triển học thuyết Mác - Lê Nin được tác giả, "người lao
động" Ngô Văn Hải, cho đăng lại trên Dân Luận mới đây,
tác giả có ý muốn nêu ra những thiếu sót trong lí luận của
Marx và Lê Nin mà tác giả gắn chặt với nhau trong cái gọi là
chủ nghĩa Mác - Lê Nin, không phải để "đột phá" theo đúng
nghĩa chủ nghĩa này, mà để giúp Đảng hoàn thiện và phát
triển nó. Vấn đề là không thể đột phá một cái không có
hiện hữu: chủ nghĩa Mác - Lê Nin chỉ là một sự bày đặt
của Staline một năm sau khi Lê Nin mất. Người tiếp tục và
phát triển những ý tưởng triết học của Marx là Engels mà
ông Ngô Văn Hải chỉ nhắc tới có một lần, chứ không phải
Lê Nin. Marx cũng chỉ là một lí thuyết gia chứ không phải là
người đề xướng ra một chủ nghĩa nào cả. Nếu Marx sống
trong thời hiện đại, chắc chắn cũng sẽ được giải Nobel
về kinh tế như cả mấy chục người khác từ khi có giải
Nobel cho tới nay và đã bị quên lãng như những người này
một vài năm sau.
Tôi xin chia bài viết này làm ba phần:
- Marx, Engels, Lénine và ngay cả Staline, đều không phải là
những người Mác xít
- Cái gọi là Chủ nghĩa Mác - Lê Nin chỉ là chủ nghĩa Stalinit
cũng như cái biến dạng của nó là chủ nghĩa Maoit
- Cũng không có Tư bản chủ nghĩa mà chỉ có Kinh tế thị
trường từ khi có loài người Homo Sapiens
<h2>1) Thân thế và sự nghiệp của Marx, Engels, Lénine, Staline,
đều chứng minh những người này đều không phải là những
người Marxistes:</h2>
- Marx (1818-1883), Engels (1820-1895), đều sinh ở hạt Rhénanie
thuộc Pháp từ Cách Mạng Pháp 1789 đến năm 1815 khi Napoléon
thua trận, Rhénanie bị nước Phổ chiếm đóng. Chỉ sinh sớm
một vài năm là cả hai đều là người Pháp chứ không phải
người nước Phổ. Cũng vì vậy mà cả hai đều chịu ảnh
hưởng của văn hóa Pháp cũng như những truyền thống cách
mạng và tư tưởng của các nhà khai sáng Pháp.
Marx và Engels đều là những nhà trí thức tư sản: Engels xuất
thân trong một gia đình tư bản siêu quốc gia về ngành dệt,
có xưởng máy ở Manchester, Anh. Marx là dòng dõi một gia đình
vọng tộc gốc Do Thái có nhiều người làm giáo sĩ tuy sau cả
gia đình đều rửa tội theo đạo Phản thệ. Marx kết hôn với
một phụ nữ thuộc dòng dõi quí tộc Phổ, anh vợ là bộ
trưởng bộ Nội vụ trong chính phủ Hoàng gia Phổ. Cả hai, Marx
và Engels, đều được giáo dục theo chuẩn mực của những gia
đình thượng lưu Âu châu thời ấy, lấy văn minh Hi Lạp, La Mã
và văn hóa Pháp làm căn bản. Marx là một người rất thông
thái, làm luận án tiến sĩ triết học bằng tiếng cổ Hi Lạp,
nhưng quen sống trong tháp ngà, được gia đình bên vợ và sau
lại được Engels chu cấp nên không làm ăn gì cả lại có
đời tư rất bê bối đẻ con rơi với một người nữ quản
gia mà gia đình vợ gửi qua Anh nuôi mấy đứa con của Marx, làm
Engels phải nhận làm con mình để tránh tai tiếng cho Marx.
Marx đã tự nói "tôi không phải là người Mác-xít" và cũng
không phải là một kinh tế gia khi tự than "Là một nhà kinh
tế, vậy mà tôi không lo nổi kinh tế cho chính bản thân mình".
Marx chỉ là một nhà triết học đã dùng biện chứng pháp để
suy luận lịch sử như các nhà triết học cổ Hi Lạp đã dùng
biện chứng pháp để suy luận về mọi vấn đề cách đây 2500
năm. Biện chứng pháp chỉ là một phương pháp suy luận như Âm
- Dương trong kinh Dịch, như hệ Nhị số trong Tin học bây giờ.
Khái niệm "đấu tranh giai cấp" là "định đề" của sự suy
luận này. Vả lại thuật ngữ "giai cấp" theo tiếng Âu Tây
chỉ có nghĩa là một lớp người (une classe). Biến khái niệm
"Đấu tranh giai cấp" của Marx thành một chủ nghĩa không khác
gì biến định đề Ơ-clit thành một chủ nghĩa trong hình học.
Cũng khó có thể nói danh từ "cộng sản" do Marx đặt ra: Năm
1847 Marx thảo một bản đả kích (un pamphlet) trong đó Marx nhân
danh những người Công chính (les Justes) lặp lại gần như toàn
thể những nguyên lí của Engels. Engels góp ý với Marx là phải
trình bày làm sao cho thật dễ hiểu và phải tìm một nhan đề
thật kêu để lôi cuốn. Bài đả kích của Marx được biến
thành một bản Tuyên ngôn (Manifeste): <em>Tuyên ngôn của đảng
Cộng sản</em>. Thật ra hồi đó chưa có đảng cộng sản mà
chỉ có "Liên đoàn những người cộng sản" mà tên đầu tiên
là "Liên đoàn những người công chính" (Ligues des Justes). Ngay
cả câu "Vô sản mọi xứ trên toàn cầu hãy hợp nhất lại
cũng là theo ý của Engels chứ mới đầu Marx chỉ muốn đưa ra
châm ngôn như Khổng Tử "Mọi người đều là anh em". Có lẽ
Marx vẫn chịu ảnh hưởng của câu "Tự do, Bình đẳng, Huynh
đệ" của Cách mạng Pháp.
Ông Ngô văn Hải cũng căn cứ vào "Giáo trình triết học nội
dung của Mác" để "qui định phủ định của phủ định"(?),
đột phá Biện chứng lịch sử của Mác mà ông cũng cho là
của Lê Nin khi ông nói "phép biện chứng Mác - Lê Nin". Không có
lẽ cần phải nhắc lại với ông Ngô Văn Hải là không có cái
gọi là biện chứng Mác - Lê Nin, trừ khi ông muốn ám chỉ ban
Tuyên giáo ĐCSVN vẫn muốn bắt mọi người hiểu Marx và Lénine
theo ý Staline. Tôi xin nhắc lại là cuốn Tư bản luận (Le
Capital) của Marx mà chúng ta đang học là của Staline cho viết
lại chứ không phải của Marx. Người ta đã chứng minh rằng
trong 4 tập của cuốn Tư bản luận, Marx chỉ viết có tập
đầu. Tôi xin kể lại "hành trình" của cuốn Tư bản luận:
Bắt đầu từ năm 1865 (Lénine chưa ra đời) Marx đã bỏ rất
nhiều công sức viết cuốn Tư bản luận. Nhưng chỉ có tập
đầu xuất bản năm 1875 (và được dịch ra tiếng Pháp ngay từ
đầu) là có sự kiểm tra của Marx. Tập 2 xuất bản năm 1885
và tập 3 xuất bản năm 1894 được biên soạn bởi Engels. Tập
4 do Karl Kautsky biên tập và xuất bản năm 1905-1910. Tuy nhiên
mới đây người ta đã công bố các tập sau của bộ Tư bản
luận mà David Ryazanov (một học giả Bôn sê víc bị Stalin xử
bắn năm 1938) - dịch từ bản thảo viết tay của Marx - có rất
nhiều khác biệt với các tập Tư bản luận mà Engels biên
soạn, thậm chí có nhiều đoạn đã bị Engels thay đổi. Bởi
vậy nếu tin vào bộ Tư bản luận của Staline và của nhà
Xuất bản Sự Thật (nay là nhà xuất bản Chính trị Quốc gia)
để suy luận về Marx thì khác gì đổ thóc giống ra mà ăn!
Ông Ngô Văn Hải đã hoàn toàn bỏ quên Engels hay không biết là
Đệ Nhất Quốc tế do Marx sáng lập năm 1864 ở London đã tự
giải tán năm 1876, bẩy năm trước khi Marx mất vì sự bất
đồng ý kiến giữa phe theo Marx và phe vô chính phủ theo
Bakounine. Sở dĩ tên tuổi của Marx còn lưu lại hậu thế là
vì có dính tới Engels người đã sáng lập ra Đệ Nhị Quốc
tế tại Paris năm 1889. Các đảng Dân chủ Xã hội trên thế
giới chỉ là các phân bộ của Đệ Nhị Quốc tế. Đảng Dân
chủ Xã hội Công nhân Nga (PSDOR) mà Lénine làm thủ lãnh là
một phân bộ của Đệ Nhị Quốc tế cũng như Phân bộ Pháp
Thợ thuyền Quốc tế (SFIO), tiền thân của đảng Xã hội Pháp
hiện nay. Các đảng Dân chủ Xã hội ở phương Tây ngày nay mà
ĐCSVN cấm mọi người nói đến, là thừa kế độc nhất của
tư tưởng Marx - Engels.
- Lénine (1870-1924) thua Marx và Engels tới hơn nửa thế kỷ là
con một ông thanh tra học vụ có công với Sa hoàng nên ông này
được phong một tước nhỏ trong hàng qúi phái. Cũng vì vậy
Lénine khi làm cách mạng bị bắt, chỉ bị quản thúc 4 năm
trong làng của mình và được cung cấp sách vở tha hồ viết
sách báo. Vợ Lénine cũng con một sĩ quan thuộc dòng quí phái
như vợ Marx. Sau khi lấy vợ, từ năm 1895 trở đi, luôn luôn
sống ở Genève và Paris. Ở Paris, Lénine còn đèo thêm một
người tình, Elisabeth Armand, cho ở cạnh nhà vợ ở cùng
đường Campagne Première khu nghệ sĩ Montparnasse, hàng ngày ra
quán Closerie des Lilas nhậu nhẹt với giới thượng lưu trí
thức. Tháng Tư năm 1917 Lénine được Đức đem xe bọc sắt có
bảng ngoại giao đem từ Thụy Sĩ về Nga xuyên qua Đức. Vì
vậy mà có tin đồn Lénine là tay sai của Đức được Đức
dùng để chống lại Nga Hoàng đang có chiến tranh với Đức.
- Chỉ có Staline (1879-1953) là "bần cố" bị cha nghiện rượu
đánh đập suốt ngày, may được người mẹ gửi mấy ông cha
cố mong sau này trở thành một ông cha cố cho bõ công người
mẹ. Học nửa chừng bị đuổi khỏi dòng tu nên người mẹ
rất buồn bực. Sau này khi công thành danh toại trở về thăm
mẹ tự khoe là bây giờ đã thay Nga hoàng. Người mẹ chỉ trả
lời: tao thích mày làm cha cố hơn. Staline giận tím người
đến khi mẹ chết cũng không thèm về đưa đám ma, nhưng đã
vẫn giữ những nề nếp của các cha cố, tổ chức đảng
cộng sản như một giáo hội mà mình là giáo chủ. Nhưng cũng
trong cái giáo hội Cộng sản này có nhiều người "tử vì
đạo" nhất.
Thử tưởng tượng nếu Marx, Engels, Lénine, và cả Staline, còn
sống dưới thời Mao hay trong thời kỳ cải cách ruộng đất
ở Việt Nam, thì sẽ không tránh khỏi bị kết tội trí phú
địa hào hay thuộc thành phần lưu manh trong xã hội, tay sai
của các cha cố (Staline).
<h2>2) Không có chủ nghĩa Mác -Lê Nin mà chỉ có chủ nghĩa Dân
chủ - Xã hội của Engels.</h2>
Người đã phản bội Engels - tức là phản bội Marx - chính là
Lénine. Cũng chỉ vì muốn giữ độc quyền trong đảng Dân chủ
Xã hội Thợ thuyền Nga, Lénine đã dựa vào phái thiểu số
trong đảng mà Lénine gọi ngược lại là Đa số (Bôn Sê Víc),
làm một cuộc đảo chính nội bộ gọi là Cách Mạng tháng
Mười vĩ đại. Biết trước là Staline sẽ phản bội nên năm
1924 trước khi chết Lénine đã để lại di chúc phải loại
trừ Staline. Nhưng Staline nhanh chân hơn đã giết hết những phe
cánh trung thành với Lénine. Đó cũng là số của nước Nga gặp
phải hung thần chứ trước khi chết Lénine đã hối hận, tái
lập lại cái gọi là Kinh tế chính trị mới (NEP, Nouvelle
Économie Politique). Nếu Lénine sống được thêm vài năm nữa,
có thể Lénine đã trở về với chế độ Dân chủ Xã hội
của Engels.
Cái định nghĩa đúng nhất về chủ nghĩa Mác - Lê Nin là của
Souvarine, một người Marxiste theo phe Lénine chống lại Staline và
là một trong những người sáng lập đảng Cộng sản Pháp:
"<em>Chủ nghĩa Mác - Lê Nin chỉ là một cách nói láo khoét
được Staline đặt ra sau khi Lénine chết để che giấu những
thủ đoạn quái gở của mình. Thực ra nó đồng nghĩa với
chủ nghĩa Stalinit, ngược với luận thuyết của Marx và chỉ
làm lố bịch những ý tưởng của Lénine</em>" (Wikipédia).
Souvarine cho cái chủ nghĩa Stalinit chỉ là chủ nghĩa Tư bản
Nhà nước (Capitalisme d'État).
Có thể nói, ngoại trừ những khái niệm triết học xa vời
thực tiễn, Marx không bao giờ có được một hành động thiết
thực ngay đối với bản thân mình. Engels, trái lại có những
hành động thức thời như khi lập ra Đệ Nhị Quốc Tế tập
hợp mọi tổ chức như các công đoàn, các đảng xã hội mỗi
nước để kiến tạo một lực lượng quốc tế mỗi ngày một
lớn mạnh có đủ sức đương đầu đấu tranh trực diện với
giới chủ tư bản quốc gia và siêu quốc gia. Các công đoàn có
nhiệm vụ đấu tranh kinh tế chống áp bức bót lột, giành
quyền lợi kinh tế cho giới cần lao. Các đảng xã hội có
nhiệm vụ đấu tranh chính trị đòi công bằng xã hội và các
quyền tự do dân chủ. Có cuộc phân công giữa các công đoàn
và các đảng xã hội để đấu tranh trên cả 3 mặt trận ngang
bằng nhau, kinh tế, xã hội và dân chủ, nên các đảng xã hội
trong đệ Nhị Quốc tế thay đổi tôn chỉ để trở thành các
đảng Dân chủ - Xã hội. Chế độ dân chủ - xã hội có hai
mặt: Dân chủ, đầu mối của mọi tiến triển kinh tế vì
mỗi người đều có quyền tự do lựa chọn thông qua bầu cử,
đảng nào, người nào, đưa ra chính sách phù hợp với quyền
lợi của mình và mọi người đều có quyền tự do kinh doanh,
không bị chèn ép bởi một thế lực nào. Xã hội, nằm trong
sự phân chia công bằng lợi lộc kinh tế qua chính sách thuế
má. Đó là một điểm khác với chế độ Dân chủ Phóng khoáng
(Démocratie libérale) trong đó mỗi cá nhân có nhiều tự do hơn,
kể cả tự do đóng góp cho xã hội. Cho tới nay, chế độ
thích hợp nhất vẫn là chế độ dân chủ - xã hội ở Tây Âu
và ở một vài nước dân chủ châu Á, châu Úc.
<h2>3) Không có tư bản chủ nghĩa mà chỉ có kinh tế thị
trường</h2>
Để phản biện khái niệm "Giá trị thặng dư = bóc lột sức
lao động" mà ông Ngô Văn Hải cho là của Marx, ông Hải đổ
cho Marx đã trừu tượng hóa quá trình sản xuất giá trị
thặng dư (hay lợi nhuận) khi ông đem quá trình sản xuất của
kinh tế thị trường ngày nay ra đối chọi với sản xuất tư
bản trong một thời gian rất ngắn cách đây 150 năm khi sản
xuất hàng hóa còn sơ khai, cần nhiều nhân công và vật liệu.
Nhưng để phản biện Marx, vô tình ông Ngô văn Hải đã chứng
minh là không có chủ nghĩa tư bản mà chỉ có kinh tế thị
trường, ít nhất là từ 30 ngàn năm nay khi người Homo Sapiens
đã qua trình độ đổi chác cho nhau những gì mình kiếm được
hay mình làm ra được, như lương thực và những vật dụng
cần thiết cho đời sống hàng ngày, để đòi hỏi tùy theo
thị hiếu và luật cung cầu, những đồ vật phù phiếm, như
những đồ trang sức, những đồ cúng lễ chẳng hạn. Nếu có
một chủ nghĩa tư bản thì chỉ có tư bản độc quyền Nhà
nước dưới thời Staline, Mao và tư bản Đảng như ở Trung
Quốc, Việt Nam hiện giờ. Kinh tế thị trường là kinh tế
tiêu thụ và chọn lựa những sự thừa thãi. Cái mà ông Ngô
Văn Hải gọi là 2 đặc điểm của "khủng hoảng kinh tế trong
tư bản chủ nghĩa" là "hàng hóa ế thừa trong khi đời sống
nhân dân còn thiếu thốn và mang tính chu kỳ" chỉ có ở dưới
chế độ "Tư bản cộng sản chủ nghĩa" khi Đảng bóc lột
sức lao động người dân để sản xuất những hàng hóa bị
ế thừa khi không xuất cảnh được hay bị trả về , như ở
Trung Quốc khi 800 triệu nông dân, 200 triệu min công (dân công)
không có được một đô la mỗi ngày để sống mà sản xuất
đồ hàng cho cả thế giới sài. Trái lại, trong nền kinh tế
thị trường (không theo định hướng Xã hội chủ nghĩa), hàng
hóa ế thừa là vì không thích hợp với thị trường tiêu thụ
nữa, bắt buộc người kinh doanh phải làm những đồ mới với
những kỹ thuật tân tiến hơn, cần nhiều sáng kiến và phải
trả giá rất cao để mua hay để thuê bản quyền những sáng
kiến này (chiếm trung bình 40% giá thành của sản phẩm) trong
khi giá vật liệu (phần nhiều từ dầu hỏa chế biến ra) chỉ
chưa tới 5% và giá nhân công, nếu làm ở bên Tàu, cũng chưa
tới 5%, đồng thời nhà nước cũng phải tăng sức mua của
người dân để tiêu thụ hàng hóa, tức là phải làm sao cho
dân giàu thì kinh tế mới mạnh chứ không thể bần cùng hóa
người dân để làm giầu cho Đảng như trong chế độ độc
đảng toàn trị được. Cái mà ông Ngô Văn Hải gọi là
"khủng hoảng kinh tế có chu kỳ" (tại sao lại có chu kỳ?)
trong kinh tế thị trường chỉ là những sự tự điều chỉnh,
khiến sau mỗi cuộc khủng hoảng nền kinh tế lại mạnh mẽ
hơn. Không có những "khủng hoảng" dẫn đường, kinh tế thị
trường sẽ như người mù không gậy té xuống ao lúc nào không
hay. Nếu suy luận như ông Ngô Văn Hải thì làm sao 5 tỷ người
trong số 7 tỷ người trên thế giới, đa số không đủ cơm ăn
mỗi ngày mà người nào cũng có điện thoại di động? Điện
thoại di động trở thành một đồ vật cần thiết hơn cơm ăn
áo mặc nhà cửa. Làm sao chỉ trong vòng mấy năm mà Apple lại
tung ra I-phone đời 4 với giá bán trung bình 700-800 đô một cái
trong khi giá nhân công làm ở Trung Quốc chưa tới 1O đô mà còn
phải làm việc suốt đêm suốt ngày, ăn ngủ tại chỗ đưa
đến thảm cảnh cả mấy chục người phải tự tử mỗi năm?
Chủ nghĩa Mác - Lê Nin mới đích thực là chủ nghĩa tư bản
man dại thời đầu thế kỷ thứ XIX. Chỉ khác là càng làm
đồ hiện đại bao nhiêu thì những nước theo chủ nghĩa này
càng phải bóc lột nhân công bấy nhiêu, càng phải ăn cắp
bằng sáng chế bấy nhiêu, càng phải làm đồ dởm bấy nhiêu,
càng phải cấu kết với giới kinh tài nước ngoài bấy nhiêu
để thu nhiều "thặng dư giá trị" cho đảng Lãnh đạo.
<h2>Kết luận</h2>
Tôi xin chép lại ý kiến này của ông Ngô văn Hải "<em>như
vậy người lao động ngoài tiền lương còn phải được phân
phối một phần lợi nhuận thành cổ phần trong doanh nghiệp
thì không còn sự bóc lột, phân phối sẽ công bằng, kích
thích khả năng sáng tạo của mỗi người và sự tích tụ tư
bản để tái sản xuất mở rộng vẫn giữ được</em>".
Tôi chỉ xin nói thêm là ý kiến của ông Hải đã được thể
hiện ở những nước theo chế độ Dân chủ, Xã hội hay Phóng
khoáng, nhờ sự tranh đấu, thương lượng, mặc cả giữa các
công đoàn và giới chủ, hai bên ngang sức nhau, với nhà nước
đứng giữa làm trọng tài. Ở những nước này danh từ "lao
động" được thay bằng "người làm công" và sự đóng góp
của giới chủ cho những người làm công về an sinh xã hội,
bảo hiểm thất nghiệp, hưu trí, phụ cấp gia đình... bằng
trung bình một nửa số tiền lương của những người này. Ông
Ngô văn Hải muốn ý kiến của ông được Đảng thực thi thì
phải tranh đấu làm sao cho Đảng phải từ bỏ cái chủ nghĩa
Stalinit Mác - Lê Nin chứ không phải giả đò đột phá cái chủ
nghĩa này để giúp Đảng phát triển nó.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/11685), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét