Quốc gia Hà Nội ngày 17-11-2000, Tổng thống Bill Clinton đã ví
xu thế toàn cầu hóa với các lực thiên nhiên như gió và
nước trong cách lý giải sau đây:
"Chúng ta có thể dồn gió cho căng buồm. Chúng ta có thể dùng
nước để tạo ra năng lượng. Chúng ta có thể cố gắng
chống lại bão và lũ lụt để bảo vệ nhân dân và tài sản.
Nhưng chúng ta chẳng thể nào phủ nhận sự hiện hữu của gió
và nước, hoặc tìm cách loại chúng. Xu hướng toàn cầu hoá
cũng thế. Chúng ta có thể nỗ lực để tối đa hoá cái lợi
của nó và giảm thiểu những rủi ro, nhưng chúng ta không thể
làm ngơ trước xu hướng này và nó cũng sẽ không tự biến
mất". (trích bản dịch của TTXVN).
Đúng vậy. Trong hai thập kỷ qua, tiến trình toàn cầu hóa đã
tạo điều kiện hết sức thuận lợi để các nước đang phát
triển vươn lên, vì tiến trình này đã trải rộng tổng số
của cải trên thế giới và "hội nhập hàng tỉ công nhân
lương thấp vào hệ thống kinh tế toàn cầu" (Kupchan). Cùng
với xu thế toàn cầu hoá, sự ra đời của công nghệ thông tin
đã trang bị một số nước đang phát triển "đôi hài vạn
dặm" để vươn lên nhanh chóng, nổi bật nhất là Trung Quốc,
Ấn Độ, Nga, Brazil, Hồi Quốc, Nam Phi... Tiến trình toàn cầu
hoá đã chuyển sức mạnh kinh tế từ trung tâm quyền lực
truyền thống là các cường quốc phương Tây sang các vùng phụ
biên của thế giới.
Trong bài tiểu luận sau đây, Giáo sư Charles A. Kupchan đã kết
luận rằng tiến trình toàn cầu hóa đã từng bước lấy mất
quyền kiểm soát của các cường quốc phương Tây trên các
vấn đề quốc tế, đồng thời gây ra tình trạng bất ổn và
bất bình đẳng nghiêm trọng trong các xã hội dân chủ. Các
chính phủ dân chủ hàng đầu phương Tây đang lâm vào một
cuộc khủng hoảng về khả năng điều hành quốc gia.
Như vậy, làn sóng toàn cầu hóa đã tạo ra tình trạng bên lở
- bên bồi. Có lẽ đã đến lúc chúng ta phải nhìn lại và
đánh giá tình hình là người Việt Nam chúng ta đã thu hoạch
những gì, và thu hoạch bao nhiêu trong vận hội mới do tiến
trình toàn cầu hóa mang lại, trước khả năng lịch sử có
thể sang trang trong tương lai. Vì tiến trình nào cũng có giai
đoạn thoái trào của nó: có bắt đầu thì phải có kết thúc.
Điều đáng báo động là, đối diện với khủng hoảng kinh
tế và chính trị trong nước, thậm chí các chính phủ dân chủ
tự do tiên tiến nhất cũng phải tính đến các đường lối
dân túy chủ nghĩa (populist approaches): nhúng tay vào việc hoạch
định kinh tế và bảo hộ mậu dịch để phục vụ quyền lợi
bức thiết của các khối cử tri rộng lớn, nếu các chính
phủ này không muốn thấy sự lan rộng của các phong trào quần
chúng nổi dậy, mà màn giáo đầu có thể là Phong trào Chiếm
Phố Wall. Đây cũng là cảnh báo quan trọng mà học giả Kupchan
đã đưa ra trong bài viết của mình, và chúng ta như một quốc
gia đang thụ hưởng thành quả của kinh tế toàn cầu thiết
tưởng cũng nên suy nghĩ về viễn cảnh đó.
Bauxite Việt Nam</div>
<h2>Charles A. Kupchan - Tình trạng bất ổn tại các nước dân
chủ</h2>
<em><strong>(Tiến trình toàn cầu hóa và mối đe dọa đối với
phương Tây)</strong></em>
Một cuộc khủng hoảng về khả năng điều hành quốc gia đang
trùm phủ lên các chế độ dân chủ tiên tiến nhất thế
giới. Chẳng phải tình cờ mà Mỹ, châu Âu, và Nhật Bản đang
đồng thời trải qua một tình trạng suy sụp chính trị; tiến
trình toàn cầu hóa đang mở ra một khoảng cách ngày càng lớn
giữa những gì mà các khối cử tri đang đòi hỏi từ chính
phủ của họ và những gì mà các chính phủ ấy có thể đáp
ứng được. Sự so le giữa việc người dân ngày càng đòi
hỏi một khả năng điều hành quốc gia tốt đẹp và việc
chính phủ ngày càng bất lực trong việc cung ứng khả năng ấy
là một trong những thử thách nghiêm trọng nhất của thế
giới phương Tây hiện nay.
Cử tri tại các nước dân chủ công nghiệp hóa đang kỳ vọng
chính phủ của họ giải quyết các vấn đề liên quan đến
sự sa sút trong mức sống và tình trạng bất bình đẳng kinh
tế ngày một gia tăng do sự luân lưu hàng hóa, dịch vụ, và
vốn diễn ra ở mức độ chưa từng thấy trên toàn cầu. Họ
cũng trông chờ các vị đại biểu của mình giải quyết các
vấn đề nổi cộm như việc nhập cư của người nước ngoài,
tình trạng hâm nóng địa cầu, và các hệ quả thứ yếu khác
của một thế giới toàn cầu hoá. Nhưng các chính phủ phương
Tây không đủ khả năng chu toàn nhiệm vụ ấy. Tiến trình
toàn cầu hóa đang lấy mất những lợi thế chính sách của
những chính phủ này, đồng thời làm suy giảm sự thống trị
truyền thống của phương Tây trên các vấn đề quốc tế, vì
tiến trình này đã tạo điều kiện cho "phần còn lại của
thế giới vươn lên". Sự bất lực của các chính phủ dân
chủ trong việc đáp ứng các nhu cầu của đại chúng do đó
đã gia tăng sự bất mãn của người dân, làm suy yếu thêm
tính chính danh và hiệu năng của các định chế đại nghị.
Cuộc khủng hoảng về khả năng điều hành quốc gia trong phạm
vi thế giới phương Tây đã diễn ra đặc biệt không đúng
thời điểm. Toàn bộ hệ thống quốc tế đang kinh qua một
biến chuyển tái tạo (tectonic change) do sự phân tán của cải
và quyền lực đến những khu vực mới. Tiến trình toàn cầu
hóa lẽ ra phải làm lợi cho các xã hội tự do, những xã hội
được cho là phù hợp nhất trong việc vận dụng tính nhanh
nhạy và linh động của thị trường toàn cầu. Nhưng thay vì
vậy, nhiều khối quần chúng ở những nước dân chủ tiên
tiến tại Bắc Mỹ, châu Âu, và Đông Á đang gánh chịu nhiều
hậu quả nặng nề – chính vì các nền kinh tế của những
nước này vừa hết hạn kỳ (không thể phát triển thêm
được nữa) vừa mở ra với thế giới bên ngoài.
Trái lại, Brazil, Ấn độ, Hồi Quốc, và các nước dân chủ
đang trỗi dậy khác hiện đang hưởng lợi nhờ sự chuyển
dịch sinh lực kinh tế từ thế giới phát triển sang thế giới
đang phát triển. Đặc biệt Trung Quốc (TQ) đang tỏ ra khôn
khéo trong việc gặt hái những lợi ích của việc toàn cầu
hóa trong khi hạn chế được những thiệt hại do nó mang lại
– một phần không nhỏ là vì TQ đã giữ quyền kiểm soát
những công cụ chính sách mà các đối thủ tự do không chịu
dùng đến. Chủ nghĩa tư bản nhà nước có những lợi thế rõ
ràng, chí ít trong giai đoạn hiện nay. Do đó, không những chỉ
có ưu thế vật chất của phương Tây đang bị đe dọa, mà
sức hấp dẫn của phiên bản về tính hiện đại phương Tây
cũng bị thử thách. Nếu các chế độ tự do dân chủ không
thể phục hồi khả năng thanh toán các vấn đề chính trị và
kinh tế hiện nay (political and economic solvency), thì quyền lực
chính trị và địa chính trị của Thế kỷ 21 rất có thể bị
nhiều thế lực khác nhau giành giựt.
<h3>NHỮNG BẤT AN</h3>
Tiến trình toàn cầu hóa đã trải rộng toàn bộ của cải
của thế giới và giúp các nước đang phát triển đạt được
sự phồn thịnh chưa từng có. Sự gia tăng nhanh chóng số
lượng đầu tư, mậu dịch, và các mạng lưới giao thông đã
làm sâu sắc thêm sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia
(interdependence) và các hệ quả có tiềm năng ổn định tình
hình. Xu thế toàn cầu hóa cũng buộc các quốc gia phi dân chủ
phải mở cửa và vì thế nó có thể thúc đẩy các cuộc nổi
dậy của dân chúng. Nhưng đồng thời, việc toàn cầu hóa và
nền kinh tế thông tin (digital economy) mà nó dựa vào là nguyên
nhân chính của cuộc khủng hoảng về khả năng điều hành
quốc gia hiện nay tại phương Tây. Xu hướng giảm công nghiệp
hóa (deindustrialization) và đưa công việc ra nước ngoài
(outsourcing), thương mại toàn cầu và bất quân bình ngân sách,
vốn thặng dư và tín dụng và bong bóng đầu tư – những hậu
quả này của xu thế toàn cầu hóa đang áp đặt lên xã hội
phương Tây nhiều gian khổ và bất an mà nhiều thế hệ gần
đây chưa từng trải qua. Tình trạng khốn khổ phát xuất từ
cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ năm 2008 là đặc
biệt gay gắt, nhưng những vấn đề cơ bản đã phát xuất
sớm hơn nhiều. Trong phần lớn hai thập kỷ qua, đồng lương
của giai cấp trung lưu tại các nước dân chủ hàng đầu trên
thế giới đã bị giữ ở mức cố định, và tình trạng bất
bình đẳng kinh tế đã và đang gia tăng gay gắt, đồng thời xu
thế toàn cầu hóa đã tưởng thưởng hậu hĩ những người
thành công và để lại đằng sau nhiều người thất bại.
Những xu thế này không phải là phó sản tạm thời của một
chu kỳ thương nghiệp (the business cycle), chúng cũng không chủ
yếu do việc chính phủ thiếu điều tiết trong khu vực tài
chính, hay do việc giảm thuế giữa hai cuộc chiến tranh Iraq và
Afghanistan, hay do những chính sách sai lầm khác. Như các nhà
phân tích kinh tế Daniel Alpert, Robert Kockett, và Nouriel Roubini đã
tranh luận gần đây trong tác phẩm nghiên cứu của họ The Way
Forward (Con đường phía trước), thì đồng lương trì trệ và
tình trạng bất bình đẳng ngày càng gia tăng là hậu quả của
việc hội nhập hằng tỉ công nhân lương thấp (low-wage workers)
vào nền kinh tế toàn cầu và việc gia tăng năng suất nhờ áp
dụng công nghệ thông tin vào khu vực sản xuất. Những phát
triển này đã đẩy năng suất toàn cầu cao hơn mức đòi hỏi
quá xa, gây tổn thất nặng nề cho công nhân tại các nền kinh
tế trả lương cao (high-wage economies) của thế giới công
nghiệp. Tình trạng xáo trộn và bất mãn của nhiều khối cử
tri phương Tây do việc toàn cầu hóa đã được khuếch đại
bởi cường độ gia tăng của những mối đe doạ xuyên quốc
gia, nạn khủng bố, việc nhập cư bất hợp pháp, và nạn
xuống cấp môi trường – vốn là hệ quả của quá trình toàn
cầu hóa. Cộng thêm vào mối phức tạp xấu xa này là cuộc
cách mạng thông tin; Internet và sự tràn ngập các phương tiện
thông tin đại chúng hình như đang làm gia tăng tình trạng phân
cực ý thức hệ hơn là bồi dưỡng các cuộc thảo luận có ý
nghĩa.
Các cử tri đứng trước sức ép kinh tế, xáo trộn xã hội,
và chia rẽ chính trị đang hướng về các vị đại diện dân
cử để tìm sự giúp đỡ. Nhưng, xu thế toàn cầu hóa càng
thúc đẩy đòi hỏi bức thiết là chính phủ phải đáp ứng
nguyện vọng người dân bao nhiêu, thì chính xu thế này cũng
đảm bảo rằng sự đáp ứng đó là bất cập bấy nhiêu. Các
chính phủ tại các nước công nghiệp phương Tây đã đi vào
một giai đoạn thiếu hiệu quả rõ rệt, vì ba lý do chủ yếu
sau đây:
Một là, xu thế toàn cầu hóa đã biến những công cụ chính
sách truyền thống từng được sử dụng bởi những nước tự
do dân chủ thành những công cụ cùn cụt hơn trước nhiều.
Washington thường xuyên vận dụng chính sách ngân sách và tiền
tệ để điều chỉnh hoạt động kinh tế. Nhưng trước cuộc
cạnh tranh toàn cầu và một núi nợ chưa từng thấy, nền kinh
tế Mỹ có vẻ gần như trở thành miễn dịch đối với các
lượng tiền chi tiêu để kích thích kinh tế hay đối với
những động thái mới nhất của Quĩ Dự trữ Liên bang [Ngân
hàng Trung ương] về lãi suất. Phạm vi rộng lớn và tốc độ
nhanh chóng của các lưu lượng thương mại và tài chính toàn
cầu có ý nghĩa rằng các quyết định và các biến chuyển ở
những nơi khác là quan trọng hơn những quyết định của
Washington – như thái độ ngoan cố của Bắc Kinh về đồng
Nhân dân tệ, phản ứng chậm chạp của châu Âu đối với
cuộc khủng hoảng tài chính tại đó, hành vi của giới đầu
tư và các cơ quan thẩm định giá trị, hoặc sự gia tăng phẩm
chất các kiểu xe mới nhất của hãng Hyundai. Các nước dân
chủ châu Âu qua một thởi gian lâu dài từng dựa vào chính
sách tiền tệ để thích nghi với các thay đổi bất thường
trong hoạt động kinh tế. Nhưng họ đã từ bỏ lựa chọn ấy
khi họ gia nhập khu vực đồng euro. Nhật Bản trong hai thập
kỷ vừa qua đã thử nghiệm chiến lược này đến chiến
lược khác để kích thích kinh tế, nhưng vô hiệu. Trong một
thế giới toàn cầu hóa, giản dị là, các quốc gia dân chủ
không còn khả năng kiểm soát các hậu quả như trước.
Hai là, nhiều vấn đề mà các khối cử tri phương Tây đang
đòi hỏi chính phủ của mình giải quyết cần đến một mức
độ hợp tác quốc tế nào đó, nhưng đây là điều không thể
thực hiện. Sự tản mác quyền lực từ phương Tây sang phần
còn lại của thế giới có nghĩa là ngày nay có nhiều đầu
bếp mới trong nhà bếp; một hành động có hiệu quả không
còn chủ yếu tùy thuộc vào sự cộng tác giữa các quốc gia
dân chủ có cùng một ý thức hệ. Thay vào đó, nó tùy thuộc
vào sự hợp tác giữa một số quốc gia đông đảo hơn và đa
dạng hơn. Hiện nay, Mỹ đang hướng về nhóm G-20 để tái quân
bình nền kinh tế thế giới. Nhưng rất khó đạt được một
sự đồng thuận giữa các quốc gia đang ở vào những giai
đoạn phát triển khác nhau và đi theo những đường hướng
điều hành kinh tế khác nhau. Những thách đố như nỗ lực
chặn đứng tình trạng hâm nóng địa cầu hay cô lập Iran một
cách có hiệu quả trong một cách thế tương tự sẽ tùy thuộc
vào nỗ lực tập thể, nhưng khả năng này hoàn toàn nằm ngoài
tầm vói.
Ba là, các nước dân chủ có thể hành động gọn nhẹ và đáp
ứng nhu cầu của dân chúng khi các khối cử tri tại đó cảm
thấy thỏa mãn và đạt được một sự đồng thuận phát sinh
từ những kỳ vọng lớn lao, nhưng các nước này sẽ trở nên
lúng túng và chậm trệ khi người dân của họ đâm ra bi quan
và chia rẽ. Các chính thể trong đó sự điều hành quốc gia
tùy thuộc vào sự tham gia của dân chúng, sự kiểm soát và
quân bình lẫn nhau giữa các định chế, và sự tranh đua giữa
các nhóm lợi ích tỏ ra khôn khéo trong việc phân phối các
quyền lợi hơn là việc chia đều sự hi sinh. Nhưng hi sinh chính
là điều cần thiết để phục hồi khả năng thanh toán kinh
tế (economic solvency) – nhằm thoát ra mạng lưới nợ nần
hiện nay. Sự kiện này buộc các chính phủ phương Tây phải
đối diện với một viễn tượng khó nuốt là theo đuổi
những chính sách có nguy cơ làm suy yếu khả năng thu hút cử
tri.
<h3>MỘT VẤN ĐỀ, BA SẮC THÁI</h3>
Tại Mỹ, sự đối đầu giữa hai đảng đang làm tê liệt hệ
thống chính trị. Nguyên nhân cơ bản là tình trạng thảm hại
của nền kinh tế Mỹ. Từ năm 2008, nhiều người Mỹ đã mất
nhà, mất công ăn việc làm, và tiền tiết kiệm hưu trí. Tất
cả những thất bại này diễn ra tiếp theo sau nhiều thập niên
liên tiếp đồng lương của giới trung lưu đứng yên một
chỗ. Trong 10 năm qua, mức thu nhập bình quân hộ gia đình tại
Mỹ đã sút giảm trên 10%. Trong khi đó, tình trạng bất bình
đẳng lợi tức đang tăng lên nhanh chóng, biến Hoa Kỳ thành
nước có mức chênh lệch giàu nghèo gay gắt nhất trong thế
giới công nghiệp. Nguyên nhân chủ yếu tạo ra tình cảnh sa
sút của người công nhân Mỹ là sự cạnh tranh toàn cầu; công
ăn việc làm của họ nối đuôi nhau đi ra nước ngoài. Thêm
vào đó, nhiều công ty có sức cạnh tranh nhất trong nền kinh
tế thông tin điện tử (digital economy) không có cánh dù đủ
rộng để bao che một số lượng công nhân to lớn. Công ty
Facebook được định giá khoảng 70 tỉ USD, nhưng nó chỉ mướn
khoảng 2.000 nhân viên; trong khi đó, công ty General Motors, được
định giá khoảng 35 tỉ USD nhưng có đến 77.000 nhân viên tại
Mỹ và 208.000 trên thế giới. Sự giàu có của các công ty có
sức cạnh tranh hàng đầu của Mỹ hiện nay không nhỏ giọt
xuống cho giới trung lưu nước này.
Những thực tế kinh tế khắc nghiệt đang làm sống lại những
phân hóa mang tính đảng phái và ý thức hệ từ lâu đã im
ắng nhờ những vận hội kinh tế phồn vinh của quốc gia
trước đây. Trong những thập niên sau Thế chiến II, một sự
phồn vinh được chia sẻ rộng rãi đã thu hút các chính trị
gia Dân chủ lẫn Cộng hòa vào vị trí trung tâm của sinh hoạt
chính trị. Nhưng ngày nay, Quốc hội Mỹ gần như thiếu hẳn
những người chủ trương ôn hòa ở trung tâm sân khấu chính
trị và thiếu hẳn tinh thần cộng tác giữa hai chính đảng;
phía Dân chủ vận động đòi hỏi thêm tiền để kích thích
kinh tế, cứu trợ người thất nghiệp và tăng thuế người
giàu, trong khi đó phía Cộng hòa đòi hỏi triệt để cắt
giảm kích cỡ và sự chi tiêu của chính phủ. Việc khoét rỗng
trung tâm chính trị Mỹ đang diễn ra nhanh chóng là do việc phân
chia lại các đơn vị bầu cử theo tinh thần đảng phái, do
một môi trường truyền thông kích động nhiều hơn thông tin,
và do một hệ thống vận động tài chính tranh cử băng hoại
đang bị các nhóm lợi ích nắm giữ.
Tình trạng phân cực chính trị do những nguyên nhân trên đang
trói chặt nước Mỹ. Tổng thống Barack Obama đã nhận thức
được tệ trạng này, đó là lý do tại sao ngay từ khi nhậm
chức ông đã hứa sẽ trở thành một vị tổng thống
"hậu-đảng phái" (a "postpartisan" president). Nhưng sự
thất bại trong những nỗ lực tốt đẹp nhất của Obama nhằm
hồi sinh nền kinh tế và phục hồi sự hợp tác lưỡng đảng
đã phơi bày tính cách hệ thống của sự rối loạn kinh tế
và chính trị tại quốc gia này. Gói kích thích kinh tế 787 tỉ
USD của Obama, được thông qua không có sự hậu thuẫn của
một dân biểu Cộng hòa nào tại Hạ viện, đã không hà hơi
tiếp sức được cho một nền kinh tế vốn bị băng hoại vì
nợ nần, vì thiếu công ăn việc làm cho giai cấp trung lưu, và
vì cuộc suy thoái toàn cầu. Từ khi đảng Cộng hòa giành
được đa số tại Hạ viện vào năm 2010, sự đối đầu của
hai đảng đã cản trở sự tiến bộ gần như trên mọi vấn
đề. Các dự luật nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hoặc
là không được thông qua hoặc là bị sửa đổi đến mức
không gây được tác dụng đáng kể. Các dự luật để cải
tổ vấn đề nhập cư và để hạn chế tình trạng hâm nóng
địa cầu thậm chí không được đưa lên chương trình nghị
sự.
Việc điều hành quốc gia yếu kém, kết hợp với liều lượng
xung khắc đảng phái hàng ngày, đã đẩy sự tán thành của
dân chúng đối với Quốc hội xuống mức thấp nhất trong
lịch sử. Sự thất vọng đều khắp của dân chúng đã sản
sinh Phong trào Chiếm Phố Wall (the Occupy Wall Street movement) –
gồm một loạt các cuộc biểu tình chống đối kéo dài của
dân chúng lần đầu tiên diễn ra kể từ thời Chiến tranh
Việt Nam. Sự bất mãn của cử tri chỉ làm sâu sắc thêm
những thách đố trong việc điều hành quốc gia, khi những
chính trị gia vì thấy mình thất thế phải nhắm vào những
lợi ích hẹp hòi của cơ sở đảng phái, vì thế hệ thống
chính trị quốc gia mất luôn cả sức đẩy nhỏ nhoi.
Trong khi đó, cuộc khủng hoảng về khả năng điều hành tại
châu Âu mang dạng thức của một cuộc tái quốc gia hóa
(renationalization) nền chính trị tại đó. Nhiều bộ phận dân
chúng châu Âu đang nổi lên chống lại cuộc xáo trộn kép gây
ra do tiến trình hợp nhất châu Âu và xu thế toàn cầu hóa.
Hậu quả là, các nước thành viên EU (Liên minh châu Âu) đang
bận rộn đấu tranh giành lại những quyền lợi chủ quyền
của mình, do đó có thể gây nguy cơ cho dự án hợp nhất chính
trị và kinh tế châu Âu được khởi động sau Thế chiến II.
Cũng như tại Mỹ, tình hình kinh tế là gốc rễ của vấn
đề. Trong hai thập kỷ qua, mức thu nhập của giai cấp trung
lưu trong hầu hết những nền kinh tế quan trọng của châu Âu
liên tục giảm sút và tình trạng bất bình đẳng ngày một gia
tăng. Tỉ số thất nghiệp tại Bồ Đào Nha lên trên 20%, và
thậm chí tại Đức, nền kinh tế hàng đầu của EU, giai cấp
trung lưu bị thu nhỏ 13% kể từ năm 2000 đến 2008. Những kẻ
sa cơ thất thế thấy mình đang rơi xuống trên một tấm lưới
an toàn đã sờn rách; các hệ thống an sinh êm ái của châu Âu,
không còn đứng vững trước sức cạnh tranh toàn cầu, đang
bị cắt xén nhanh chóng. Tình trạng khắc khổ phát sinh từ
cuộc khủng hoảng nợ nần trong khu vực đồng euro chỉ làm cho
vấn đề trở nên tồi tệ thêm. Người Hy Lạp phẫn nộ về
chính sách thắt lưng buộc bụng mà khối EU thực thi bao nhiêu,
thì người Đức lại giận dữ về việc họ phải cứu giúp
các nước đình đốn kinh tế tại châu Âu bấy nhiêu.
Dân số đang già nua của châu Âu đã khiến việc nhập cư của
người nước ngoài trở thành một tất yếu kinh tế (an economic
necessity). Nhưng sự trì trệ của người di dân Hồi giáo trong
việc hội nhập vào dòng chính của xã hội châu Âu đã gia
tăng sự bất bình của người bản xứ đối với thái độ
sốt sắng của EU trong việc thu nhận thêm người nước ngoài
vào xã hội của họ. Những đảng chính trị cực hữu đã khai
thác mối lo âu này, và chủ nghĩa dân tộc gay gắt của họ
không những chỉ nhắm vào người nhập cư mà còn nhắm vào
cả EU nữa. Sự thay đổi thế hệ đang làm giảm bớt nhiệt
tình của dân chúng đối với việc hợp nhất châu Âu. Những
người châu Âu với ký ức kinh hoàng về Thế chiến II coi EU
như một lối thoát của châu Âu để tránh xa dĩ vãng đầy máu
lệ của nó. Nhưng những thế hệ châu Âu trẻ trung hơn thì
không có dĩ vãng nào cần phải trốn chạy. Trong khi những vị
trưởng lão coi dự án châu Âu như một niềm tin tưởng, thì
các nhà lãnh đạo hiện nay và các khối cử tri lại muốn
thẩm định EU xuyên qua một sự đánh giá lạnh lùng – và
đôi khi tiêu cực – dựa trên lợi và hại.
Việc điều hành một chính quyền tập thể mà EU rất cần
đến để thành công trong một thế giới toàn cầu hóa không
nhận được hậu thuẫn của các phong trào chính trị đường
phố, một xu thế rõ ràng đang trở nên xung khắc với dự án
châu Âu. Các định chế của châu Âu có khả năng xuống cấp
ngang với mức độ của chính trị châu Âu, điều này sẽ có
hệ quả là biến EU thành một khối mậu dịch không hơn không
kém. Một khả năng khác là, chính trị quốc gia của từng
nước thành viên có thể một lần nữa lại khoát lên mình
một sứ mệnh châu Âu, điều này sẽ thở một luồng khí
chính danh mới mẻ vào một liên minh đang ngày càng rổng ruột.
Hậu quả của khả năng thứ hai là tốt đẹp hơn nhiều, nhưng
nó đòi hỏi tài lãnh đạo và quyết tâm, nhưng hiện nay những
yếu tố này không biết tìm đâu cho thấy.
Về phần mình, Nhật Bản cũng đang phiêu dạt về chính trị
kể từ khi Junichiro Koizumi thôi chức thủ tướng vào năm 2006.
Sau đó, Đảng Tự do Dân chủ (ĐTDDC), một đảng từng khống
chế chính trường Nhật Bản suốt gần hết thời hậu chiến,
đã thất bại thảm hại, nhường quyền cho Đảng Dân chủ
Nhật Bản (ĐDCNB) vào năm 2009. Việc củng cố một hệ thống
lưỡng đảng (a two-party system) tưởng có tiềm năng cải thiện
việc điều hành quốc gia nhưng thay vì vậy đã chỉ tạo ra
bế tắc chính trị và làm mất niềm tin của dân chúng. Nhật
Bản trải qua sáu đời thủ tướng trong vòng 5 năm. Mùa hè
vừa qua, mức hậu thuẫn của dân chúng dành cho ĐDCNB đứng ở
18%. ĐDCNB và ĐTDDC bị chia rẽ nội bộ gay gắt cùng với mức
độ hai đảng hiện đang kèn cựa lẫn nhau. Việc hoạch định
chính sách bị bế tắc trên mọi vấn đề khẩn cấp; phải
mất hơn 100 ngày Quốc hội Nhật Bản mới có thể thông qua
đạo luật cung cấp cứu trợ cho nạn nhân của cuộc động
đất, sóng thần, và thảm họa hạt nhân xảy ra năm ngoái.
Vấn đề bắt đầu diễn ra với việc Nhật Bản vỡ bong bóng
tài sản năm 1991, một bước thụt lùi đã phơi bày nhiều vấn
đề còn sâu sắc hơn trong nền kinh tế quốc gia và dẫn đến
một "thập kỷ mất mát" vì nạn suy thoái kéo dài. Các nhà
sản xuất Nhật Bản chịu nhiều thiệt hại, khi công việc và
tiền đầu tư chuyển sang Trung Quốc và "các con hổ châu
Á". Khế ước xã hội truyền thống của Nhật Bản, theo đó
các tập đoàn doanh nghiệp cung cấp việc làm suốt đời và
lương hưu thoải mái, không còn đứng vững được nữa. Hai
thập kỷ vừa qua đã mang lại một sự suy giảm đáng kể trong
mức thu nhập của giới trung lưu, tình trạng bất bình đẳng
kinh tế gia tăng, và tỉ lệ nghèo đã tăng đột biến từ 7%
trong những năm 1980 lên 16% trong năm 2009. Trong năm 1989, Nhật
Bản đứng hàng thứ tư trên thế giới về GDP đầu người;
vào năm 2010, GDP đầu người của Nhật Bản rơi xuống hạng
24.
Chính vì để đối phó với những vấn đề này mà Koizumi đã
lao vào những nỗ lực đầy tham vọng nhằm tự do hóa nền kinh
tế và giảm bớt quyền lực của giới quan liêu và các nhóm
lợi ích. Sức hấp dẫn của cá nhân ông và hậu thuẫn mạnh
mẽ của Quốc hội đã tạo được tiến bộ có ý nghĩa, nhưng
những kẻ kế vị thuộc ĐTDDC cũng như ĐDCNB tỏ ra quá yếu
kém, không đủ sức thúc đẩy tiến trình đi tới. Vì thế
Nhật Bản lâm vào tình trạng thiếu lãnh đạo, rơi vào nguy cơ
chịu những xáo trộn của một nền kinh tế toàn cầu chưa
được tự do hóa hay đủ tính chiến lược cho một sự cạnh
tranh hữu hiệu.
<h3>CHÉN THUỐC ĐẮNG</h3>
Không phải tình cờ mà cuộc khủng hoảng khả năng điều hành
quốc gia tại phương Tây đã xảy ra trùng hợp với sức mạnh
chính trị mới mẻ của các cường quốc đang trỗi dậy; sinh
lực kinh tế và chính trị đang chuyển từ trung tâm ra vùng
biên của hệ thống quốc tế. Và trong khi những quốc gia cởi
mở nhất thế giới đang kinh qua tình trạng mất quyền kiểm
soát khi hội nhập vào một thế giới toàn cầu hóa, các quốc
gia phi tự do, như Trung Quốc, đang cố tình kìm hãm xã hội
chặt chẽ hơn xuyên qua việc hoạch định chính sách bằng
đường lối trung ương tập quyền, kiểm soát phương tiện
truyền thông, và thị trường được nhà nước giám sát. Nếu
các nước dân chủ hàng đầu tiếp tục mất đi ánh quanh vinh
trong lúc các nước đang phát triển phác thảo hướng đi lên
của mình, thời kỳ quá độ đang diễn ra của quyền lực toàn
cầu sẽ gây thêm nhiều bất ổn đáng kể. Ngược lại, một
cuộc tái liên kết theo trật tự phân hạng quốc tế sẽ diễn
ra thứ tự hơn nếu các nước dân chủ phương Tây lấy lại
tư thế của mình và cung ứng một sự lãnh đạo có ý nghĩa.
Điều mà chúng ta cần đến không gì khác hơn là một câu trả
lời bức thiết mang tính cách thể kỷ 21 đối với những căng
thẳng cơ bản giữa dân chủ, chủ nghĩa tư bản và toàn cầu
hóa. Nghị trình chính trị mới mẻ này phải nhắm vào việc
tái xác quyết quyền kiểm soát của người dân đối với kinh
tế chính trị (political economy), điều khiển hành vi nhà nước
hướng tới việc đáp ứng có hiệu quả những thực tại kinh
tế của thị trường toàn cầu lẫn những đòi hỏi của xã
hội đại chúng về việc phân chia công bình các phần thưởng
và các hi sinh.
Phương Tây phải theo đuổi ba chiến lược tổng quát nhằm
đáp ứng thách thức này và vì thế phải trang bị các định
chế dân chủ của mình hữu hiệu hơn để đối phó một thế
giới toàn cầu hóa. Một là, khi phải đối đầu với chủ
nghĩa tư bản nhà nước và sức mạnh to lớn của các thị
trường toàn cầu, các nước dân chủ phương Tây không còn
cách nào khác hơn là phải nhúng tay vào việc hoạch định kinh
tế chiến lược trên một qui mô chưa từng có. Việc đầu tư
do nhà nước lãnh đạo sẽ rất cần thiết trong các lãnh vực
như việc làm, cơ sở hạ tầng, giáo dục, và nghiên cứu để
phục hồi sức cạnh tranh kinh tế. Hai là, các nhà lãnh đạo
phải tìm cách chuyển hướng sự bất mãn của cử tri vào các
mục đích cải tổ xuyên qua một dạng thức tiến bộ của
chủ nghĩa dân túy (a progressive brand of populism). Bằng cách theo
theo đuổi những chính sách làm lợi cho đại chúng hơn là
phục vụ các đảng viên trung kiên và các lợi ích đặc biệt,
những nhà chính trị không những lấy lại được lòng dân mà
còn tạo lại sinh lực cho những cơ chế dân chủ và phục hồi
giá trị của bổn phận công dân và đức tính hy sinh. Ba là,
các chính phủ phương Tây phải đưa các khối cử tri của mình
ra khỏi sự cảm dỗ của xu thế hướng nội. Lịch sử đã
chứng minh, những giai đoạn kinh tế khó khăn có thể nhen nhúm
chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch (protectionism) và chủ nghĩa cô
lập (isolationism).
Không một chiến lược nào được nêu ra ở trên là dễ thực
hiện. Việc theo đuổi toàn bộ những chiến lược này cùng
một lúc sẽ đòi hỏi một tài lãnh đạo phi thường và một
thái độ can đảm chính trị tương xứng. Nhưng bao lâu mà một
nghị trình như thế chưa được thiết kế và thực hiện, thì
tình trạng bất ổn của các nước dân chủ phương Tây vẫn
còn tồn tại.
<em><strong>C. A. K.</strong></em>
Charles A. Kupchan là Giáo sư Quốc tế Sự vụ tại Đại học
Georgetown và là Nhà nghiên cứu Thâm niên tại Council on Foreign
Relations, một viện nghiên cứu chính sách tại Mỹ. Bài tiểu
luận sau đây phỏng theo cuốn sách sắp xuất bản của ông,
nhan đề No One's World: The West, the Rising Rest, and the Coming Global
Turn (Thế giới không của riêng ai: phương Tây, phần còn lại
đang trỗi dậy và biến chuyển toàn cầu sắp tới), do Oxford
University Press xuất bản năm 2012.
<em>Dịch giả gửi trực tiếp cho BVN.</em>
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/11155), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét