Nguyên nhân dẫn đến thất bại trong kinh doanh lĩnh vực viễn thông của Tập đoàn EVN

Tập đoàn Điện lực Việt Nam tham gia vào lĩnh vực kinh doanh
viễn thông, EVNTelecom có nhiều lợi thế hơn các đối tác khác
như: sử dụng các tuyến cáp quang trên đường dây 500 KV, 220KV,
110 KV đầu tư bằng nguồn vốn dự án điện; có sẵn hạ
tầng cột điện treo cáp viễn thông; tận dụng đất đai và
phòng ốc sẵn có của ngành điện để cải tạo hoặc xây
mới showroom bán hàng hoặc làm phòng máy; đội ngũ nhân viên
ngành điện hùng hậu vừa là khách hàng sử dụng dịch vụ
của ngành, vừa tuyên truyền quảng bá dịch vụ của ngành ;
đặc biệt là dựa lợi thế thương hiệu lớn EVN.

Tuy nhiên sau 5 năm kinh doanh viễn thông, EVNTelecom đến bên bờ
vực phá sản và Chính phủ đã phải điều chuyển nguồn vốn,
cơ sở vật chất và con người sang để Viettel quản lý với
mục đích đảm bảo quyền lợi cho khách hàng và công ăn việc
làm cho nhân viên EVNTelecom. Nhà mạng Viettel cũng đã gấp rút
chuyển đổi khách hàng có nhu cầu chuyển sang mạng Viettel và
sau ngày 31/3/2012, toàn bộ thuê bao EVN chưa chuyển đổi sang
mạng Viettel sẽ ngưng dịch vụ.

Nhà mạng EVNTelecom được nhiều ưu ái từ Tập đoàn mẹ EVN
như: cấp 4.500 tỷ để mua thiết bị đầu cuối nhưng các
Tổng công ty Điện lực chịu 45% chi phí và sau khi EVNTelecom chi
hết số tiền này thì bắt đầu từ năm 2009 các Tổng công ty
Điện lực chịu trách nhiệm đầu tư 100% thiết bị đầu
cuối; đơn giá hạ tầng cáp quang, cột anten, nhà trạm các
Tổng công ty Điện lực cho EVNTelecom thuê tính theo đơn giá
giản khấu hao 15 năm và không tính lãi vay.

So với các nhà mạng khác, Tập đoàn EVN có đội ngũ nhân viên
làm công tác viễn thông rất hùng hậu, thời kỳ cao điểm là
năm 2010 với số nhân viên lên tới 13.000 người. Năm 2010, Tập
đoàn EVN chấn chỉnh công tác viễn thông với các biện pháp
như: đưa ra quy chế người đứng đầu, bổ nhiệm cán bộ
lãnh đạo chuyên trách viễn thông tại các Tổng công ty Điện
lực và yêu cầu các Tổng công ty Điện lực bổ nhiệm cán
bộ lãnh đạo chuyên trách viễn thông tại các Công ty Điện
lực; cho phép tuyển dụng thêm nhân viên làm viễn thông để
bổ sung thêm cho các bộ phận sẵn có và thành lập thêm các
tổ chuyên trách viễn thông tại Điện lực. Bên cạnh đó,
vượt qua năm suy thoái kinh tế 2009 và phải tăng trưởng trở
lại năm 2010, ngoài cung cấp dịch vụ 3G, Tập đoàn EVN thực
hiện chiến lược Internet cáp quang FTTH.

Thế nhưng, doanh thu và lợi nhuận của EVNTelecom vẫn tiếp tục
giảm sút. Nếu như năm 2008, đơn vị này còn đạt doanh thu
tới 3.705,6 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 93,8 tỷ đồng
thì năm 2010 doanh thu chỉ còn 2.120,6 tỷ đồng và chuyển qua
lỗ 1.057,7 tỷ đồng. Bước qua năm 2011, EVNTelecom mất khả
năng thanh toán, mỗi tháng phải treo nợ 176 tỷ đồng.

Thất bại lĩnh vực kinh doanh viễn thông của Tập đoàn EVN có
nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân:

Thứ nhất là nhân lực: đội ngũ làm công tác viễn thông
đông nhưng không tinh và bố trí nhân lực chưa hợp lý.

Ban VT&CNTT của Tập đoàn EVN là đơn vị tham mưu cho lãnh đạo
Tập đoàn EVN về công tác viễn thông nhưng có đội ngũ nhân
lực không đủ mạnh. Trong hội nghị công tác viễn thông
nhiều đơn vị đã đề nghị Ban VT&CNTT của Tập đoàn EVN
phải đủ mạnh có thể đưa ra phương án và các đơn vị cấp
dưới cứ thế thực hiện; không như tình trạng hiện nay Tập
đoàn EVN cứ giao nhiệm vụ, giao chỉ tiêu còn các đơn vị
phải "lò mò" tìm phương án thực hiện.

EVNTelecom là đơn vị thực hiện các nhiệm vụ như: xây dựng
phương án kinh doanh trình lên Tập đoàn EVN; đầu mối nhập
thiết bị đầu cuối; chăm sóc khách hàng gián tiếp từ xa;
vận hành tổng đài; vận hành mạng đường trục trong nước
và Quốc tế. Một yếu kém lớn nhất của EVNTelecom là không
đưa ra được chiến lược thích hợp tạo rào cản khi hai nhà
mạng VNPT và Viettel tham gia thị trường điện thoại cố định
không dây vào cuối năm 2008.

Mạng CDMA 450 MHz có nhiều khuyết điểm đối với dịch vụ di
động nhưng có rất nhiều ưu điểm đối với dịch vụ cố
định không dây. EVNTelecom cung cấp dịch vụ cố định không
dây, cộng với dịch vụ gia tăng Internet không dây trên mạng
CDMA 450 MHz đã tạo ra khác biệt và chính là độc quyền trên
thị trường. Tuy nhiên khách hàng có nhu cầu sử dụng Internet
chưa đến 1%, còn chủ yếu là khách hàng bình dân chỉ có nhu
cầu nghe gọi. Thế thì, đáng lẽ ra EVNTelecom phải đặt hàng
90% máy điện thoại cố định không dây chỉ cần có chức
năng nghe gọi có giá 6 đến 7 trăm ngàn đồng mỗi máy. Thế
nhưng trái lại, EVNTelecom đặt máy không dây loại cao cấp có
rất nhiều chức năng có giá 2 đến 3 triệu đồng mỗi máy.
Máy điện thoại có giá quá cao khách hàng không thể mua được
máy và không phát triển được khách hàng.

Nhà mạng không phát triển được khách hàng thì không có doanh
thu, đồng thời ứ động vốn đầu tư thiết bị đầu cuối
và EVNTelecom đành phải thực hiện gói E-COM doanh nghiệp, tặng
máy điện thoại không dây cho khách hàng là doanh nghiệp, nhưng
kèm theo điều kiện sử dụng tối thiểu 2 năm, cước phát sinh
hàng tháng tối thiểu hai trăm ngàn đồng. Giai đoạn này cứ
cho máy ào ào miễn là có dấu doanh nghiệp, các cộng tác viên
của EVNTelecom giành giật nhau cho máy, có cộng tác viên một
ngày có thể cho được 100 máy với tiền hoa hồng 6 triệu
đồng. Do không quản lý được đội ngũ cộng tác viên dẫn
đến cộng tác viên phát triển thuê bao một cách tuỳ tiện,
có nhiều thuê bao không có địa chỉ. Thực hiện gói E-COM doanh
nghiệp một thời gian phải ngừng lại, nguyên do doanh thu thấp
không đủ cho chi phí thiết bị đầu cuối giá cao. Tuy nhiên
quý III/2008, VNPT và Viettel tham gia thị trường máy điện thoại
cố định không dây với chính sách tặng máy cho khách hàng nên
EVNTelecom cũng phải tặng máy cho khách hàng.

EVNTelecom biết VNPT và Viettel đang thử nghiệm điện thoại cố
định không dây, đáng lý ra EVNTelecom nên đặt máy không dây
giá rẻ có giá 6 đến 7 trăm ngàn đồng tặng cho khách hàng
để phát triển thuê bao chiếm lĩnh thị trường. Thế nhưng
EVNTelecom cứ đặt máy giá cao đã không phát triển được
khách hàng, nhưng đến khi VNPT và Viettel cung cấp dịch vụ
không dây với máy điện thoại chỉ có giá 6 trăm ngàn đồng
nên hai nhà mạng này thực hiện cuộc đua tặng máy và tặng
thuê bao thế thì EVNTelecom cũng phải tặng máy giá cao, nhưng
đã muộn.

EVNTecom có một yếu kém nữa là cán bộ vận hành mạng. Dự
án mở rộng mạng CDMA giai đoạn 5 đã hoàn thành lắp đặt
thiết bị BTS và thiết bị truyền dẫn vào đầu quý IV/2008.
Tuy nhiên do EVNTelecom thiếu nhân viên cấu hình trạm dẫn đến
cuối quý I/2009 các trạm BTS mới đưa vào hoạt động. Trong khi
đó các trạm BTS của Viettel lắp đặt sau, chưa thi công cáp
quang nhưng Viettel thuê truyền dẫn kênh vệ tinh có tốc độ
128kb/s để đưa trạm vào hoạt động với mục đích phát
triển khách hàng, mặc dù truyền dẫn vệ tinh tốc độ thấp
dẫn đến chất lượng dịch vụ không được tốt.

Công ty Điện lực tỉnh là đơn vị trực tiếp phát triển
khách hàng, chăm sóc khách hàng, thu cuớc, vận hành và xử lý
sự cố hệ thống viễn thông nội tỉnh. Trung bình mỗi Công ty
Điện lực biên chế khoảng 70 nhân viên làm trực tiếp công
tác viễn thông, thế nhưng công tác phát triển khách hàng chủ
yếu giao cho các Điện lực huyện và Điện lực huyện lại
giao chỉ tiêu cho công nhân điện. Trung tâm Viễn thông Điện
lực tỉnh được biên chế khoảng 20 nhân viên đa số có trình
độ đại học. Tuy nhiên nhân lực bố trí không hợp lý, cuối
cùng tất cả mọi công việc từ chăm sóc khách hàng, thu nợ
cước khó đòi, kéo cáp phát triển thuê bao, chạy máy phát
điện khi mất điện lưới cũng là công nhân điện, còn Trung
tâm Viễn thông Điện lực chủ yếu thực hiện công việc
tổng hợp và báo cáo.

Nhiều kỹ sư điện làm điện lâu năm nhưng không có chức vụ
nên xin qua làm viễn thông để lên chức. Tuy nhiên không có
chuyên môn nên không làm việc được và kỹ sư điện được
gửi đi đào tạo chuyên ngành viễn thông, có nhiều kỹ sư
điện mới học xong thêm chuyên ngành viễn thông thì EVNTelecom
phá sản. Đơn vị thiếu kỹ sư điện thì phải tuyển mới
nhưng không làm việc tốt hơn kỹ sư điện làm lâu năm.

Thứ hai là chọn sai công nghệ: công nghệ CDMA 450MHZ có một
số ưu điểm nhưng đa số là khuyết điểm.

Công nghệ CDMA 450 MHz rất ít nhà mạng trên thế giới sử
dụng và chỉ sử dụng cung cấp dịch vụ cố định không dây,
dịch vụ di động CDMA 450 MHz chẳng qua là tận dụng hạ tầng
sẵn có, chất lượng dịch vụ di động rất kém và chỉ có
nhân viên ngành điện sử dụng một cách ép buộc. Khi EVNTelecom
chuyển giao cho Viettel, nhiều lãnh đạo ngành điện cũng bỏ
luôn đầu số 096.

Nhà mạng EVNTelecom sử dụng công nghệ CDMA 450MHz cũng do lịch
sử. Lúc đầu Tập đoàn EVN chỉ được cấp giấy phép làm
điện thoại cố định, với việc chọn lựa công nghệ CDMA 450
MHz có vùng phủ sóng rộng cung cấp dịch vụ cố định không
dây sẽ tiết kiệm đầu tư. Tuy nhiên thiết bị thiết lập
mạng cũng như thiết bị đầu cuối CDMA 450 MHz có ít nhà sản
xuất dẫn đến giá cao. Nhà mạng Viettel có thiết bị thiết
lập mạng GSM chiếm 25% tổng mức đầu tư, còn nhà mạng
EVNTelecom giá thiết bị thiết lập mạng CDMA 450 MHz đắt hơn
nhiều lần.

Công nghệ CDMA 450 MHz bị can nhiễu và khả năng xuyên thủng
kém dẫn đến chất lượng dịch vụ tại các thành phố lớn
rất kém. EVNTelecom khi thử nghiệm đã phát hiện ra vấn đề
này, đáng lý ra EVNTelecom nên phân vùng cung cấp dịch vụ và
phân khúc thị trường. Đối với dịch vụ di động, EVNTelecom
nên xin cấp giấy phép công nghệ GSM 1800.

Thứ 3 là thực hiện đầu tư quá chậm: EVNTelecom làm vài trăm
trạm bằng nhà mạng khác làm vài ngàn trạm.

Tập đoàn EVN không phân cấp rõ trong đầu tư viễn thông. Dự
án này hạ tầng viễn thông giao cho EVNTelecom đầu tư, dự án
khác lại giao hạ tầng viễn thông cho các Tổng công ty Điện
lực, Tổng công ty Truyền tải đầu tư. Sau đó các đơn vị
được đầu tư lại phân cấp tiếp, dự án này giao cho Ban này
thực hiện dự án, dự án khác lại giao cho Công ty Điện lực
thực hiện dự án.

Đơn vị khi được thực hiện dự án phải từ từ xem cho đơn
vị nào làm tư vấn thiết kế, đơn vị nào thi công và đơn
vị nào làm tư vấn giám sát. Quan trọng nhất tối ưu vùng
phủ sóng là khảo sát quy hoạch thiết kế vị trí đặt trạm
phát sóng. Nhiệm vụ quy hoạch trạm phát sóng được giao cho
Trung tâm Tư vấn Thiết kế EVNTelecom và đơn vị này cũng làm
qua loa rồi giao lại cho các Công ty Điện lực tỉnh. Nhân viên
Điện lực cứ thế tha hồ di chuyển trạm đến vị trí đất
mua được hoặc vị trí đất của người quen. Điển hình là
dự án hạ tầng 3G giai đoạn 2, đất nhân viên Điện lực
đầu tư cho thuê lắp đặt trạm quá nhỏ phải hạ chiều cao
cột anten. Theo tiêu chuẩn của các nhà mạng khác chiều cao
lắp đặt sector tại thành phố Đà Nẵng là 36m, khu vực mật
độ thuê bao càng lớn thì giảm chiều cao lắp đặt sector.
Thế nhưng, cột anten do các Công ty Điện lực đầu tư ở vùng
nông thôn cũng chỉ cao 20m.

Thất bại viễn thông của Tập đoàn EVN có rất nhiều nguyên
nhân, người đứng đầu Tập đoàn là Chủ tịch HĐQT chịu
trách nhiệm quyết định đầu tư và bổ nhiệm các lãnh đạo
chủ chốt phụ trách công tác viễn thông. Theo khách quan phải
dựa vào kết quả kinh doanh viễn thông của từng đơn vị để
truy trách nhiệm cụ thể từng cá nhân và tập thể.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/11732), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét