiện mà các
nguyên tử hoạt động của nó không phải là cái tôi cá nhân
của con người, nghĩa là không xảy ra trong sự đồng hóa với
cái tôi.

Điều này vượt qua cái tôi cá nhân hóa, và đặc thù vì
không chỉ vượt qua mà còn phá vỡ cả cái tôi cá nhân hóa.
Chỉ còn lại: sự trống rỗng, niết bàn, tâm Bồ đề tuyệt
đối (sunjata), còn lại mahasunjata. Và bởi vì mối quan hệ
giữa hoạt động và bản chất con người bị phá vỡ, kết
quả và dấu ấn của hoạt động không tích lũy trong bản
chất con người nữa, không tập hợp trong bản chất con người
nữa, và trong con người không tạo dựng một số phận mới,
nghĩa là không trở thành tác phẩm cuộc đời.

Tác phẩm cuộc đời sẽ là: sự trống rỗng. Phi-tác phẩm.
Cái duy nhất chắc chắn và bền vững và tuyệt đối và vĩnh
cửu và sau cùng. Con người vứt bỏ tất cả mọi sự đồng
nhất, chỉ giữ lại duy nhất có một thứ, sự đồng nhất
với trống rỗng.

Sự đồng nhất duy nhất, mà bên cạnh nó mọi sự đồng
nhất với các hành động khác, các tư tưởng khác, với ngôn
từ hoặc tác phẩm khác đều sai lầm, giả dối, đây là sự
đồng nhất một cách hiện thực và đúng đắn và chân thực.
Đây là điều Gúenon nói với bản sắc tối cao (identité
supreme): sự tồn tại này là sự đồng nhất ở cấp độ trên
cùng.

Tác phẩm cuộc đời hoàn hảo là phi-tác phẩm. Không thể
phóng rọi ra ngoài, mà chỉ là kết quả đã hiện thực hóa
trong bản chất con người. Từ phi-tác phẩm này số phận không
dệt tiếp tục. Hành động thực hiện tác phẩm này không
phải sự dựng tạo mà là một quá trình cho đi và phá vỡ,
đến chừng không còn gì hết, lúc đó là sự cho đi của hư
vô, sự từ bỏ của từ bỏ.

<strong>Nguyễn Hồng Nhung</strong> dịch từ bản tiếng Hung

(Budapest. 2012.03.24)

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/12111), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét