Vương Trí Nhàn - Tổ chức & quản lý xã hội ở nước Việt nam thời trung đại

<div class="special_quote">Trích từ chuyên mục <em>Người xưa cảnh
tỉnh</em> đã in trên <em>Thể thao và văn hóa 2005-2007</em>. Các
đầu đề nhỏ và chú thích là của người biên soạn</div>

Nếu dùng văn hóa theo nghĩa rộng thì việc tổ chức và
quản lý xã hội là thuộc về văn hóa quyền lực.

Nhưng đây là khâu người xưa chưa bao giờ đặt ra một
cách bài bản. Trong việc tiếp nhận văn hóa Trung Hoa, cái chúng
ta chỉ thích học theo là thơ văn hoặc thi cử, còn chính việc
quản lý xã hội thì không để ý hoặc chỉ làm theo lối học
tắt học lỏm.

Các bộ sử ít ỏi viết thời sau cũng chưa bao giờ
được viết với tư cách những cuốn lịch sử xã hội.

Trong quá trình ghi chép về <em>Thói hư tật xấu người
Việt trong con mắt các nhà trí thức đầu thế kỷ XX</em>,
chúng tôi mới sưu tầm được một phần các nhận xét lẻ tẻ
có liên quan đến chủ đề trên. Nhưng tinh thần các nhận xét
dưới đây theo chúng tôi là khá chính xác, nó giúp chúng ta lý
giải chính tình trạng xã hội hiện nay.

Phần lớn các nhận xét này dành để nói về việc quản
lý làng xã. Nhưng chẳng phải như nhà sử học Hà Văn Tấn đã
nói, xã hội Việt là một thứ <span class="underlined-text">liên
làng và siêu làng,</span> mọi quy luật chi phối việc tổ chức
và quản lý làng xóm cũng là đúng trên cả phạm vi rộng đó
sao?

<h2>Pháp luật đơn sơ</h2>

Dân trí càng mở mang thì pháp luật càng phải tinh tế. Luật
lệ nước ta sơ sài hết sức. Những điều rõ ràng thì hoặc
là phiền toái vô dụng, hoặc là khe khắt quá khó lòng giữ
đúng (...) Những điều ta nói ta làm hàng ngày mà theo luật quy
tội, thì sáng bị tội đồ, tội lưu, chiều bị tội phạt
trượng. Đến những điều đáng phải theo cũng không thể theo
được. Trên cũng như dưới đều mơ mơ màng màng, cơ hồ
thành một nước không có pháp luật. Dân không giữ chữ tín,
trong dân gian người ta làm khế ước với nhau, thường mực
chưa khô đã bội ước. Quy tắc của trường học, kế hoạch
của công sở phần lớn nằm trên giấy, treo lên cho vui mắt,
đọc lên cho vui tai mà thôi. Trên dưới không tin nhau, mà mong
giữ đúng pháp luật thì thật là khó thay! Đã không giữ
được thì thay đổi đi là hơn.

<div class="rightalign"><em>Quốc dân độc bản</em>, tài liệu của
Đông Kinh nghĩa thục, 1907</div>

<h2>Quan lại không biết cai trị chỉ lo xoay sở kiếm ăn</h2>

Nước ta dùng người thì hoặc lựa chọn ở trong bọn con
quan hoặc lấy ở trong hàng khoa mục, mà mấy người khoa mục
bất quá văn hay chữ tốt thì đỗ, thế là làm quan. Bình sinh
học tập chỉ mấy câu trường ốc văn chương, lúc ra làm quan,
thì hình như bổ vào mặt gì cũng giỏi, tưởng quan lại bên
châu Âu chưa có ai toàn tài được thế.

Cũng là một người lúc thì bổ giáo chức làm một nhà
giáo dục, lúc thì bổ chính chức làm một nhà chính trị, lúc
thì sung giám đốc công trường làm một nhà công nghệ, lúc
thì sung chánh sứ đồn điền làm một nhà thực nghiệp, lúc
thì đi quân thứ làm một nhà tướng hiệu, mà hỏi ra thì
chẳng có một cái học thức chuyên khoa nào.

Quan nước ta như thế trách nào mà chẳng mang tiếng bất
tài.

Ngày 31 tháng năm 1917, báo <em>Đông Kinh</em> có một đoạn
rằng "một tên đầu đảng trộm cướp kiếm cả đời không
bằng một ông quan giỏi lấy tiền trong một năm". Ngày 12
tháng bảy, báo <em>Hải Phòng</em> có một đoạn rằng "cái
<span class="underlined-text"><em>căn tính ăn tiền</em></span> của
người An Nam di truyền từ tổ tôn, không dễ kể năm kể tháng
mà chữa ngay được".

<div class="rightalign"> <strong>Thân Trọng Huề</strong>
<em>Con đường tiến bộ của nước ta, Nam Phong</em>, 1918</div>

<h2>Quản lý làng xóm theo kiểu gặp đâu hay đấy</h2>

Việc quản trị dân xã là ở trong tay mấy người tổng lý,
chánh phó lý cựu chánh phó tổng cựu, xã tuần, phần thu. Bọn
đó quanh năm trông vào khoán ước của làng mà đình mà đám
mà thu mà bổ, mà xà xẻo bớt đầu bớt ngọn, mà bắt vạ
kẻ nọ kẻ kia.

Các khoán ước ít khi biết tự đời nào để lại. Cũng có
khi là do một chuyện mộng ảo huyền hồ (1) mà lập nên. Cũng
có khi là công nghiệp (2) của một người hách dịch một thời
nhân (3) lúc có thần thế mà đặt cho làng mình một lệ để
lưu truyền mãi mãi. Được lệ hay thì dân làng nghìn năm
được nhờ thói tốt. Phải lệ dở thì dân làng vạn đại
phải noi (4) tục hủ, lụn bại phong tục đi.

(1) <em>viển vông ngẫu nhiên </em>
(2) <em>việc làm</em>
(3) <em>người đương thời</em>
(4) <em>tuân theo </em>

<div class="rightalign"><strong>Nguyễn Văn Vĩnh </strong>
Chỉnh đốn lại cách cai trị dân xã, <em>Đông dương tạp chí
1914</em></div>

<h2>Kéo bè kéo cánh nắm giữ quyền lực </h2>

Xét cách bầu cử tổng lý của ta khi xưa thật lắm phiền
nhiễu mà phần nhiều dùng cách tư tình (1), những người làm
việc chẳng qua lại là con cháu họ hàng với những chức sắc
kỳ mục. Trừ ra những làng khó khăn không ai muốn làm không
kể, còn về các làng tốt bổng (2), con cái nhà có thế lực
tranh nhau mà ra, có mấy khi lọt vào tay người khác được. Vì
thế lý dịch hay có bè đảng, mà nhất là hay a dua với hàng
kỳ mục (3) để dễ cho sự thầm vụng của mình.

(1) <em>tức sử dụng những mối quan hệ cá nhân</em>
(2) <em>có nhiều quyền lợi</em>
(3) <em>kỳ mục là những người có thế lực nói chung, còn lý
dịch là những người đương làm việc, đương nắm quyền</em>

<div class="rightalign"><strong>Phan Kế Bính</strong>
<em>Việt Nam phong tục</em>, 1915 </div>

<h2>Cường hào lý dịch gian xảo điêu ngoa</h2>

Công việc trong làng, trên thì tiên chỉ không muốn nhìn
đến, dưới thì phường lý dịch chẳng qua cũng là con em đầy
tớ các kỳ mục, há miệng mắc quai nón. Quyền hành của kỳ
mục rất lớn, thế lực rất to. Mà trong hạng này, một hai
người phi tay cường hào hách dịch, thì là tay gian xảo điêu
ngoa. Còn nữa chẳng qua a dua với mấy người ấy mà thôi.
Phần nhiều ích kỷ, họ có thiết gì đến vận dân, chỉ
động có chút lợi lộc thì xâu xé nhau, hoặc dân đàn em hơi
có chút gì lầm lỗi thì bới móc hạch lạc. Những người có
kiến thức, cho việc hương thôn là việc nhỏ nhặt, không thèm
tưởng đến, không mấy nơi cải lương được tục làng cho
nên tục hay.

<div class="rightalign"><strong>Phan Kế Bính </strong>
<em>Việt Nam phong tục</em>, 1915</div>


<h2>Sân khấu của một lũ hề</h2>

Tiếng gọi rằng trào đình của một nước, song chính là
sân khấu nhảy múa của một lũ hề.

Binh bộ thượng thư mà hỏi đến việc binh không biết một
chút gì.

Học bộ thượng thư mà không biết đến việc học của
dân.

Công bộ thượng thư mà quanh năm chỉ biết tu tạo mấy cái
lâu đài và lăng miếu của nhà vua.

Lễ bộ thượng thư ba năm mới có một lần tế giao (1),
cắm cúi vào những cái nghi tiết hão huyền, hủ lễ vô ích.

Lại bộ thượng thư, Hình bộ thượng thư cũng vậy, mấy
ông cụ lớn ấy chỉ biết ngày hai buổi chầu quỳ lạy ở
sân rồng, tan chầu trở về, quanh năm ngày tháng như một con
lợn ỉ lẩn khuất ở trong chuồng không biết một chút gì
cả.

Vua đè ép các quan lớn. Các quan lớn đè ép các quan nhỏ.
Các quan nhỏ đè ép dân. Cái không khí áp chế chỗ nào cũng
nồng nặc khó chịu, xuống đến bậc dân thì không còn dân
đạo (2) dân quyền gì nữa.

Có miệng không được nói có tai không được nghe, phần
nào sưu thuế nặng nề, phần nào quan lại sách nhiễu, biết
chết mà không dám tránh, bị ép mà không dám than. Chốn thôn
dã thì đường xá khuất lấp, trộm cướp nổi lung tung. Ngoài
thành thị một bầy quỷ sống, đua nhau ăn thịt dân uống máu
dân. Mỗi năm bão lụt, dân bị chết đói, mỗi năm tật dịch,
dân bị đau chết, không biết chừng nào.

(1)<em>lễ tế trời của nhà vua </em>
(2) <em>đạo, nghĩa gốc là giáo lý, chủ thuyết; dân đạo có
thể hiểu là một quan niệm về người dân trong xã hội</em>

<div class="rightalign"><strong>Trần Huy Liệu</strong>
<em>Một bầu tâm sự</em>, 1927</div>

<h2>Quan trường hư hỏng</h2>

Cũng có đôi khi thay đổi một vài ông đại thần hoặc là
thăng giáng một vài viên quan lại. Cái người bị đuổi đi
đã đành là không làm được việc, mà cái người thay chân
ấy cũng có phải là người làm được việc đâu?! Cái người
bị cách (1), vẫn là gian tham mà cái người được bổ cũng
không phải là người liêm khiết!

Phương chi hôm nay bị giáng, bị cách, ngày mai lại được
thăng được thưởng; ở nơi này can khoản (2) lại đổi đi
nơi kia, thì tuy có phạm tội tham, mang tiếng xấu, cũng có hại
gì đâu. Lâu rồi quen đi, đứa càn rỡ lại càng càn rỡ, chỉ
lo đem tiền đi mua quan; đứa biếng lười lại càng biếng
lười, chỉ biết khoá miệng cho yên việc.

Mũ áo thùng thình, ngựa xe rộn rịp, hỏi quan chức thì
ông này là đại thần trong triều, ông kia là đại lại (3) các
tỉnh, chỉ biết có một việc là ngày đi hội thương (4) hay ra
công đường xử kiện, còn hỏi đến việc lợi bệnh (5) trong
nước hay là trong một tỉnh thì mơ màng chẳng biết một chút
gì.

Còn đến việc đút lót người trên, sách nhiễu kẻ dưới
thì không cứ là quan to quan nhỏ, đều công nhiên cho là cái
quyền lợi của người làm quan đáng được, dẫu có ai bàn
nói đến cũng không kể vào đâu.

(1) <em>cách chức, ngược với bổ là giao việc</em>
(2) <em>bị vướng vào một tội nào </em>
(3) <em>cũng nghĩa như chức quan lớn</em>
(4) <em>Ngày nay hay dùng hội họp</em>
(5) <em>từ cổ, nay ít dùng có cùng nghĩa như lợi hại</em>

<div class="rightalign"><strong>Phan Châu Trinh</strong>
<em>Thư gửi chính phủ Pháp</em>, 1906</div>


<h2>Việc quan hỗn hào lẫn lộn</h2>

Các cụ ngày xưa quá tin vào sự nhiệm màu của đạo Khổng.
Họ tưởng rằng lầu thuộc Tứ thư, Ngũ kinh, học hết mấy
pho sử, làm được câu thơ bài phú là có đủ đức hạnh để
dạy dỗ dân, đủ tài kinh luân để đưa dân đến cõi hạnh
phúc. Họ tưởng rằng đã là sĩ phu, thì là một người hoàn
toàn, một đấng thánh hiền, nên họ mới phó thác cho trách
nhiệm quá nặng.

Những quyền hành lớn ấy, từ xưa đến nay, quan trường
vẫn nắm trong tay, tuy rằng cuộc sinh hoạt của dân chúng đã
đổi thay nhiều lắm.

Một ông huyện chẳng hạn, không biết rằng chức phận
của mình là phải làm những việc gì nữa.

Ông ta là một ông quan toà lúc xử việc kiện tụng, một
ông cẩm (1) lúc coi sóc việc trị an, một viên chức sở lục
lộ (2) lúc thúc dân hộ đê …Đó là không kể cai trị là
công việc chính của ông ta.

Bấy nhiêu nhiệm vụ hỗn hào lẫn lộn là một điều khó
khăn cho ông quan mà cũng là cái mầm cho sự lạm quyền. Và
đối với những ông quan không theo đuổi một lý tưởng gì cao
siêu, đó lại là một cái mầm cho sự ăn tiền.

(1)<em> cảnh sát</em>
(2) <em>sở giao thông công chính</em>

<div class="rightalign"><strong>Hoàng Đạo</strong>
<em>Bùn lầy nước đọng</em>, 1939</div>

<h2>Quyền thế trong tay cường hào</h2>

Về mặt quản trị làng xưa có một tệ hại. Là bao nhiêu
quyền thế đều ở trong tay cường hào cả. Những kỳ mục
có của có thế lực có danh vọng đều là chúa ở trong làng.
Vì làng tự trị một cách quá đáng, lệ làng đặt ra đến
phép vua cũng không thay đổi được. Nếu kẻ cầm đầu trong
làng là người khá, có kiến thức có công tâm thì không kể
làm chi; nhưng nếu là những người chỉ nghĩ đến lợi riêng,
thì nhũng lạm xảy ra một cách dễ dàng và quá quắt. Một
lối tổ chức có thể để những sự bất công như vậy xảy
ra là một lối tổ chức không chu đáo, tự mình lại làm tội
mình.

<div class="rightalign"><strong>Hoàng Đạo</strong>
<em>Làng xã, Ngày nay</em>, 1940 </div>

<h2>Quân hồi vô phèng</h2>

Làng ở xứ ta như một hội riêng của tư nhân. Nếu cái
đặc tính của một pháp nhân cai trị(1) là quyền ban hành
những nghị định có ý nghĩa cưỡng bách, buộc mọi người
thi hành, thì làng xứ ta quả không phải là một pháp nhân cai
trị.

…Muốn đắp một con đường ư? Quyết định năm nay, nhưng
có nhẽ rồi một hai năm sau mới làm xong, mỗi họ mỗi thôn
mỗi gia đình ung dung tiện lúc nào thì làm lúc ấy.

Muốn đào một giếng nước ăn ư? Nếu người khởi
xướng ra việc đó không can đảm đứng ra mà đốc thúc thì
dân làng cứ chịu khó ăn nước ao mãi.

Hội đồng làng xã đặt lệ cấm đổ rác ra đường cái
ư? Nếu không có một mối hiềm thù riêng từ trước, thì
không một chức dịch nào thấy mình có trách nhiệm là ngăn
cản hay trừng phạt người làm trái lệ ấy.

Thường thường những cuộc bàn cãi trong những buổi họp
việc làng không dẫn đến một kết quả thiết thực gì cả.

Biết bao nhiêu luật lệ của cơ quan cai trị đã bị xếp
bỏ không thi hành được chỉ vì một vài người không muốn
nghe theo.

Chỉ cần một kẻ phản đối cũng đủ làm cho điều đề
nghị hay đến đâu cũng phải gác bỏ. Mà ở làng nào cũng có
vài viên kỳ mục, vài người bướng bỉnh, bao giờ cũng giữ
thái độ phản đối: Hoặc vì họ thấy công việc sẽ làm
không trực tiếp lợi cho họ, hoặc vì họ ghét người khởi
xướng ra công việc ấy; hoặc vì họ nghĩ rằng người khởi
xướng định bới việc ra để ăn - điều nghi kỵ sau này
tiếc thay, nhiều khi cũng đúng.

(1) <em>kẻ có tư cách pháp lý</em>

<div class="rightalign"><strong>Vũ Văn Hiền</strong>
Mấy nhận xét nhỏ về dân quê Bắc kỳ, <em>Thanh Nghị</em>,
1944</div>

<h2>Tinh thần gia tộc quá nặng</h2>

Ta có thể thấy vì một mối tư thù, một viên lý trưởng
phó lý hay trương tuần bắt trói trái phép một người họ
khác đã trái lệ làng vì một việc cỏn con ; người ta không
thể thấy những viên chức dịch ấy lập biên bản để đưa
ra đình hay giải lên quan một ông chú một người anh em họ
bên nội hay bên ngoại, dẫu người đó đã phạm vào tội do
hình luật trừng trị.

Cái tinh thần đại gia tộc ở xứ này đã diệt mất hẳn
tinh thần công dân. Tình họ hàng ở thôn quê đã làm cho tê
liệt hẳn bộ máy cai trị của làng vốn tự nó đã không
được khỏe gì.

… Nhờ có sức mạnh thói quen mà làng Việt Nam còn giữ
được những cổ lệ và cái đời sống thụ động của mình.
Nhưng hiện tình thì ta không thể coi nó là một công cụ giúp
vào việc tiến hóa của dân quê.

<div class="rightalign"><strong>Vũ Văn Hiền</strong>
Những nhận xét nhỏ về dân quê Bắc kỳ, <em>Thanh Nghị</em>,
1944 </div>


<h2>Đám đông dân chúng vô cảm và vô trách nhiệm</h2>

Việc làng thường định vào những ngày tuần tiết, là
những ngày ở đình có tế lễ và ăn uống. Khi nào có việc
gì khêu gợi sự cạnh tranh và đụng chạm đến những quyền
lợi có sẵn thì số người ra họp rất đông. Còn khi nào chỉ
họp để dự định công việc mới mẻ nhưng chưa ai thấy lợi
trực tiếp cho mình thì buổi họp rất vắng. Nhiều người
chỉ ra tế lễ ăn uống rồi về; mà cũng chẳng có lề luật
nào định phải có bao nhiêu người dự bàn mới là đủ.

<div class="rightalign"><strong>Vũ Văn Hiền</strong>
Mấy nhận xét nhỏ về dân quê Bắc kỳ, <em>Thanh nghị</em>,
1944</div>

<h2>Bất lực</h2>

Những người cai trị chỉ có một thứ uy quyền thuộc về
tinh thần; nếu mất đi cái uy quyền tinh thần ấy, nếu họ
để mất thể diện (vì thua kiện hoặc bị người dưới phản
kháng mà không làm gì nổi) thì sẽ không làm được việc gì
nữa. Vì họ có đặt luật lệ hay đến đâu cũng không ai theo.

Một phần lớn vì thiếu thứ uy quyền rất khó có và
rất khó giữ đó, nên phần đông các chức dịch làng xã mỗi
khi làm một việc gì cũng không dám tự quyết định lấy và
phải do ý kiến của tất cả mọi người trong làng

<div class="rightalign"><strong>Vũ Văn Hiền</strong>
Mấy nhận xét nhỏ về dân quê Bắc kỳ, <em>Thanh
Nghị</em>,1944 </div>


<h2>Không hình thành nổi một dư luận sáng suốt</h2>

Ngoài tinh thần độc tôn bè đảng, còn một trở lực nữa
ngăn cản mọi công việc cải cách ở thôn quê là dư luận
trong làng, một thứ dư luận mạnh mẽ, ác nghiệt và mù quáng.
Nhiều việc cải cách đã quyết định rồi đành bỏ dở chỉ
vì người thừa hành sống trong làng xóm, không thể chịu
đựng được những dị nghị chế giễu mà hàng chục hàng
trăm người nhắc lại ở khắp đầu làng cuối ngõ.

Đã không có quyền bắt mọi người im, lại sống luôn
với những người đó, hương chức tránh sao nổi ảnh hưởng
của dư luận; và sau vài ba tháng làm việc, người hăng hái
đến đâu cũng đành "dĩ hoà vi quý", bỏ hẳn những ý
định của mình để sống theo nếp cũ.

<div class="rightalign"><strong>Vũ Văn Hiền </strong>
Việc cai trị ở thôn quê, <em>Thanh Nghị</em>, 1945</div>

<h2>Chưa đủ khả năng tự cai quản </h2>

Ở các làng quê đâu đâu cũng thấy một sự mê muội
bướng bỉnh gian dối, đâu đâu cũng thấy những thói rượu
chè cờ bạc khao vọng ma chay kiện cáo.

Sự nghèo nàn về tinh thần và – từ khi nền học cũ đã tàn
- sự thiếu thốn về luân lý đã thêm vào sự đói rét và ốm
đau để làm cho người dân quê Việt Nam cực kỳ khổ sở.

Sở dĩ mọi cải cách thất bại vì dựa trên nguyên tắc không
hợp thời "các làng xã cần được hoàn toàn tự trị".

Khi giao việc cai trị trong làng cho những người sống trong làng
(tức mỗi làng là một đơn vị tự túc về cai trị) các làng
càng trở nên cô lập, không chung sống với lân bang; mỗi làng
thường không đủ năng lực làm việc gì cho to tát.

Các chức vụ chỉ để thỏa mãn lòng khát khao danh vọng
của dân quê.
Thật ít khi người ta thấy nhiều người phí phạm thời
giờ và nghị lực vào những công việc hão huyền như trong
một làng Việt Nam. Và thật khó lòng tìm ở một nơi nào khác
nhiều bộ phận vô ích như làng xứ ta.

<div class="rightalign"><strong>Vũ Văn Hiền</strong>
<em>Thanh nghị</em> số đặc biệt <em>Vài vấn đề Đông
dương</em>, 1945</div>

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/11818), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét