luôn tham nhũng; quyền lực tuyệt đối thì tham nhũng tuyệt
đối.</em>" Khi có quá nhiều quyền lực trong tay, ngay đến
người tốt cũng cai trị độc đoán. Do hiểu rõ bản chất
của vấn đề như vậy, chủ nghĩa hiến chế mới nảy sinh, và
đó là một bước ngoặt so với cách nghĩ truyền thống về
quyền lực ở châu Á cũng như phương Tây. Trong cách nghĩ
truyền thống, người ta thường ca tụng các nhà lãnh đạo và
trao cho họ quyền lực tuyệt đối để bảo vệ an ninh quốc
gia. Các nhà lãnh đạo truyền thống thì muốn xem thần dân
trong nước như con cái, để họ làm nhiệm vụ của bậc cha
mẹ và ra quyền hành xử như cha với con. Vượt ra khỏi tư duy
đó là điều tiên quyết để thiết lập một chính phủ hiến
định và công bằng.
<h2>1. Khi một người hay một nhóm nhỏ độc quyền quyền lực,
họ sẽ trấn áp người khác.</h2>
Sau một thời gian, sự tập trung quyền hành quá mức dẫn đến
tha hóa về cả tinh thần và vật chất, do đó người tốt dù
có muốn đi nữa cũng mất khả năng lèo lái quốc gia một cách
sáng suốt. Không một cá nhân nào hoàn toàn trong sạch. Ai cũng
ít nhiều có thiên kiến, sai lầm về tư tưởng và vị kỷ.
Một người tốt không phải là người không có nhược điểm.
Người tốt là người biết kiềm chế và vượt qua được
những nhược điểm đó. Nhưng để làm được điều này, họ
cần có sự hỗ trợ của người khác. Nhưng khi tập trung quá
nhiều quyền lực trong tay, người cầm quyền gạt bỏ khả
năng và cơ hội hỗ trợ của những người khác.
<div class="special_quote"><em>Vì lý do này, một nhà lãnh đạo tốt
sẽ không muốn nắm giữ quá nhiều quyền lực. Cái anh ta cần
là một hệ thống trong đó nhiều người khác có thể góp
phần vào quá trình ra quyết định. Khi đó, thay vì đơn thuần
điều hành đất nước bằng mệnh lệnh, anh ta sẽ cân nhắc
những quan điểm khác nhau. May ra lúc ấy anh ta sẽ buộc phải
nhận ra rằng chính mình cũng có những thiên kiến, những sai
lầm về tư tưởng, và cũng vị kỷ. Một nhà lãnh đạo thật
sự anh minh cần sự sáng suốt ấy, và sẽ biết ơn những
tiếng nói phản biện, thay vì trấn áp họ.</em></div>
Quyền lực tuyệt đối tha hóa tinh thần, vì khi một người có
quyền lực trên hết thảy mọi người khác, những người khác
sẽ chỉ nói những điều họ nghĩ rằng người cầm quyền
muốn nghe. Họ giấu đi những điều gây phật lòng, và không
bao giờ bày tỏ những quan điểm và ý kiến trái ngược. Kết
quả là người cầm quyền chẳng bao giờ nghe được những
điều cần biết để có thể lãnh đạo sáng suốt hơn. Tệ
hại hơn, sự tha hóa tinh thần này có thể dẫn đến tha hóa
tâm hồn. Nếu không ai dám đưa ra những thông tin hay ý kiến
chói tai, hoặc phản đối người cầm quyền, người cầm
quyền cứ tưởng mình không hề có thiên kiến, không hề mắc
sai lầm và không hề vị kỷ. Từ đó anh ta cho rằng mọi ý
kiến của anh ta đều đúng. Anh ta bắt đầu ngộ nhận rằng
lợi ích cá nhân của anh ta chính là lợi ích của xã hội. Khi
ấy, anh ta trở thành một kẻ độc tài.
Vì lý do này, một nhà lãnh đạo tốt sẽ không muốn nắm giữ
quá nhiều quyền lực. Cái anh ta cần là một hệ thống trong
đó nhiều người khác có thể góp phần vào quá trình ra quyết
định. Khi đó, thay vì đơn thuần điều hành đất nước bằng
mệnh lệnh, anh ta sẽ cân nhắc những quan điểm khác nhau. May
ra lúc ấy anh ta sẽ buộc phải nhận ra rằng chính mình cũng
có những thiên kiến, những sai lầm về tư tưởng, và cũng
vị kỷ. Một nhà lãnh đạo thật sự anh minh cần sự sáng
suốt ấy, và sẽ biết ơn những tiếng nói phản biện, thay vì
trấn áp họ.
Dĩ nhiên, không phải nhà lãnh đạo nào cũng xuất thân là
người tốt. Ngược lại, họ có thể ham muốn quyền lực chỉ
để trấn áp người khác và thủ lợi cho bản thân, cho gia
đình và cho những kẻ về hùa theo họ. Những người như vậy
vốn đã tha hóa ngay từ trước khi họ có quyền lực. Một khi
tập trung quyền lực trong tay, họ sẽ sử dụng ngay quyền lực
đó để đàn áp kẻ khác.
Tóm lại, những chính quyền nắm quyền lực quá tập trung sẽ
lạm quyền và tham nhũng. Cách duy nhất để giới hạn quyền
lực của họ và tránh lạm dụng là tản quyền.
<h2>2. Vì lý do đó, hiến pháp cần phân bổ quyền hành cho
nhiều thành phần khác nhau của chính quyền để có sự giám
sát và cân bằng quyền lực.</h2>
Bởi quyền lực tập trung sẽ sinh lạm dụng, không có cách
giải quyết nào khác ngoài việc phân chia quyền lực cho các
thành phần khác nhau của chính quyền. Ý tưởng này được
gọi là giám sát và cân bằng quyền lực: hiến pháp thiết
lập nên sự cân bằng về quyền lực giữa các thành phần
khác nhau của chính quyền để chúng có thể giám sát lẫn nhau.
Giám sát và cân bằng quyền lực chính là cốt lõi của chủ
nghĩa hiến chế. Vì không một cá nhân hay một nhóm nhỏ nào
thâu tóm mọi quyền lực, sẽ không ai có quyền lực tuyệt
đối để đàn áp kẻ khác. Khi các ngành trong chính quyền cần
sự hợp tác của nhau thì họ phải lắng nghe nhau, phải thương
thảo và phải cùng nhau làm việc. Khi nhiều người có khả
năng tác động lên chính quyền và chính sách, chính quyền đó
mới có thể trở nên công bằng và trung dung hơn, bởi vì khi
đó chính quyền không chỉ còn phục vụ lợi ích của một
nhóm nhỏ. Đồng thời, chính quyền cũng sẽ sáng suốt hơn,
bởi các chính sách hay quyết định là kết quả của quá trình
thảo luận trong đó nhiều cách nhìn khác nhau đã được cân
nhắc.
Một số người, đặc biệt tại châu Á và châu Phi, lo ngại
rằng giám sát và cân bằng quyền lực sẽ tạo nên bất ổn,
tranh cãi, bế tắc, thậm chí nội chiến. Đúng là khi cơ chế
giám sát và cân bằng quyền lực không được thiết kế hợp
lý, hậu quả của nó có thể không như mong đợi. Nhưng nếu
được thiết kế tốt, nó sẽ không dẫn đến bất ổn quá
mức bình thường. Những đất nước ổn định và thịnh
vượng đều có một cơ chế giám sát và cân bằng quyền lực
nào đó. Lựa chọn duy nhất ngoài phân quyền là tập quyền.
Mà tập quyền, như đã phân tích ở trên, luôn dẫn đến cai
trị áp bức. Điều này rõ ràng tệ hại hơn nhiều so với
những bất đồng bắt nguồn từ những tranh cãi chính trị
thông thường.
Có nhiều mô hình giám sát và cân bằng quyền lực, do các yếu
tố khác nhau được kết hợp một cách khác nhau. Nếu được
thiết kế một cách cẩn trọng, giám sát và cân bằng quyền
lực có thể giảm thiểu một cách có hiệu quả các bất ổn,
cũng như tăng cường bảo vệ người dân chống lại chính
quyền tha hóa và độc đoán.
<h2>3. Các hiến pháp phân quyền theo nhiều cách khác nhau</h2>
Có nhiều cách phân chia quyền lực giữa các nhân tố của
chính quyền. Và các hiến pháp khác nhau thiết lập nên các
chính quyền với kết cấu khác nhau. Có hiến pháp gọi người
đứng đầu chính phủ là tổng thống, có nơi khác gọi là
thủ tướng, lại có chỗ kết hợp ngành hành pháp và lập
pháp với nhau trong một hội đồng mà người đứng đầu hội
đồng không phải là tổng thống mà cũng chẳng phải thủ
tướng. Vài hiến pháp công nhận chính quyền địa phương bán
tự trị, nơi khác thì không. Có hiến pháp tổ chức hai viện
lập pháp, có chỗ chỉ có một viện duy nhất. Như vậy, trong
nhiều hệ thống hiến định khác nhau, kết cấu của chính
quyền là khác nhau. Vì vậy, phân chia quyền lực giữa các
thành phần chính quyền của các hệ thống hiến định khác
nhau cũng sẽ khác biệt.
Thêm vào đó, cho dù các hiến pháp có quy định kết cấu chính
quyền tương tự như nhau, chúng vẫn có thể phân chia quyền
lực theo nhiều cách khác nhau cho các nhân tố đó. Thí dụ,
tổng thống có thể có quyền phủ quyết những dự án luật do
bên lập pháp đưa ra, hoặc có thể không có quyền đó.
Thượng viện của ngành lập pháp có thể chỉ có quyền cố
vấn cho hạ viện, nhưng viện này cũng có thể có quyền bác
bỏ các dự luật của hạ viện. Chính quyền địa phương có
thể có quyền lực rộng rãi trên các vấn đề liên quan đến
cuộc sống của người dân trong khu vực đó. Nhưng họ cũng có
thể chỉ có quyền lực hạn chế trong một số lĩnh vực mà
thôi.
Trong bài viết ngắn ngủi này, thật khó để liệt kê hết
tất cả hình thức phân quyền. Nhưng tựu trung lại, các mô
hình chính là:
* Hầu hết các hiến pháp chia chính quyền trung ương thành ba
phần – quyền lập pháp, quyền hành pháp và tòa án. Các
quyền này được trao cho những người hay nhóm người khác
nhau. Một số hiến pháp tách biệt hoàn toàn các quyền lực
này, tức là các nhân tố trong chính quyền không hề có những
mảng phận sự chồng lấn. Nhưng cũng có một số hiến pháp
cho phép sự chia sẻ quyền lực nhất định, chẳng hạn tổng
thống vừa có quyền hành pháp vừa có quyền phủ quyết dự
luật (một phần của quyền lập pháp) trong một số trường
hợp hạn chế. Phương thức phân quyền này được gọi là tam
quyền phân lập.
* Một số hiến pháp phân chia quyền lực giữa chính quyền
trung ương và chính quyền địa phương hay vùng lãnh thổ. Do
sự phân chia này được quy định bởi hiến pháp, chính quyền
trung ương không thể can thiệp vào phạm vi quyền lực của
chính quyền vùng lãnh thổ. Quan trọng hơn cả, chính quyền
trung ương không thể giải tán chính quyền địa phương đó
hoặc tước đoạt một số quyền đã được hiến pháp trao cho
họ. Có trường hợp chính quyền vùng lãnh thổ có thể soạn
hiến pháp cho riêng địa phương họ, với cả ba ngành lập
pháp, hành pháp và tòa án như chính quyền trung ương. Phương
thức phân chia quyền lực này được gọi là chính thể liên
bang.
* Mọi bản hiến pháp chính danh phân chia quyền lực giữa chính
quyền và công dân nhằm mục đích bảo vệ quyền cá nhân.
Một số quyền cá nhân tự bản chất là quyền nhân thân, như
quyền kết hôn. Nhưng một số quyền mang tính chính trị, như
quyền biểu tình hoặc quyền thành lập hội đoàn chính trị.
Bằng cách thực thi các quyền này, công dân có thể kiểm soát
chính phủ. Phương thức phân quyền này được gọi là quyền
cá nhân.
* Mọi hiến pháp dân chủ còn phân chia quyền lực giữa chính
quyền công dân thông qua bầu cử. Trong một nước dân chủ,
quyền lực thuộc về nhân dân. Chính quyền có bổn phận phục
vụ người dân, chứ người dân không phải phục tùng chính
phủ. Nhưng người dân không thể cáng đáng hết công việc
hàng ngày của chính quyền vì còn phải lo cho cuộc sống riêng
của họ. Vì vậy, hiến pháp cho chính quyền quyền thay mặt
người dân để giải quyết công việc trong những lĩnh vực
phù hợp, với tư cách là công bộc của nhân dân. Tuy vậy,
nhân dân vẫn nắm quyền giám sát tối thượng. Nếu nhân dân
không hài lòng với cách làm việc của các viên chức chính
quyền, họ có thể bỏ phiếu bãi nhiệm các viên chức đó qua
bầu cử.
<h2>4. Dù mọi quốc gia đều cần tản quyền, có nhiều hình
thức phân quyền khác nhau, và các quốc gia khác nhau phải chọn
những hệ thống khác nhau cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể
của quốc gia đó.</h2>
Như đã trình bày ở trên, có nhiều hình thức phân quyền.
Một số hiến pháp áp dụng nhiều hình thức cùng một lúc,
trong khi một số hiến pháp khác chỉ áp dụng một hình thức
phân quyền mà thôi. Không có một hình thức phân quyền nào
được xem là duy nhất phù hợp cho mọi quốc gia trong mọi
thời kỳ. Đã có rất nhiều sách vở bàn đến các hình thức
phân quyền trong bản hiến pháp. Đôi khi các phân tích đó mang
nặng tính chuyên môn. Do đó, trong phạm vi bài viết ngắn này,
khó có thể tóm gọn mọi khía cạnh của các tri thức đó.
Tuy vậy, bài viết này nhấn mạnh một điều quan trọng: các
hình thức phân quyền khác nhau mang lại các hệ quả khác nhau.
Bởi cân bằng và giám sát quyền lực là trọng tâm của thể
chế hiến định, các nhà soạn thảo hiến pháp đã dành nhiều
công sức nghiên cứu các hệ quả của mỗi hình thức phân
quyền khi chúng được áp dụng riêng rẽ hay kết hợp lẫn
nhau. Thế nhưng, không có một hệ thống hiến định nào hoàn
hảo hay đạt mọi mục đích đặt ra. Các nhà soạn thảo hiến
pháp luôn phải chọn lựa hoặc thỏa hiệp. Chẳng hạn, một
số thể chế hiến định tạo điều kiện cho mọi khuynh
hướng chính trị được đại diện trong chính quyền, nhưng
lại có thể khiến chính trị bị chia rẽ và phân tán, vì sự
tham gia của quá nhiều luồng ý kiến khác nhau sẽ khiến các
bên khó đạt đồng thuận để ra quyết định. Một số thể
chế hiến định khác có thể khiến vài khuynh hướng chính
trị thiểu số không được đại diện trong chính quyền, nhưng
bộ máy chính trị hoạt động suôn sẻ hơn. Một số hệ
thống tập trung vào ý thức hệ chứ không phải quyền lợi
"cục bộ" của từng địa phương. Một số hệ thống khác
lại chú trọng đến các mối quan tâm cụ thể của các địa
phương chứ không đặt nặng ý thức hệ, v.v... Mỗi thể chế
hiến định này đều có những ưu và khuyết đỉểm.
Như vậy, mỗi quốc gia sẽ thấy có một số hệ thống thích
hợp với họ hơn là những hệ thống khác. Tùy từng quốc gia
cụ thể, những mục tiêu nhất thiết cần phải có, và những
nhược điểm cần đặc biệt lưu tâm mà tránh, sẽ không
giống nhau. Ví dụ, văn hóa của một số quốc gia có khuynh
hướng tập trung quyền lực vào tay một người mà thôi, như
người đứng đầu hành pháp, và rồi người này tìm cách thâu
tóm những quyền lực khác cho riêng anh ta. Một số quốc gia
khác xem việc hạn chế quyền hành pháp là quan trọng, nên trao
nhiều quyền lực hơn cho ngành lập pháp và tòa án. Cách này
có thể có nhược điểm là sự thiếu vắng một ngành hành
pháp mạnh có thể ứng phó mau lẹ trước những thay đổi nhanh
chóng của thế giới. Nhưng nếu phải cân bằng giữa các ưu
và khuyết điểm của từng hệ thống cho một quốc gia cụ
thể, hệ thống cho phép ngăn chặn chính quyền độc đoán có
ưu điểm hơn hẳn so với một hệ thống chủ trương cho ngành
hành pháp quyền được tự do làm theo ý họ. Nghệ thuật soạn
thảo một bản hiến pháp cần lưu tâm đến các đặc điểm
và nhu cầu cụ thể của từng quốc gia là vì thế.
<em>Trần Duy Nguyên và Nguyễn Thị Hường dịch</em>
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/11822), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét