Duy Ái phỏng vấn ông Mai Thái Lĩnh: Thác Bản Giốc của Việt Nam hay của Trung Quốc

<em><strong>Vấn đề chủ quyền Thác Bản Giốc lại được dư
luận Việt Nam chú ý bàn tán hồi gần đây sau khi Chủ tịch
Trương Tấn Sang đến thăm ngọn thác xinh đẹp ở biên giới
Việt-Trung được cho là thác nước xuyên quốc gia lớn nhất Á
châu. Báo chí Việt Nam hồi tuần qua cũng cho biết Hà Nội và
Bắc Kinh đang thương thảo để đạt được Hiệp định về
khai thác tiềm năng du lịch khu vực Thác Bản Giốc. Trong nhiều
năm qua chính phủ ở Hà Nội cho rằng Việt Nam lẽ ra chỉ có
chủ quyền đối với một phần ba Thác Bản Giốc nhưng nhờ
thương thuyết nên Trung Quốc nhượng bộ và giờ đây Việt Nam
được phân nửa. Tuy nhiên, những người chỉ trích nói rằng
Thác Bản Giốc trước đây được coi là thác riêng của Việt
Nam. Mời quí thính giả theo dõi thêm chi tiết qua cuộc phỏng
vấn nhà nghiên cứu Mai Thái Lĩnh sau đây.</strong></em>

<center><img src="http://danluan.org/files/u1/sub02/thac_ban_gioc.jpg"
width="480" height="319" alt="thac_ban_gioc.jpg" /></center>
<center><em>Thác Bản Giốc. Hình: Wikimedia commons - Mike
Williams</em></center>

<strong>VOA:</strong> Thưa ông, chắc ông cũng biết là trong chuyến
viếng thăm Trung Quốc mới đây, Bộ trưởng Ngoại giao Việt
Nam Phạm Bình Minh có đề cập tới ý định thương thuyết
với Trung quốc để ký kết hiệp định về khai thác tiềm
năng du lịch Thác Bản Giốc. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang
hồi đầu tháng 12 vừa qua cũng đã đến thị sát Cao Bằng và
đi thăm Thác Bản Giốc. Với tư cách là một người bỏ công
nghiên cứu rất nhiều về vấn đề chủ quyền Thác Bản Giốc
xin ông cho thính giả của VOA được biết sơ qua về tình hình
hiện nay ở khu vực này?

<strong>Ông Mai Thái Lĩnh:</strong> Qua thông tin của báo chí trong
nước, trong những năm gần đây và mãi cho tới ngày nay việc
khai thác du lịch ở thác Bản Giốc có một sự mất cân bằng
giữa hai bên. Phía Trung Quốc hàng năm họ thu hút được
khoảng một triệu du khách. Về phía nước ta thì số du khách
trung bình chỉ vào khoảng 30.000. Lý do chính là vì cơ sở hạ
tầng ở đây còn rất yếu kém, từ đường giao thông cho tới
khách sạn, nhà trọ, cũng như các dịch vụ phục vụ du lịch
khác. Ngoài ra, còn có một lý do khác nữa là giữa hai bên chưa
có một hiệp định hợp tác khai thác du lịch.

Theo một trang blog trong nước (của nhà báo Trương Duy Nhất),
có một Việt kiều Canada về nước, muốn đóng góp cho địa
phương khoảng nửa triệu đô la để giúp cho tỉnh sửa sang
lại cảnh quan du lịch; nhưng khi gặp chính quyền của tỉnh
thì họ không chấp nhận. Bởi vì, theo lời một quan chức
địa phương, việc chỉnh trang xây dựng khu vực này lệ thuộc
vào nội dung của hiệp định khai thác. Cho nên mỗi lần bên
mình định làm cái gì thì bên kia họ lại phá.

Tôi nghĩ rằng có lẽ vì lý do này nên trong chuyến đi thăm
Trung Quốc lần này Ngoại trưởng Phạm Bình Minh có đưa vấn
đề ký hiệp định khai thác chung vào chương trình nghị sự
giữa hai bên. Còn theo thông tin của một số người đến thăm
thác Bản Giốc, ở phía thượng lưu (phía trên thác) có một
cái chợ trời biên giới. Người Việt mình qua lại được.
Nhưng ở phía hạ lưu thì vì đường phân chia nằm giữa giòng
sông nên nếu đi ra về phía thác chính thì bè của Việt Nam
chỉ qua được tới giữa giòng thôi, chứ không thể qua phía
bên kia được. Tình hình đại khái là như vậy.

<strong>VOA:</strong> Hồi đầu tháng này ông đã cho phổ biến
bài nghiên cứu "Sự thật về Thác Bản Giốc", trong đó ông
khẳng định Việt Nam là chủ nhân thực sự của thác nước
này. Xin ông vui lòng cho biết những luận điểm chính của ông
về vấn đề này.

<strong>Ông Mai Thái Lĩnh:</strong> Bài viết của tôi vừa rồi có
nhan đề là "Sự thật về Thác Bản Giốc" (<a
href="http://www.boxitvn.net/bai/33174">Phần 1</a> và <a
href="http://boxitvn.blogspot.com/2012/02/su-that-ve-thac-ban-gioc_11.html">phần
2</a>). Thật ra không phải tất cả đều là ý kiến của tôi,
mà đây có thể nói là một công trình tập hợp tất cả
những bằng chứng mà nhiều bài viết trước đây – nhiều
người đã viết trong vòng khoảng chục năm nay, để chứng minh
thác Bản Giốc hoàn toàn là của Việt Nam.

Trong đó đáng kể nhất là một nhà nghiên cứu ở Pháp, ông
Trương Nhân Tuấn, một Việt kiều sinh sống ở Pháp. Ông đã
sưu tập được rất nhiều tài liệu thành văn về quá trình
ký kết và cắm mốc giữa hai bên -- giữa Pháp và nhà Thanh,
vào cuối thế kỷ thứ 19.

Còn ở trong nước, tôi xin lấy ví dụ như ông Hàn Vĩnh Diệp,
một đảng viên Cộng Sản và là một cán bộ hưu trí. Ông này
đã từng 7 lần đến thăm Bản Giốc, từ 1958 đến 2006, và có
lần từng ở lại một ngày một đêm ở bờ bắc của sông
Quây Sơn. Địa điểm này bây giờ, theo như tác giả viết, đã
thuộc về lãnh thổ của Trung Quốc rồi.

Tất cả những luận điểm của các tác giả nói trên vẫn còn
một số điểm chưa thật chính xác, vẫn còn những lỗ hổng,
khiến cho toàn bộ chưa có tính chất thuyết phục. Khó khăn
lớn nhất là thiếu những bản đồ chi tiết để giải thích
rõ trước đây đường biên giới như thế nào và hiện nay
đường biên giới thay đổi ra sao. Nhất là cột mốc số 53.

Vừa rồi, trong quá trình nghiên cứu, tôi tìm được một số
bản đồ. Đặc biệt là qua mạng internet tôi tìm được hai
tờ bản đồ, tỉ lệ 1/50,000. Một là bản đồ do Quân đội
Hoa Kỳ in năm 65 và một là của Quân đội Nhân dân Việt Nam in
năm 1980. Hai bản đồ này về cơ bản thì địa hình rất
giống nhau. Chỉ có khác là tờ bản đồ của Việt Nam thì
Việt Nam đã Việt hóa và điều chỉnh một số điểm, nhất
là địa danh. Quan trọng nhất là hai tờ bản đồ này có ghi
rõ tọa độ địa lý và có những vòng cao độ, và trong đó
đặc biệt là có ghi rõ các cột mốc nằm ở đâu. Cho nên tôi
nghĩ rằng những người có trình độ về bản đồ học có
thể căn cứ vào cái này để xác định tọa độ các cột
mốc một cách hết sức chính xác.

Ngoài ra còn có một tờ bản đồ chi tiết về đường biên
giới mới. Tờ bản đồ này sở dĩ có được là vào cuối
tháng 10 năm 2011 có một đoàn nhà văn quân đội đã lên thăm
đồn biên phòng Đàm Thủy ở gần thác Bản Giốc và chụp
ảnh lại bản đồ chi tiết về đường biên giới này.

So sánh mấy tờ bản đồ với nhau thì chúng ta thấy rõ ràng
là cột mốc 53 đã bị dời đi, đường biên giới bị sửa
đổi, và do vậy nên ta mất đi một nửa thác chính của thác
Bản Giốc. Cho nên có thể nói là với những tư liệu này
chúng ta có thể chứng minh được thác Bản Giốc trước hoàn
toàn là của Việt Nam.

Và tất cả những điều này rất ăn khớp với tất cả những
tư liệu về địa lý trước đây của nước ta, cũng như ăn
khớp với những điều mà trong bản Bị Vong Lục ngày 15 tháng
3 năm 1979 mà Bộ Ngoại giao Việt Nam đã công bố trong cuốn
sách "Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc" do
Nhà Xuất bản Sự Thật xuất bản vào năm 1979. Có thể nói là
tất cả rất có hệ thống và rất chính xác và đã chứng minh
rằng thác Bản Giốc là hoàn toàn thuộc về Việt Nam.

<strong>VOA:</strong> Chắc ông cũng biết là ông Lê Công Phụng,
người từng giữ chức Trưởng đoàn đám phán cấp chính phủ
về biên giới lãnh thổ Việt Nam-Trung Quốc, cho biết: tại
Thác Bản Giốc, Việt Nam chỉ có một phần ba thác, nhưng nhờ
thương thuyết cho nên Trung Quốc nhượng bộ, thành ra Việt Nam
được nửa thác. Xin ông cho biết ý kiến về tuyên bố của
ông Phụng.

<strong>Ông Mai Thái Lĩnh:</strong> Theo ông Lê Công Phụng cũng như
các quan chức ngoại giao khác, đã công bố qua báo chí Việt
Nam, thì theo pháp lý và thông lệ quốc tế, Việt Nam chỉ có
được một phần ba thác chính, nhưng qua đàm phán nên cuối
cùng Việt Nam có được một nửa thác chính và một phần tư
cồn Pò Thoong.

Nhưng nói theo thực tế và căn cứ vào những tài liệu mà mình
nắm được thì đúng ra phải nói như thế này: "theo pháp lý
và đúng theo lịch sử thì toàn bộ Thác Bản Giốc là của
Việt Nam, nhưng vì Trung Quốc sử dụng vũ lực để chiếm
đoạt và trấn áp, cho nên cuối cùng thì việc thương thuyết
của ta hoàn toàn thất bại, cho nên nước ta mất một nửa
thác chính."

Nhưng điều quan trọng nhất là ngoài chuyện mất đi nửa thác
chính, chúng ta mất luôn dải đất chạy dài từ cồn Pò Thoong
cho đến chân thác. Trước đây không có dải đất này, phía
Trung Quốc tuy có một đồn trên đỉnh núi, nhưng không bao giờ
có thể đặt chân xuống vùng thung lũng sông Quây Sơn ở phía
trên Thác Bản Giốc. Ngày nay họ có thể nhờ dải đất này
để di chuyển từ hạ lưu thác đến tận thượng nguồn, đến
tận cồn Pò Thoong. Cồn này rộng khoảng 2,6 hecta, và họ
chiếm hết ba phần tư. Và nếu trong trường hợp chẳng may
xảy ra chiến tranh, tôi nghĩ rằng họ có thể chuyển quân từ
dưới lên rất dễ dàng; trong lúc trước đây trong thời Pháp
thuộc họ không thể nào đặt chân xuống vùng đồng bằng.

Ngày nay những người biết sử dụng internet có thể dùng
những chương trình để xem bản đồ vệ tinh, thì chúng ta
thấy là họ tập trung xây dựng cơ ngơi, đường sá và có
thể là những công sự phòng thủ và những công trình quân sự
rất lớn ở vùng phía dưới thác Bản Giốc.

Sau khi bài viết của tôi được công bố, trong số các ý kiến
phản hồi, có một ý kiến rất đáng chú ý.

Trong bài viết tôi nói Trung Quốc bây giờ làm ra vẻ nhân
nhượng cho nên họ mới trả lại cho mình một phần tư cồn
Pò Thoong và một phần thác chính để mình có được một nửa
thác. Nhưng ý kiến này họ nói rằng ý kiến của tôi là không
đúng. Ý kiến này cho rằng Trung Quốc sở dĩ trả lại một
phần tư cồn Pò Thoong và một phần thác chính là không phải
là "cho không" mà họ đổi lại để lấy của Việt Nam một
phần tư bãi Tục Lãm ở cửa sông Ka Long ở Móng Cái.

Đây là một ý kiến đáng chú ý và cần tiếp tục nghiên
cứu. Nếu điều mà họ nói là đúng thì có thể nói trong vấn
đề đàm phán xung quanh Thác Bản Giốc, phía Việt Nam ta hoàn
toàn thất bại. Không có đòi lại được gì hết.

<strong>VOA:</strong> Theo ông, phía Việt Nam, chính phủ nói riêng
và người dân nói chung, nên làm gì trước tình hình hiện nay
để khỏi bị thiệt thòi thêm nữa trong vấn đề tranh chấp
lãnh thổ với Trung Quốc?

<strong>Ông Mai Thái Lĩnh:</strong> Tình hình bây giờ... mặc dù
các cấp lãnh đạo làm ra vẻ ta và Trung Quốc đang trong quá
trình thân thiện, hay có nhiều lạc quan, nhưng theo tôi, tình
hình hết sức nghiêm trọng. Bởi vì nếu chúng nhìn một cách
hệ thống thì chúng ta thấy kế hoạch xâm chiếm đất đai ở
biên giới cũng như lãnh hải, hải đảo đều nằm trong một
kế hoạch chung của phía Trung Quốc và được tiến hành qua
nhiều thế hệ và chuẩn bị rất chu đáo. Mà hiện nay trong
vấn đề Biển Đông – vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa, chúng ta
thấy rằng Trung Quốc để lộ ra một tham vọng quân sự rất
lớn.

Theo tin mới nhất mà tôi đọc được, ngân sách quân sự của
Trung Quốc trong năm 2011 là gần 120 tỷ đô la và đến năm 2015
sẽ tăng gấp đôi, gần 240 tỉ (con số chính xác là 238,2 tỉ
đô la). Ngân sách này còn cao hơn tổng số chi phí quân sự
của các cường quốc châu Á gộp lại. Cho nên với một chính
sách như vậy, tôi nghĩ, nước ta đang ở trong một nguy cơ rất
lớn trong vấn đề Biển Đông.

Trong khi đó thì về phía chính phủ chúng tôi thấy chính sách
không rõ ràng, và thay đổi từ cực đoan này sang cực đoan
khác. Đã có thời kỳ Đảng Cộng Sản đã ghi vào Hiến pháp
ở Việt Nam "Trung Quốc là kẻ thù chiến lược lâu dài".
Đến thập niên 90 tới nay lại đổi thành "14 chữ vàng"
rồi "4 tốt", vân vân … trong lúc tình hình thực tế thì
không phải là như vậy.

Cho nên tôi có một số ý kiến như sau.

<strong>Đối với chính phủ:</strong>

- Muốn cho người dân tin tưởng thì chính phủ không thể tiếp
tục nói dối dân mà phải thành thật, vì nói dối dân trước
sau gì cũng bị người ta phát hiện ra, mà đã phát hiện ra thì
dân sẽ không còn tin vào chính phủ nữa. Mà tốt nhất là
phải thành thật thừa nhận những điều mình làm sai trước
đây và xin lỗi người dân chứ không thể tiếp tục che đậy
được.

- Nếu muốn được dân tin, thì không thể tiếp tục đường
lối ngoại giao hết sức phi lý, hết sức kỳ quặc. Mình nói
16 chữ vàng, 4 tốt, trong khi phía Trung Quốc không hề thay đổi
chính sách của họ. Họ vẫn lộ rõ tham vọng rất lớn trong
vấn đề Biển Đông.

- Tôi nghĩ chính phủ phải trả tự do vô điều kiện cho những
người yêu nước, ví dụ như Điếu Cày hay bà Bùi Thị Minh
Hằng. Vì những người này phản đối Trung Quốc vì lòng yêu
nước, nên không có lý do gì để nhà nước bắt giam họ mà
lại bắt giam không đúng theo luật pháp. Không làm được
điều này thì dân không tin.

- Một điều nữa là phải đánh giá đúng công lao của các
triều đại trước trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, bảo
vệ chủ quyền quốc gia. Phải vinh danh những chiến sĩ của
chế độ Việt Nam Cộng hòa đã hy sinh trong cuộc chiến bảo
vệ Hoàng Sa.

- Và cuối cùng là phải thực thi các quyền tự do căn bản
để người dân có thể tự do tìm hiểu, thảo luận, trao đổi
về các vấn đề đối ngoại.

<strong>Còn về phía người dân, chúng tôi nghĩ rằng cần phải
làm những công việc sau đây:</strong>

1) Thứ nhất là nên xem xét lại, khảo sát lại tất cả
đường biên giới trên bộ trước đây đã mất gì so với
đường biên giới cũ. Nhiều người nói việc này không quan
trọng, không cần thiết vì là chuyện quá khứ. Nhưng tôi nghĩ
vấn đề rất quan trọng bởi vì thật ra vấn đề biên giới
trên bộ và vấn đề lãnh hải, hải đảo liên hệ gắn bó
với nhau; mà mình không rút ra được bài học lịch sử, thì
mình không bao giờ có được những bài học tốt cho tương lai.
Một dân tộc không hiểu rõ lịch sử của mình, không đánh
giá đúng thành công và thất bại của mình thì không bao giờ
có thể tiến được trong tương lai. Thực tế của nước Nhật
là một ví dụ điển hình.

2) Cần phải đánh giá lại thành công và thất bại của
đường lối, chính sách đối ngoại trước đây của nước ta,
nhất là quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

3) Tôi nghĩ về phía trí thức và phía người dân chúng ta cần
phải phá bỏ độc quyền trong lĩnh vực đối ngoại. Nhất là
phá bỏ độc quyền về thông tin. Tôi thấy có tình trạng hết
sức vô lý. Thí dụ như trước đây, khi ký hiệp ước 1999,
một hiệp ước quan trọng như vậy mà quốc hội không biết
gì hết – (có biết) cũng chỉ là biết sau khi sự việc đã
rồi. Và thậm chí cho tới bây giờ Ải Nam Quan mất như thế
nào, mất bao nhiêu đất, thác Bản Giốc mất như thế nào, tôi
nghĩ hầu hết các đại biểu quốc hội các khoá đều không
biết gì hết. Về lâu dài, tôi nghĩ, phải có đấu tranh để
có một chế độ dân chủ để người dân phải có một cái
quyền gì đó, nhất là trong lãnh vực đối ngoại. Ví dụ như
cơ quan nào, chức vụ nào chịu trách nhiệm về đối ngoại
phải thật sự là do dân bầu, chịu trách nhiệm trước dân.
Như vậy người dân có quyền thay đổi cơ quan đó hay cử
người giữ chức vụ đó thông qua bầu cử. Chứ nếu như
hiện nay như tình hình Việt Nam là bất hợp lý: một tổ chức
không do dân bầu ra (như Bộ Chính trị của Đảng Cộng Sản
Việt Nam là không do dân bầu ra) nhưng lại nắm quyền toàn
bộ. Cho nên người dân cũng không có quyền thay đổi Bộ Chính
trị đó, không có quyền bãi miễn, không được quyền cách
chức hay không có quyền thông qua phiếu bầu để thay đổi.
Thế thì toàn bộ lãnh vực đối ngoại gần như độc quyền
của một thiểu số trong đảng. Mà như vậy sẽ gây ra tình
trạng giống như tình trạng chúng ta thấy trước đây, khi ký
hiệp định năm 1999.

Đó là một số ý kiến bước đầu mà tôi đề ra và tôi nghĩ
rằng nếu mình không làm được điều này thì trong tương lai
chắc chắn chủ quyền của chúng ta ở Biển Đông sẽ bị ảnh
hưởng rất lớn.

<strong>VOA:</strong> Xin cám ơn ông Mai Thái Lĩnh đã dành thời
giờ cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn này.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/11745), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét