Vũ Quang Việt - Học từ khủng hoảng để cải cách

<div class="boxright300"><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub02/a843d_65_1.jpg" width="405"
height="305" alt="a843d_65_1.jpg" /><div class="textholder">Một khu dân
cư ở Bình Dương xây dựng khang trang nhưng không có người ở.
Thời gian qua, không ít những dự án kiểu như vậy trên cả
nước đã gây lãng phí đất đai, tiền của và ảnh hưởng
xấu cho cả nền kinh tế. Ảnh: THANH TAO.</div></div>
(TBKTSG) - Những cuộc khủng khoảng kinh tế mà ta thường thấy
mang tính chu kỳ và thường trở nên khốc liệt hơn, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến đời sống của nhân dân, bắt nguồn
và bị duy trì lâu dài chỉ vì chính sách tài chính sai lầm
của nhà nước.

Dù dễ dàng kết luận như thế nhưng nhiều chính phủ vẫn
chưa rút được bài học này, thậm chí thay vì đóng vai trò
quản lý vĩ mô để bảo đảm sự ổn định cho hoạt động
sản xuất thì lại hồ hởi tiếp tay cho giới tài chính,
tưởng rằng hoạt động tài chính nở rộ thì nền kinh tế
sẽ phát triển như vũ bão. Chính vì thế tưởng cũng nên nhìn
lại những kinh nghiệm đã qua, đặc biệt là cuộc đại khủng
hoảng năm 1929, cuộc khủng hoảng ở châu Á năm 1987 và cuộc
khủng hoảng năm 2008 còn kéo dài cho đến hôm nay. Nhưng trước
khi nhìn lại, cũng cần biết qua một số điều căn bản về
học thuyết kinh tế.

<h2>Vai trò của tài chính trong nền kinh tế</h2>

Các nhà lý thuyết kinh tế đều thấy rằng cái thực sự làm
kinh tế phát triển sau khi lao động đã toàn dụng (chỉ có
nghĩa là về mặt cơ cấu không thể giảm thất nghiệp xuống
thấp hơn) là việc tăng năng suất trong các hoạt động tạo ra
hàng hóa và dịch vụ. Mà tăng năng suất là kết quả của
tiến bộ về khoa học về kỹ thuật, là biết trang bị lao
động với tri thức kỹ thuật tiên tiến, là biết tổ chức
sản xuất hợp lý, là biết chọn lựa đầu tư vốn đúng
đắn nhằm đáp ứng đúng nhu cầu của thị trường, và để
đạt được những điều trên thì phải thiết lập được
một thể chế bảo đảm có tự do cạnh tranh, không có chính
sách phân biệt đối xử đối với người sản xuất.

Tài chính, theo nghĩa tiền tệ, tín dụng, cổ phiếu, trái
phiếu và các công cụ tài chính khác đều là công cụ mang
tính trung gian (financial intermediary). Hoạt động tài chính là
hoạt động trung gian (intermediation), có nhiệm vụ làm cho việc
trao đổi hàng hóa thuận lợi, nhanh chóng và làm cho việc tích
tụ vốn tài chính hữu hiệu hơn, và do đó làm cho nhiều của
cải được sản xuất hơn trong một chu kỳ sản xuất so với
nếu không có chúng. Gọi là trung gian bởi vì chúng không thật
sự tạo ra của cải, nhưng làm tăng khả năng sản xuất của
những người sản xuất ra của cải, và do đó thị trường
cần đến họ và chi trả cho sự đóng góp của họ, cũng như
chi trả cho các dịch vụ cần thiết khác cho sản xuất như
luật sư, kế toán viên.

<div class="boxright200"><div class="quotebody"><div class="quoteopen"><img
class="quoleft" src="/misc/quoleft.png"/></div>Chiến lược phát triển
vừa qua cho thấy Việt Nam đã chạy theo sự hồ hởi phát
triển tài chính như từng xảy ra ở Mỹ, cũng thả rông cho
doanh nghiệp mở ngân hàng, đầu tư tài chính và địa ốc,
cũng bằng mọi cách vay mượn, sẵn sàng chấp nhận thiếu hụt
ngân sách cao...<img class="quoright" src="/misc/quoright.png"/> <br
class="quoteclear"></div></div>
Tuy nhiên, khi những nhà tài chính làm giàu cho chính họ qua
những trò chơi tài chính bất thường thì đó là lúc họ tạo
ra được trò đánh bạc, tập hợp được đông đảo dân chúng
say sưa làm giàu và vượt khỏi sự kiểm soát của bất kể
một thể chế nhà nước, thường lại được nhà nước tiếp
tay, hoặc ít ra làm lơ với trò đánh bạc của họ. Trò đánh
bạc này, nói cho nôm na dễ hiểu, là trò "móc túi" của
cải từ người khác cho vào túi họ. Họ làm giàu không vì
đồng lương do dịch vụ trung gian đưa lại mà vì đã thành
công trong việc tạo ra được sự lên giá một cách vô lý cho
những tờ giấy tài chính hay tài sản phi tài chính không do
sản xuất tạo ra khác.

Biểu hiện của sự bất thường này là giá một tờ cổ
phiếu lúc trước kia mua 10 đồng bây giờ có thể bán với giá
100 đồng chẳng hạn, mà không phản ánh gì lợi nhuận do sức
sản xuất tăng trong tương lai của nó. Hay việc lên giá gấp
nhiều lần của một cơ sở địa ốc (thực chất là đất
thôi, một tài sản phi tài chính không do sản xuất tạo ra) -
không phải là vì địa điểm cũ bỗng trở thành điểm thương
mại đắc địa mà chỉ vì tâm lý đánh bạc. Giá nhà trở
thành phi lý khi một người có đồng lương rất cao từ sản
xuất dù làm cả đời cũng không thể mua được, và nếu đem
kinh doanh cho thuê không thể bù đắp được chi phí. Khi biểu
hiện lên giá không chỉ xảy ra với một vài công ty có khả
năng kỹ thuật mới và do đó có khả năng tạo ra thị trường
mới như Google, Apple... mà xảy ra với toàn bộ nền kinh tế
thì không chóng thì chầy bong bóng sẽ vỡ. Khi bong bóng vỡ,
những kẻ ma mãnh tài chính lại được nhà nước đứng ra
cứu bằng chính tiền thuế của dân vì sợ khủng hoảng sẽ
trầm trọng hơn. Chỉ có người dân bình thường là thiệt.

Nhìn nền kinh tế nói chung, lý thuyết kinh tế đã vạch ra là
giá, lãi và tốc độ phát triển về dài hạn phải đi đôi
với nhau. Không thể có tỷ lệ lãi hay lợi nhuận thực trong
dài hạn (sau khi khử lạm phát) - gọi chung là lãi suất -
vượt quá khả năng tăng GDP. Nếu GDP tiềm năng tăng 3% thì lãi
suất cũng sẽ ở khoảng 3%. Lãi suất có thể là hàn thử
biểu để xem xét tình hình kinh tế. Giá trị của cố phiếu
trên thị trường có quá đà hay không tùy thuộc vào lãi suất
thực sự chúng có thể tạo ra. Thí dụ lãi suất (lãi/giá tài
sản) 3,5% thì giá tài sản/lãi (số nghịch đảo) hay là tỷ
số P/E là 29. Thông thường, chỉ số giá nếu điều hành khéo
tăng khoảng 3% một năm, lãi suất theo giá hiện hành phải là
6,5% và tỷ số P/E tính theo giá hiện hành là 15. Ở đây bài
viết hạn chế phân tích dựa vào thị trường chứng khoán thay
vì đi rộng ra vào thị trường nhà đất, và các công cụ tài
chính mới nhằm khuếch đại quá trớn khu vực này.

<h2>Phân tích các cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ</h2>

Số liệu về tốc độ tăng GDP, giá và tỷ số P/E nói ở trên
phản ánh kinh tế Mỹ tính từ năm 1929-2010. Nhìn vào bảng 1
về chỉ số P/E trên thị trường Mỹ ta thấy là khi chỉ số
giá cố phiếu (P/E) vượt mức trung bình khoảng 15-20 thì khủng
hoảng nổ ra, và khi cao tới mức 30 hay 45 thì bong bóng tất vỡ
mạnh. Chỉ số P/E quá cao có nghĩa là người đầu tư đã quá
hồ hởi bởi những "phân tích" ăn theo của giới truyền
thông để sẵn sàng chấp nhận mua giá cao với kỳ vọng phát
triển vượt bực trong tương lai sẽ xảy ra để họ có được
mức lãi cao, hoặc bán lại với giá cao hơn. Khi lãi thực tế
tiếp tục quá thấp, P/E trở nên quá cao, đưa đến sự sụp
đổ của giá cổ phiếu.

<center><img src="http://danluan.org/files/u1/sub02/211f9_67_405.jpg"
width="405" height="248" alt="211f9_67_405.jpg" /></center>

Như đã nói, ở Mỹ, GDP tăng bình quân năm, từ năm 1970 đến
nay, là 3,5%, và có khuynh hướng giảm. Nhưng có khoảng thời
gian bốn năm, từ năm 1997-2000, GDP tăng vượt trội lên 4-5%
năm. (Nguyên nhân GDP tăng vượt trội thời điểm này cũng là
điều nên xem xét, trong đó có ảnh hưởng của giá nhập khẩu
giảm mạnh). Lúc đó, cũng là lúc Clinton nắm chính quyền, các
nhà kinh doanh tài chính hồ hởi cho rằng nền kinh tế Mỹ đã
bước vào giai đoạn mới với năng suất tăng cao chưa từng
thấy vì sự phát triển của công nghệ thông tin, dù các nhà
phân tích kinh tế không tìm thấy năng suất vượt trội này.
Clinton và Alan Greenspan, Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ
(FED), cũng hùa theo đám đông.

Để mở rộng cho việc huy động tư bản dễ dàng, năm 1999
Clinton và các nhà hoạt động tài chính đưa ra quốc hội xóa
bỏ đạo luật Glass-Steagall ra đời năm 1933 nhằm xóa bỏ các
kiểm soát hoạt động tài chính. Ngân hàng thương mại được
phép tham gia tất cả mọi hoạt động tài chính đầy rủi ro
như kinh doanh cổ phiếu và các công cụ tài chính phái sinh mới
(financial derivatives), mà không có luật lệ, quy định kiểm tra
thật giả, nhằm bảo vệ khách hàng. Luật hạn chế lãi suất
tiết kiệm cũng bị xóa. Tất cả các thay đổi trên là nhằm
mở cửa cho tự do cạnh tranh bằng lãi suất để thu hút vốn.
Thị trường chứng khoán tăng kỷ lục, chỉ số giá cổ phiếu
trên lãi (P/E) đạt chỉ số gần 45. Sau đó, việc phải đến
đã đến, nền kinh tế rơi vào khủng hoảng mạnh vào năm 2006.
Tình trạng xảy ra không khác mấy so với đại khủng hoảng
bắt đầu từ năm 1929.

<center><img src="http://danluan.org/files/u1/sub02/d26ae_681_405.jpg"
width="405" height="241" alt="d26ae_681_405.jpg" /></center>

<center><img src="http://danluan.org/files/u1/sub02/a8c1a_68_405.jpg"
width="405" height="293" alt="a8c1a_68_405.jpg" /></center>

Nhìn lại lịch sử kinh tế Mỹ từ năm 1854 đến nay, ta thấy
có tất cả 33 cuộc khủng hoảng, trung bình cứ bốn năm rưỡi
một cuộc khủng hoảng. Kể từ năm 1945 đến nay thì trung bình
sáu năm một cuộc khủng hoảng. Riêng từ năm 1990-2006 thời
Clinton và Bush con cầm quyền thì chỉ có hai cuộc khủng hoảng,
tức là tám năm một lần. Và hai cuộc khủng hoảng này lại
rất ngắn, chỉ khoảng tám tháng, thay vì trung bình là 16 tháng.
Chính vì lý do trên, nhiều nhà kinh tế, đặc biệt là Chủ
tịch FED, Alan Greenspan, tại vị gần 20 năm đã vỗ ngực cho
rằng sự hiểu biết về kinh tế đã cho phép họ quản lý nền
kinh tế vĩ mô tuyệt vời hơn, năng suất tiềm năng sẽ cao.
(Năng suất tính một cách đơn giản tăng trung bình 1,5% năm sau
khi khử tốc độ tăng lao động là 2% năm). Greenspan lại cố
giữ lãi suất quá thấp trong khi giá thị trường chứng khoán
và địa ốc lên ngoài sức tưởng tượng của nhiều người.
Đùng một cái, vào năm 2007, chỉ sau khi Greenspan về hưu chưa
đầy một năm, kinh tế Mỹ suy sụp.

Khủng hoảng vừa qua kéo dài 18 tháng, được coi là chấm dứt
vào tháng 9-2009, vì GDP quí không còn âm, nhưng nền kinh tế Mỹ
vẫn còn rất èo uột, GDP tăng thấp, thất nghiệp vẫn còn
rất cao, khoảng 9-10% và tình hình này có thể kéo dài đến 10
năm nữa. Thường các cuộc khủng hoảng trước đây, trừ
cuộc khủng hoảng năm 1929, thường làm tăng tỷ lệ thất
nghiệp lên thêm 2-3%. Cuộc khủng hoảng vừa qua làm thất
nghiệp tăng thêm 4-5%. Tại sao lại nói thế? Vì cũng như những
gì đã xảy ra với kinh tế Nhật, khi doanh nghiệp và người
dân còn nợ ngập đầu, thì dù có tiền cũng không ai muốn
đầu tư. Ưu tiên phải là trả nợ. Tình trạng này cũng đang
là vấn đề ở Mỹ, dù ở mức độ thấp hơn Nhật (xem tỷ
lệ nợ của các nước ở bảng 3).

Tại sao lại có hiện tượng trên? Và tại sao các cuộc khủng
hoảng kinh tế lớn đều bắt nguồn từ sự sụp đổ các trò
ma mãnh của giới tài chính? Cần để ý là tình hình kinh tế
bị coi là rơi vào khủng khoảng khi GDP giảm liên tục trong hai
quí (và do đó mà GDP cả năm có thể vẫn dương nếu kinh tế
nhanh chóng ra khỏi khủng hoảng).

<h2>Phân tích khủng hoảng ở Việt Nam</h2>

Kinh tế Việt Nam yếu kém vì gặp cả hai vấn đề. Thứ nhất
là vấn đề cơ cấu: luật pháp nhà nước bị lạm dụng, Nhà
nước thay vì làm quản lý và thực thi pháp luật lại tham gia
trực tiếp vào làm kinh tế với chiến lược ưu tiên phát
triển tập đoàn kinh tế quốc doanh nên dễ bị các nhóm lợi
ích chung quanh lạm dụng. Vấn đề thứ hai là chính sách chạy
đuổi theo tốc độ tăng GDP bằng vay mượn và đầu tư không
thích đáng đã đẩy nền kinh tế đến khủng hoảng mạnh,
liên tiếp năm 2008, rồi 2010-2011. Như đã phân tích ở trên,
khủng hoảng xảy ra khi các chính sách dựa vào các chính sách
tài chính tín dụng đẩy nền kinh tế vượt quá xa khả năng
phát triển tiềm năng của nó.

Cũng như phân tích kinh tế Mỹ ở trên, ta cần xem tốc độ
tăng tiềm năng của kinh tế Việt Nam là bao nhiêu. Tất nhiên
không thể lấy Mỹ làm thước đo vì đấy là một nền kinh
tế có thể coi là toàn dụng lao động và tài sản. Còn nền
kinh tế Việt Nam vẫn còn nằm ở giai đoạn chưa toàn dụng lao
động và tài sản, cho nên tiềm năng phát triển phải cao hơn.
Việc tạo việc làm chuyển lao động nông nghiệp bán toàn
dụng sang lao động công nghiệp sẽ có tác dụng tăng năng
suất và do đó tăng tốc độ tăng GDP. Nhưng tiềm năng tăng GDP
là bao nhiêu? Khó lòng biết. Tuy thế kinh nghiệm phát triển ở
những nước khác cho ta một ý niệm về tiềm năng này. Ta
thấy GDP từ năm 1970 đến nay ở Hàn quốc tăng trưởng trung
bình năm là 7,3%, Malaysia là 7% và Thái Lan là 6%. Xét về nhiều
mặt, nhất là thể chế trong đó các tác nhân kinh tế hoạt
động, Việt Nam chưa tạo ra khả năng phát triển bằng các
nước trên, đặc biệt là sự ưu đãi đối với khu vực quốc
doanh kém hiệu quả, tiềm năng phát triển khó lòng bằng
Malaysia hay hơn Thái Lan. Cứ cho rằng bằng Malaysia đi thì tiềm
năng cao nhất cũng chỉ bằng 7%.

Với lạm phát bình quân năm là 7% thì chỉ số P/E của cổ
phiếu sẽ chỉ là 7. Nếu thị trường chứng khoán có chỉ số
là 13 như hiện nay thì rõ ràng là việc đánh giá thị trường
còn quá lạc quan. Chúng ta chỉ có thể đánh giá so sánh chỉ
số P/E giữa các nước khi tính thêm chỉ số lạm phát trước
mắt. Việc đánh giá thị trường nhà đất cũng tương tự, có
thể tính bằng cách lấy tiền cho thuê trừ đi mọi chi phí kể
cả trả lãi vay vốn và đem chia cho giá vốn tự có bỏ ra mua.

Từ đó ta thấy chiến lược nhằm vào tốc độ bình quân năm
9-10% tất dẫn đến khủng hoảng.

Chiến lược phát triển vừa qua cho thấy Việt Nam đã chạy
theo sự hồ hởi phát triển tài chính như từng xảy ra ở Mỹ,
cũng thả rông cho doanh nghiệp mở ngân hàng, đầu tư tài chính
và địa ốc, cũng bằng mọi cách vay mượn, sẵn sàng chấp
nhận thiếu hụt ngân sách cao, đẩy tiền và vốn cho doanh
nghiệp quốc doanh, bất chấp sự ổn định dài lâu của nền
kinh tế và tiềm năng phát triển thực sự. Thay vì lấy tiền
người khác đút túi mình thì lấy tiền vay mượn nước ngoài
đút túi mình. Kinh nghiệm cho thấy giá tài sản quá cao không
phản ánh tiềm năng phát triển tất đưa đến suy sụp. Tăng
GDP quá nóng tất khi có lạm phát mà lại muốn bảo trì hối
suất tất dẫn đến thiếu hụt cán cân thanh toán và cuộc
tháo chạy của tư bản tài chính như đã xảy ra năm 1997 ở
châu Á.

Vì vậy, cần lấy lại sự ổn định của nền kinh tế bằng
các chính sách kiểm soát đúng đắn chính sách tiền tệ, tín
dụng, tài chính. Và chỉ có thể có chính sách trên đúng đắn
khi kiểm soát được các hoạt động của khu vực quốc doanh
và nhóm ăn theo, và chấm dứt việc chạy theo tốc độ tăng GDP
bằng cách chạy theo đầu tư, và chấm dứt được các ảnh
hưởng quá đáng của lợi ích nhóm và địa phương.

Tất nhiên tiềm năng tăng GDP có thể cao hay thấp còn tùy
thuộc vào khả năng chuyển đổi lao động từ nông nghiệp sang
công nghiệp, hấp thụ khoa học kỹ thuật và phương pháp quản
lý hữu hiệu, đây là tiềm năng dài lâu mà chỉ có một thể
chế kinh doanh đúng đắn mới có thể mở cửa cho nó. Ở đây
cũng nên thấy khi Trung Quốc chạy theo tốc độ tăng GDP ngắn
hạn thì mọi tài sản thiên nhiên đang bị hủy hại và tăng
trưởng dài lâu sẽ bị ảnh hưởng, đó là chưa nói tới
tiềm năng của một cuộc khủng hoảng tài chính lớn đang chờ
đợi trước mắt.

<div class="special_quote"><h2>KHỦNG HOẢNG Ở MỸ VÀ VAI TRÒ TRUNG
QUỐC</h2>

Có thể chia ra hai loại khủng hoảng: khủng hoảng cơ cấu và
khủng hoảng tài chính. Khủng hoảng cơ cấu thường mang tính
dài hạn, khó cứu chữa và ngay cả tính chất của nó cũng khó
xác định. Có người coi kinh tế Mỹ hiện nay ngoài khủng
hoảng tài chính còn rơi vào khủng hoảng cơ cấu. Rõ hơn cả
là tỷ lệ thất nghiệp cao ở Mỹ, và được coi là có nguyên
do cơ cấu. Tư bản Mỹ không có ý niệm tổ quốc, nên sẵn
sàng di chuyển vốn sang những nước có lao động rẻ. Điều
này có thể không mang tính cơ cấu, vì lý thuyết kinh tế cho
rằng bình thường điều này chẳng có hại gì. Khi các nước
đó có thu nhập cao hơn họ sẽ mua hàng mà họ chưa sản xuất
được của Mỹ, cả kinh tế Mỹ và các nước đang phát triển
đều lợi. Điều không bình thường, và mang tính chính trị,
là quá trình điều chỉnh trên đã và đang bị Trung Quốc cản
trở, với chính sách giữ giá đồng nhân dân tệ thấp để
dễ xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, và ngày càng tích tụ
quá nhiều ngoại tệ trong tay. Họ tạo ra công ăn việc làm cho
họ, nhưng làm Mỹ thất nghiệp cao.

Có hai vấn đề với tình trạng này. Vấn đề thứ nhất là
về dài lâu Trung Quốc chẳng có lợi gì vì không lẽ họ sản
xuất chỉ để nắm giữ một mớ giấy lộn? Vấn đề thứ hai
là về lý thuyết hành động của Trung Quốc có thể tạo ra
thất nghiệp ở Mỹ. Nhưng trên thực tế, đành rằng một số
ngành gặp khó khăn, nhưng do giá cả giảm, khả năng tiêu dùng
và cả sản xuất cao hơn, Mỹ có thể chuyển vào phát triển
những ngành khác. Tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ có lẽ nói lên
điều này. Lý do là vào thời kỳ những năm 60, 70, và 80 thế
kỷ trước khi Trung Quốc chưa là yếu tố cạnh tranh, thất
nghiệp mang tính cơ cấu (tức là không thể giảm thấp hơn
được) ở Mỹ đã tăng từ 4,4% lên 6%. Vào thập niên 1990 khi
sức cạnh tranh của Trung Quốc tăng thì thất nghiệp cơ cấu
giảm xuống 5% rồi 4%, ngược lại với điều dự đoán là
chính sách của Trung Quốc đáng lẽ đã làm tăng thất nghiệp
cơ cấu. Vào những năm 2000, thất nghiệp cơ cấu tăng lên 4,5%.
Cho nên thất nghiệp cơ cấu ở Mỹ cần phải được giải
thích với lý do khác hơn là chỉ dùng yếu tố Trung Quốc.</div>

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/11092), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét