src="http://danluan.org/files/u1/sub02/AmartyaSen_2007.jpg" width="399"
height="576" alt="AmartyaSen_2007.jpg" /><div class="textholder">Amartya Sen,
2007</div></div>
Đa số người ngoài ngành (và cả nhiều người trong ngành)
thường nghĩ đến kinh tế như một khoa học giúp hoạch định
những chính sách để quản lý, để phát triển, để tăng
trưởng, để bình ổn. Những người có thiên kiến này sẽ
ngạc nhiên khi đọc Amartya Sen, nhà kinh tế gốc Ấn Độ,
người được Ngân hàng Quốc gia Thụy Điển trao tặng giải
Nobel Kinh tế năm 1998. Ông là người châu Á đầu tiên được
Nobel về ngành này.
Tuy đã đến tuyệt đỉnh danh vọng, Sen được ngưỡng mộ
không chỉ vì những phần thưởng cao quý, nhưng còn vì kiến
thức đa diện và quảng bác của ông, và vì lương tri của ông
đối với những vấn đề xã hội, không những của quê hương
ông mà còn của cả những quốc gia đang phát triển. Được
trọng vọng trong xã hội trí thức cao nhất ở Tây phương (ông
giảng dạy ở Cambridge từ năm 1971, và cũng có nhiều năm ở
Harvard), Sen không bao giờ ngưng ưu tư về phúc lợi của những
người bần cùng. Là một nhà kinh tế với kỹ năng toán logic
vào hạng thượng thừa, ông cũng thấm nhuần triết học, Tây
lẫn Đông. Là người có những đóng góp nền tảng cho kinh
tế học hiện đại, Sen cũng hoài nghi về nhiều mặt của thứ
kinh tế học này.
<center>*</center>
Từ nhỏ, Sen đã chứng kiến cũng như trải nghiệm những tai
họa khó tưởng tượng. Năm 1943, khi Sen vừa lên mười, Bengal
(quê ông, một tỉnh vùng đông bắc Ần Độ, nơi có mật độ
dân số thuộc hạng cao nhất thế giới) bị một nạn đói
khủng khiếp. Năm 19 tuổi, ông bị ung thư vòm miệng, và đã
điều trị bằng xạ trị (rất thô sơ lúc ấy ở Ấn Độ) vô
cùng đau đớn. (Hậu quả giai đoạn xạ trị này vẫn còn
đến ngày nay: xương Sen bị dễ gãy, răng cỏ của ông đều
hư). Như Sen kể lại sau này, chính sự đau đớn ấy đã cho
ông mối đồng cảm sâu xa với những người cùng khổ. Ung thư
làm ông cảm thấy bị ô nhiểm, loại ra ngoài xã hội, bất
lực. Trước khi bị bệnh, những gì ông chứng kiến chung quanh
đã làm ông kinh hoàng, nhưng dù sao vẫn là xảy ra cho "kẻ
khác". Chính ung thư của ông đã khiến Sen đồng cảm trọn
đời với những người thấp cổ bé miệng, bị thiếu thốn,
bệnh tật, đớn đau.
Nhưng cũng nhờ vượt qua được cơn bệnh hiểm nghèo ấy mà
Sen đặt cho mình những mục tiêu mới. Trở lại trường, ông
là một sinh viên ưu tú hàng đầu, đoạt tất cả mọi giải
thưởng cao quý nhất, và được học bổng sang đại học
Cambridge danh giá tột bực nước Anh.
<center>*</center>
Những năm đầu trong sự nghiệp, vào thập kỷ 1960, Sen chuyên
về kinh tế học phát triển và có nhiều đóng góp đáng kể
vào tiến trình công nghiệp hoá của Ấn Độ. Quyển sách
đầu tay của Sen (Sự chọn lựa kỹ thuật, 1960) chỉ trích
thể chế kế hoạch của Ấn Độ lúc ấy. Ông nhấn mạnh
rằng có những định luật kinh tế bất biến mà mọi quốc gia
đều phải tuân theo. Không kế hoạch nào, dù khôn khéo đến
đâu, có thể đi ngược những định luật ấy.
Nhưng sau đó thì Sen bắt đầu suy nghĩ về những vấn để căn
bản hơn. Khi tìm hiểu về nạn đói ở Bengal (mà số người
chết có thể đến 4 triệu), ông khám phá một điều bất
ngờ: Nạn đói ấy không phải vì mùa màng thất bát như vẫn
tưởng nhưng vì chế độ chuyên chế lúc ấy! Đúng là người
ta chết vì không có thực phẩm, nhưng họ không có thực phẩm
chẳng phải vì cả nước không đủ thực phẩm cho mọi
người, nhưng vì họ thất nghiệp, không có tiền mua (thêm vào
đó là tình trạng lạm phát). Điều hệ trọng nhất là họ
không có cách gì kêu ca được vì không ai đại diện cho họ,
mà báo chí cũng thiếu tự do, do đó nhà nước không bị một
áp lực nào để lo cho những người cùng khổ, thấp cổ bé
miệng, ấy. Để kiểm chứng giả thuyết của mình, Sen tìm
hiểu nguyên nhân nạn đói ở những nước khác, nhất là ở
châu Phi, thì hầu hết cũng là vì xã hội thiếu dân chủ:
thực phẩm không thiếu cho toàn xã hội, nhưng chính sự phân
bố bất bình đẳng đã khiến hàng triệu người chết đói.
Sen là một trong những kinh tế gia tiên phong chỉ trích quan
niệm phổ thông là có thể dùng GDP đầu người để đo
lường phúc lợi xã hội. Sen viện dẫn những lý luận triết
học từ Aristotle cỗ xưa, qua Hayek, và Rawls hiện đại để
khẳng định rằng thước đo của một "xã hội tốt" là
tự do, chứ không phải là sự thịnh vượng vật chất. Chính
xác hơn, sự phồn vinh vật chất chỉ là điều đáng mong muốn
như một phương tiện thực hiện tự do cho con người (căn bản
nhất là tự do khỏi đói khát, bệnh tật). Sen khẳng định:
tự do vừa là mục tiêu tối hậu, vừa là thành tố để phát
triển kinh tế. Theo ông, những mục tiêu mà các nhà kinh tế
thường cho là tối hậu: tăng trưởng kinh tế, tiến bộ công
nghệ, ngay cả hiện đại hoá, phải được đánh giá bởi mức
độ đóng góp của chúng vào tự do của con người.
<center>*</center>
Từ đầu thập niên 1970, Sen quay sang một hướng nghiên cứu
mới, về lý thuyết phúc lợi xã hội, một ngành trong kinh tế
học cực kỳ trừu tượng và lý thuyết. Chính trong lĩnh vực
này mà Sen để lại dấu ấn khó phai.
Đặc điểm của lý thuyết tổng quát về phúc lợi xã hội
của Sen là sự kết hợp quan tâm truyền thống của kinh tế
học đối với mức sống vật chất và quan tâm truyền thống
của triết học đối với tự do cá nhân và sự công bằng.
Nên nhắc lại rằng vào hai thập kỷ 1930-1940, những người
theo chủ nghĩa tự do (libertarian) ở phương Tây thường quan
ngại rằng phương Tây sẽ bỏ những cam kết theo đuổi chủ
nghĩa tự do chính trị để theo đuổi an toàn kinh tế. Kế
thừa truyền thống này, Sen lo ngại rằng, ở thế hệ tiếp
theo, Ấn Độ và các nước đang phát triển đã hi sinh dân chủ
để có được tăng trưởng kinh tế. Từ những nhận xét ấy,
Sen đặt ra câu hỏi thật căn bản: Làm thế nào để giải
quyết những xung khắc giữa những hành động xã hội (social
action), chẳng hạn như để phát triển kinh tế, và giá trị cá
nhân (individual rights) mà những người theo chủ nghĩa tự do cho
là độc tôn.
Sen nêu ra ba câu hỏi. Thứ nhất, chọn lựa của một xã hội
có phản ảnh sự chọn lựa của những cá nhân trong xã hội
ấy không? Thứ hai, quyền tự do cá nhân có thể dung hoà với
phúc lợi kinh tế không? Và thứ ba, lấy gì để làm thước đo
mức độ công bằng của một xã hội? Đây là những câu hỏi
cực kỳ "hóc búa" chứ không dễ như nhiều người tưởng,
nhất là khi lời giải đáp phải thoả mãn một số định đề
logic tối thiểu.
Vào đầu những năm 1960, khi Sen đi tìm giải đáp cho những câu
hỏi ấy thì có hai luồng tư tưởng, dù khác nhau nhưng đều
cho rằng sự xung khắc ấy không thể dung hoà được. Một
trường phái, mà lãnh tụ là nhà kinh tế Friedrich Hayek, thì cho
rằng không thể tin vào nhà nước, vì nhà nước sẽ bị một
nhóm chuyên viên khuynh đảo, áp đặt ý muốn của họ lên ý
muốn của những cá nhân khác trong xã hội. Bằng cách thay
thế ý muốn của cá nhân bằng ý muốn của xã hội (như xác
định bởi những chuyên viên này), nhà nước tước đoạt sự
tự do cá nhân.
Luồng tư tưởng thứ hai đến từ một nguồn khá bất ngờ,
qua tác phẩm cực kỳ thời thượng của nhà kinh tế Kenneth
Arrow (cuốn "Chọn lựa xã hội và giá trị cá nhân", 1963).
Dùng những mệnh đề logic chặt chẽ, Arrow chứng minh ("định
luật Arrow") rằng không thể có một hệ thống bỏ phiếu nào
có thể đưa đến một chọn lựa dân chủ. Viện dẫn
"định luật Arrow", nhiều người đã cho rằng đó là một
lý do của chế độ độc tài.
Vì lôgic của Arrow không thể kiểm chứng bằng thực nghiệm,
Sen phản biện Arrow trên chính sân chơi của Arrow: hoàn toàn
trên phạm trù lôgic. Sen vạch ra rằng một trong những tiền
đề của Arrow – rằng không thể so sánh phúc lợi của người
này với người kia – là thiếu căn bản và không cần thiết,
và nếu loại bỏ tiền đề này thì "định luật không
thể" của Arrow trở thành "có thể", nghĩa là qua bỏ
phiếu, có thể tổng hợp những giá trị cá nhân thành một
quyết định duy nhất của cộng dồng. Nói khác đi, có cách
bỏ phiếu để đưa đến những quyết định được sự đồng
thuận của toàn xã hội. Khám phá này của Sen đã mở đường
cho những nhà kinh tế lý thuyết tìm kiếm những cách để
thẩm định phúc lợi của con người tương thích với quyết
định cộng đồng. Một trong những ứng dụng của nó là tìm
cách đo lường sự nghèo khổ của con người trong xã hội.
Chính nhờ Sen mà các nhà kinh tế trở nên dè dặt hơn khi đánh
đồng phúc lợi với GDP. Theo Sen, GDP không phản ảnh "cơ
hội" kinh tế của con người, và chính số lượng cơ hội
đó là đóng góp rất nhiều vào hạnh phúc của cá nhân, không
kém gì số lượng của cải vật chất hiện có.
Nhiều học giả (như Eric Maskin, Nobel 2007) cho rằng tự do cá
nhân và phúc lợi đôi khi xung khắc: muốn thêm cái này thì
phải bớt cái kia. Sen bác bỏ ý kiến này. Theo ông, tự do là
một cách để bảo vệ phúc lợi. Quyền được đọc bất cứ
gì mà anh muốn (thay vì bị người khác bảo anh phải đọc cái
gì), chẳng hạn, thường nâng cao thu nhập.
Chỉ trích chủ nghĩa vị lợi (utilitarianism) Sen lập luận rằng
không thể lấy (tốc độ) tăng trưởng kinh tế để thẩm
định lợi ích bởi nó không cho thấy những người thật sự
thiếu thốn đang sung sướng hoặc khổ sở ra sao. Và cách đo
dụng ích (utility) căn cứ trên sư ưa chuộng hiện tại của
mỗi cá nhân cũng có thể đưa đến nhiều sai lầm vì người
ta hay thích ứng nguyện vọng của mình tùy vào hoàn cảnh hiện
có (chẳng hạn như một người nghèo có những ưa chuộng khác
người giàu vì họ biết họ nghèo...)
Tuy coi trọng vấn đề dân chủ và tự do, Sen cũng nhìn nhận
rằng phát triển kinh tế là một đòi hỏi cấp bách (và ông
buồn rầu nhìn nhận rằng Ấn Độ đã thua kém Trung Quốc về
mặt này). Cụ thể, vì coi trọng cả phát triển và dân chủ,
Sen (và những nhà kinh tế tâm đắc với ông) tìm cách làm sao
để phát triển mà không hi sinh dân chủ (như đang xảy ra ở
nhiều nước). Sen cho rằng sự đánh đổi ấy (muốn thêm cái
này thì phải bớt cái kia) là không thể chấp nhận được,
bởi lẽ, theo ông, cả hai đều có giá trị tự tại.
<center>*</center>
Trong nhiều thập kỷ, tiếp cận của Sen đã bị chỉ trích
bởi phe tả lẫn phe hữu. Vào những năm 1950, 1960, khi mà kế
hoạch hoá kiểu Liên Xô là thời thượng trong giới kinh tế
cánh tả thì Sen bị xem là người "phản đạo" . Nhưng sang
những năm 1980, 1990 khi mà chủ nghĩa thị trường tự do (của
phe hữu) lên ngôi thì chính chủ khảo giải Nobel đã tiên
đoán: "Sen sẽ không bao giờ được Nobel". Sen nhận Nobel
năm 1998.
Chứng kiến sự sụp đổ của chính sách kế hoạch hoá kiểu
Xô Viết cũ, Sen không còn tin là phát triển kinh tế cần đến
ngoại viện, hoặc cần bảo hộ thương mại. Ông tin nhiều hơn
vào vai trò của nội lực trong phát triển. Ông cổ vũ mở cửa
cho thương mại và đầu tư nước ngoài, nhưng đồng thời nhà
nước cũng phải trợ giúp thành phần có thu nhập thấp, nhất
là về giáo dục, y tế và dinh dưỡng.
Trong quyển sách mới đây nhất của Sen (Ý niệm công lý, 2009),
ông suy nghĩ thấu đáo về những khó khăn trong định nghĩa
của "công lý" (theo Rawls, chẳng hạn, thì "công lý là công
bằng"), và ông đưa ra định nghĩa của ông. Bàng bạc trong
những lý luận lôgic của Sen là một tấm lòng luôn hướng về
những người bần cùng, cô thế... Cũng như lúc trước ông
đã dùng chính lôgic của Arrow để bác bỏ "định lý Arrow",
trong cuốn sách mới ra này Sen dùng chính tiếp cận triết học
của Rawls để vạch ra những hạn chế của quan niệm về công
lý mà Rawls khẳng định.
Ở Sen, ta thấy một trí thức (và Sen là một trí thức trong
nghĩa tốt đẹp và chính xác nhất của danh hiệu này) mà cuộc
sống luôn hướng về hạnh phúc và khổ đau của đồng loại,
ông rất gần gũi với những âu lo căn bản nhất của con
người (có gì căn bản hơn nhu cầu cơm ăn, áo mặc?), và ông
tiếp cận vấn đề với cường độ trí thức cực kỳ trung
thực và siêu việt. Sen là một "trí thức công" (public
intellectual) đúng nghĩa, với những suy nghĩ cặn kẽ về nhiều
vấn đề, ở nhiều lãnh vực – từ kinh tế, xã hội, triết
học, đến những tranh chấp chủng tộc, hạt nhân.
Nhiều người cho rằng Sen không phải là một nhà kinh tế
"thường", theo nghĩa là ông không tham gia vào những tranh
luận về chính sách kinh tế, thậm chí khó nói là ông thuộc
trường phái "tiền tệ" hoặc môn đồ của Keynes (tôi đoán
là Keynes). Nhiều người khác chỉ trích Sen là ông ôm đồm
quá nhiều: từ nạn đói đến nạn phụ nữ chết sớm, đến
vấn đề đã đa văn hoá và sự lan tràn vũ khí hạt nhân.
Những chỉ trích này cũng có phần đúng. Nhưng kinh tế học
cần những người như Amartya Sen. Dù, hiển nhiên, ông không
phải là nhà kinh tế duy nhất quan tâm đến số phận những
người nghèo, cô thế... nhưng ông hơn hẵn những người khác
ở chiều sâu suy nghĩ.
Robert Solow, một "trưởng lão" trong làng kinh tế đương
đại (và cũng đã được Nobel) đã gọi Amartya Sen là "lương
tâm của kinh tế". Đó không chỉ là vinh dự cho Sen nhưng có
lẽ, hơn nữa, là vinh dự cho mọi nhà kinh tế.
Trần Hữu Dũng
17/12/2011
Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn,
Số Tết Dương Lịch 2012
Bản trên báo:
http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/sotay/68682/Amartya-Sen--Luong-tam-cua-kinh-te.html
Nếu thích bài này, mời các bạn đọc thêm: "<a
href="http://viet-studies.info/THDung/THDung_DocAmartyaSen.htm">Văn minh,
nhân thân, và bạo lực – Đọc Amartya Sen</a>" (2006) cũng của
Trần Hữu Dũng.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/11154), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét