Đôi điều về Dân Luận

Dân Luận theo đuổi một nền báo chí công dân, nơi mỗi độc giả chính là một nhà báo.

Mục tiêu của Dân Luận là cung cấp cái nhìn đa chiều về các vấn đề kinh tế - xã hội - văn hóa của Việt Nam và thế giới, với mong mỏi độc giả sẽ tự xây dựng cho mình phương pháp tư duy độc lập và khoa học.

Trang blog này là cầu nối giữa Dân Luận với độc giả trong nước, trong trường hợp bạn không truy cập được vào địa chỉ chính thức www.danluan.org.

Chúng tôi được biết Dân Luận đã bắt đầu bị chặn bởi tường lửa ở Việt Nam. Vì thế, xin mời bạn tham khảo cách vượt tường lửa để tiếp tục truy cập Dân Luận. Trong trường hợp gặp trục trặc, bạn có thể liên lạc với tqvn2004 tại huannc@gmail.com được hướng dẫn cụ thể.
(c) Dân Luận 2009. Cung cấp bởi Blogger.

Tổng số lần đọc

Google+ Followers

Nhật Ký Yêu Nước kêu gọi tuần hành ôn hòa phản đối
trước Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội và Tổng lãnh sự
quán Trung Quốc tại TP.HCM

<strong>Thời gian:</strong> Bắt đầu lúc 8h sáng, Chủ Nhật
5/6/2011

Thưa các bạn!

Trung Quốc đã trưng ra bản đồ 12 đoạn "lưỡi bò" tuyên
bố 80% diện tích biển ĐÔNG là của họ trong đó ôm trọn cả
2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa CỦA VIỆT NAM!

Không dừng lại ở tuyên bố chủ quyền bất chấp luật pháp
và căn cứ lịch sử ấy, Trung Quốc ngang nhiên bắt ngư dân,
tịch thu tàu, ngư cụ và cấm dân ta đánh bắt cá tại ngư
trường truyền thống mà ta đã gắn bó hàng nghìn đời nay!

Mới đây, Trung Quốc đã huy động 3 tàu hải giám tấn công
tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam ta, điều đáng nói tàu Trung
Quốc đã vào sâu trong lãnh hải của Việt Nam, ngang ngược
tấn công tàu Việt Nam ngay trong vùng đặc quyền kinh tế chứ
không phải vùng biển đang tranh chấp chủ quyền, mặt khác,
họ trơ tráo gọi đây là hành động "bình thường".

Xét thấy những hành động gây hấn từ phía Trung Quốc không
hề hiếm hoi mà gần đây ĐANG NGÀY CÀNG GIA TĂNG không những
đối với Việt Nam mà còn đe dọa cả những nước trong khu
vực đang tranh chấp, trong đó có Philippines.

Căn cứ lời gợi ý của Thiếu tướng, lão thành cách mạng,
cựu đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Trung Quốc,
một lão tướng có thâm làm việc ngoại giao với Trung Quốc,
ông cho rằng chính quyền nên tạo điều kiện để dân chúng
bày tỏ lòng yêu nước của mình trong đó có cả những cuộc
biểu tình, lên tiếng phản đối công khai. Đó cũng là ý kiến
của Luật gia Lê Hiếu Đằng, nguyên phó chủ tịch UB Mặt
trận TQ TP.HCM. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện – cán bộ của Viện
Hán-Nôm đã phát lời đề nghị các tổ chức đoàn thể tại
Việt Nam huy động một cuộc tuần hành tương tự nhưng tới
nay vẫn chưa có tổ chức, đoàn thể nào tại Việt Nam lên
tiếng ủng hộ.

Căn cứ vào điều 69 Hiến Pháp năm 1992 của Việt Nam có quy
định về quyền được biểu tình của người dân.

Căn cứ vào cuộc thăm dò mới đây của NHẬT KÝ YÊU NƯỚC
với gần 400 người, trong đó có gần 300 người đa số là
thanh niên, giới trẻ, cho biết họ sẵn sàng tham gia một cuộc
tuần hành ông hòa, với mục đích thể hiện lòng yêu nước,
quyết tâm bảo vệ lãnh thổ, mong muốn hô to khẩu hiệu phản
đối hành động bá quyền, ngang ngược của Trung Quốc.

<strong>TỪ ĐÓ…</strong>

NHẬT KÝ YÊU NƯỚC cho rằng, một cuộc tuần hành như vậy có
thể sẽ không làm cho TRUNG QUỐC dừng tay THẾ NHƯNG đó là
một cơ hội huy động sự chú ý của QUỐC TẾ, huy động sự
chú ý của toàn dân tộc VIỆT NAM bất kể đảng phái, chính
kiến, tôn giáo, trong hay ngoài nước…hễ ai mang dòng máu VIỆT
NAM đều gánh trên vai trách nhiệm với TỔ QUỐC khi TỔ QUỐC
đang lâm nguy!!!

Chúng ta nhớ rằng năm 2007, một cuộc biểu tình chưa từng có
tiền lệ đã diễn ra bởi những thanh niên trẻ yêu nước, họ
đã tập trung phản đối trước đại sứ quán Trung Quốc ở
cả thủ đô lẫn TP.HCM.

VẬY NÊN, NHẬT KÝ YÊU NƯỚC KÊU GỌI TUẦN HÀNH ÔN HÒA PHẢN
ĐỐI TRƯỚC ĐẠI SỨ QUÁN TRUNG QUỐC TẠI HÀ NỘI VA LÃNH SỰ
QUÁN TRUNG QUỐC TẠI THÀNH PHỐHỒ CHÍ MINH vào ngày 5/6/2011

Cuộc tuần hành này KHÔNG CÓ người chỉ huy, cầm đầu mà
tất cả những ai cảm thấy bất bình, muốn bày tỏ lòng yêu
nước đều có thể tham gia và vận động người thân, bạn bè
tham gia!

Đây là một CUỘC TUẦN HÀNH ÔN HÒA, HOÀN TOÀN BẤT BẠO
ĐỘNG! Hoàn toàn hợp với HIẾN PHÁP VIỆT NAM.

Để đảm bảo điều đó, NKYN trân trọng để nghị những
người tham gia thực hiện NGHIÊM TÚC những lưu điểm sau:

<strong>1. Cuộc tuần hành diễn ra vào:</strong>

8h sáng ngày 5/6/2011 tại cả hai địa điểm:

<span class="underlined-text">Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà
Nội:</span> 46 Phố Hoàng Diệu, Quận Ba Đình

<span class="underlined-text">Lãnh sự quán Trung Quốc tại
TP.HCM:</span> 39 Đường Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 1.

2. KHÔNG MANG bất kỳ vật nhọn, hung khí, chất có thể gây
cháy, nổ, nào trong người để tránh bị hiểu nhầm là thành
phần xấu.

3. KHÔNG MANG bất kỳ biểu ngữ nào khác ngoài những biểu ngữ
có nội dung "phản đối Trung Quốc". Những khẩu hiệu NKYN
gợi ý gồm: "PHẢN ĐỐI TRUNG QUỐC GÂY HẤN", "TRƯỜNG SA,
HOÀNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM", "TRUNG QUỐC PHẢI CHẤM DỨT GÂY
HẤN", "TRUNG QUỐC PHẢI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CHO VIỆT
NAM", "TRẢ LẠI TRƯỜNG SA, HOÀNG SA", "PHẢN ĐỐI ĐƯỜNG
LƯỠI BÒ PHI PHÁP"…V..V.. Các biểu ngữ này có thể viết
bằng tiếng Việt hoặc tiếng Trung, có thể viết tay trên giấy
khổ lớn hoặc in vi tính. Nên là những màu sắc dễ đọc, gây
chú ý.

4. KHÔNG ĐƯỢC đốt cờ, chống trả lực lượng công an giữ
trật tự, hay có những hành động quá khích…

5. KHUYẾN KHÍCH cầm mang theo cờ Việt Nam, áo in màu cờ Việt
Nam, ảnh Hồ Chí Minh v.v...

CHÚNG TÔI KÊU GỌI CÁC BẠN, NHỮNG AI QUAN TÂM VÀ BẤT MÃN
TRƯỚC NHỮNG HÀNH ĐỘNG GÂY HẤN, NGANG NGƯỢC CỦA TRUNG QUỐC
TRONG THỜI GIAN QUA THAM GIA CUỘC TUẦN HÀNH NGÀY 5/6/2011. CÁC BẠN
CÓ THỂ SÚP SỨC CHO CUỘC TUẦN HÀNH DIỄN RA BẰNG CÁCH GIÚP
CHÚNG TÔI CHUYỀN VĂN BẢN NÀY TỚI BẠN BÈ, NGƯỜI THÂN QUA
NHỮNG PHƯƠNG TIỆN THÔNG TIN NHƯ TIN NHẮN SMS, BLOG, FACEBOOK,
TWITTER,…V..V… HÃY ĐỪNG SỢ SỆT VÌ CÁC BẠN ĐANG ĐỨNG VỀ
PHÍA CHÍNH NGHĨA, VỀ PHÍA TỔ QUỐC!!! VÀ CHÚNG TA KHÔNG THỂ
ĐỢI LÂU HƠN NỮA ĐỂ CẤT LÊN TIẾNG NÓI!!!

"Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng
nhau giữ lấy nước" - Hồ Chí Minh.

CHÚC TẤT CẢ CHÚNG TA SỨC KHỎE VÀ CHÚC CUỘC TUẦN HÀNH THÀNH
CÔNG TỐT ĐẸP!

VIỆT NAM MUÔN NĂM !!!

Nguồn: Nhật Ký Yêu Nước
http://www.facebook.com/nhatkyyeunuoc1

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/8954), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

<img
src="http://media.voanews.com/images/480*275/reuters-china-surveillance-ship.jpg"
/>
<center><em>Tàu hải giám Trung Quốc ở ngoài khơi tỉnh Phú Yên
hôm 26/5/2011 (Hình: Reuters)</em></center>

Ngày 26 tháng 5, 2011, <a
href="http://www.vietnamplus.vn/Home/Tau-hai-giam-Trung-Quoc-vi-pham-vung-bien-VN/20115/91358.vnplus">Trung
Quốc đưa tàu chiến</a> (dưới danh nghĩa tàu hải giám -
surveillance) xâm nhập vào vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh
tế (và thềm lục địa) của Việt Nam, đe dọa tàu thăm dò
địa chấn Bình Minh 02 của Petro Việt Nam và sử dụng thiết
bị cắt cáp thăm dò của tàu này. Khi đó, tàu Bình Minh 02 đang
hoạt động cách mũi Đại Lãnh, tỉnh Phú Yên khoảng 120 hải
lý.
Ngay lập tức tin này trở thành tin nóng, không chỉ trên <a
href="http://www.phapluatvn.vn/chinhtrixahoi/201105/Tau-hai-giam-Trung-Quoc-vi-pham-lanh-hai-Viet-Nam-2053062/">các
phương tiện thông tin đại chúng của Việt Nam</a> mà còn của
nước ngoài (<a
href="http://www.businessweek.com/news/2011-05-27/s-china-sea-oil-rush-risks-clashes-as-u-s-bolsters-vietnam.html">Bloomberg</a>,
<a
href="http://www.bangkokpost.com/news/asia/239394/hanoi-beijing-in-new-south-china-sea-spat-report">Bangkok
Post</a>, và nhiều báo khác). Chủ đề này cũng trở thành
điểm nóng trên tất cả các diễn đàn của người Việt trong
và ngoài nước.

<h2>Xâm phạm thế nào?</h2>

Với biên giới trên bộ thì vấn đề chủ quyền lãnh thổ
hết sức rõ ràng. Vì thế việc xâm phạm (hay xâm lược) của
một lực lượng quân đội nước ngoài vào lãnh thổ của một
quốc gia có chủ quyền được coi là chuyện đặc biệt nghiêm
trọng và có thể dẫn tới chiến tranh (cục bộ hoặc toàn
diện). Biên giới trên biển phức tạp hơn nhiều vì, ngoài
nhiều lý do khác, biển là nơi con người không sinh sống
được, vì thế cho đến một vài thế kỷ gần đây, vấn đề
biên giới và chủ quyền quốc gia trên biển không được đặt
ra.

<div class="boxright220"><img
src="http://media.voanews.com/images/230*432/reuters-vietnam-destroyed-cable.jpg"
/><div class="textholder">Hình ảnh do Petro Việt Nam công bố hôm
29/5/2011 cho thấy cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 bị phá hủy
ở ngoài khơi tỉnh Phú Yên hôm 26/5/2011 (Reuters)</div></div>
Từ khi vấn đề chủ quyền trên biển được quan tâm đến
thì nảy sinh ra vấn đề xác định nó như thế nào? Nếu các
quốc gia có thể tùy tiện tự xác định (claim) chủ quyền thì
Lào hay Nepal cũng có thể "claim" toàn bộ Thái Bình Dương.
Vì việc tùy tiện "claim" như thế là khá ngu xuẩn và chỉ
dẫn tới xung đột, thế giới đã cố gắng đạt đến một
thỏa thuận chung. <a
href="http://www.un.org/Depts/los/convention_agreements/texts/unclos/UNCLOS-TOC.htm">Công
ước quốc tế về luật biển</a> (UNCLOS, <a
href="http://www.mediafire.com/?z4jjwrd3diz">bản dịch tiếng Việt ở
đây</a>) là một trong những thỏa thuận như thế (có một số
quốc gia không đồng ý với UNCLOS và họ không ký).

Theo UNCLOS, chủ quyền trên biển được chia thành nhiều mức
độ dựa trên khoảng cách tiến ra biển từ đường cơ sở
(baseline). Đường cơ sở được hiểu nôm na là đường nối
các điểm giáp ranh với biển của lãnh thổ một quốc gia.
Tính từ đường cơ sở này tiến ra biển có một loạt khái
niệm chủ quyền với mức độ khác nhau:

<em>Nội thủy (internal waters)</em>: các vùng nước nằm phía trong
<em>đường cơ sở</em>. Chủ quyền của quốc gia đối với
nội thủy là toàn vẹn giống như trên đất liền. Tàu bè
nước ngoài không được đi qua nếu không được phép.

<em>Vùng lãnh hải (territorial waters)</em>: trong vòng 12 hải lý
tính từ đường cơ sở. Quốc gia có thể tùy ý áp dụng luật
pháp riêng, quyết định việc sử dụng và khai thác tài nguyên
trên vùng lãnh hải. Tuy nhiên, tàu bè nước ngoài được quyền
đi qua không gây hại (innocent passage).

<em>Vùng tiếp giáp lãnh hải (contiguous zone)</em>: Bên ngoài giới
hạn 12 hải lý của lãnh hải là một vành đai có bề rộng 12
hải lý, đó là vùng tiếp giáp lãnh hải. Tại đây, nước
chủ nhà có thể vẫn thực thi luật pháp của mình đối với
các hoạt động như thuế quan, nhập cư, thuế, và kiểm soát ô
nhiễm.

<em>Vùng đặc quyền kinh tế (exclusive economic zone hay EEZ)</em>:
được xác định trong vòng 200 hải lý tính từ đường cơ
sở. Quốc gia chủ nhà có độc quyền về khai thác tài nguyên
thiên nhiên (cá, dầu lửa, khí đốt…). Tuân theo sự kiểm
soát của nước chủ nhà, nước ngoài có quyền tự do đi lại
(trên biển, dưới lòng biển, và trên không). Nước ngoài cũng
có thể đặt các đường ống ngầm và cáp ngầm.

<em>Thềm lục địa (continental shelf)</em>: phần kéo dài của
lãnh thổ trên bộ cho tới mép lục địa (continental margin), ít
nhất 200 hải lý tính từ đường cơ sở nhưng không quá 350
hải lý và không được vượt ra ngoài đường đẳng sâu 2500m
(2500 meter isobath) một khoảng cách quá 100 hải lý. Tại phần
thềm lục địa ngoài EEZ, nước chủ có độc quyền khai thác
khoáng sản và các nguyên liệu không phải sinh vật sống.

Trong trường hợp các quốc gia có các Vùng lãnh hải, Vùng
tiếp giáp lãnh hải, Vùng đặc quyền kinh tế, hoặc Thềm lục
địa chồng lấn lên nhau thì UNCLOS cũng đưa ra các nguyên tắc
để phân định công bằng.

<div class="boxright220"><img
src="http://media.voanews.com/images/300*300/reuters-vietnam-binh-minh-02.jpg"
/><div class="textholder">Tàu thăm dò địa chấn Bình Minh 02 của
Petro Việt Nam ngoài khơi tỉnh Phú Yên hôm 26/5/2011
(Reuters)</div></div>
Trường hợp đe dọa tàu Bình Minh 02 của Việt Nam do quân đội
Trung Quốc thực hiện hôm 26 tháng 5 vừa rồi xảy ra trong vùng
thuộc Vùng đặc quyền kinh tế và trên Thềm lục địa của
Việt Nam. Vùng này cũng không thuộc vùng chồng lấn với bất
cứ Vùng đặc quyền kinh tế hay Thềm lục địa nào của Trung
Quốc.

Theo ngôn ngữ của UNCLOS, Trung Quốc có quyền qua lại trên vùng
biển này, nhưng không có quyền khai thác tài nguyên và không có
quyền can thiệp vào việc khai thác tài nguyên của Việt Nam. Vì
cả Trung Quốc và Việt Nam đều ký UNCLOS, hành vi này thực
chất là vi phạm luật pháp quốc tế mà cả hai nước đều
công nhận.

(còn tiếp)

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/8955), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

<div class="boxright300"><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub01/nguoi-nhat-chao-nhau.jpg" width="300"
height="300" alt="nguoi-nhat-chao-nhau.jpg" /><div class="textholder">Hai
người Nhật chào nhau</div></div>
Trước đây do công việc tôi có dịp đi Nhật nhiều lần cũng
như đi nhiều nước khác trên thế giới. Nước Nhật không
phải là nước mà tôi thích đến nhất (có thể vì đắt đỏ
quá) nhưng đó là đất nước mà tôi nể phục nhất – không
chỉ phục ở những thành tựu của sự văn minh, những công
trình kiến trúc tuyệt mỹ mà còn ở yếu tố con người.

Kể từ đó tôi luôn tò mò tìm hiểu thêm về lịch sử và văn
hóa của các con cháu Thái Dương Thần Nữ.

Càng biết thêm về họ tôi càng phục họ hơn. Đó là một dân
tộc có nhiều điểm rất đặc biệt. Một dân tộc luôn tự
hào về những giá trị truyền thống nhưng khi cần cũng sẵn
sàng dứt bỏ những gì đã lỗi thời. Một dân tộc mang niềm
kiêu hãnh lớn lao nhưng đồng thời cũng luôn biết học hỏi
cái hay của người khác. Một dân tộc đã từng đánh bại các
đế quốc Mông Cổ, Trung Hoa và Nga Sô nhưng cũng biết nuốt
cái nhục bại trận để vươn lên thành một cường quốc kinh
tế. Một dân tộc ít khi ồn ào lớn tiếng, và luôn xem trọng
sự ngăn nắp sạch sẽ. Nhưng đặc biệt hơn cả – đó là
một dân tộc chưa bao giờ biết đầu hàng trước nghịch
cảnh.

Tôi nhớ trước đây có đọc một bài viết của một người
Việt sống lâu năm tại Nhật, quên mất tên tác giả, trong đó
ông có nêu ra một chi tiết để phân biệt giữa người Nhật
bản địa và người ngoại quốc sống ở Nhật – đó là nhìn
qua cách phơi quần áo. Người ngoại quốc phơi lung tung, còn
người Nhật phơi theo thứ tự, quần theo quần, áo theo áo….
Đúng như nhà văn Haruki Murakami đã nhận định: "<em>Người
Nhật là kho tàng của nước Nhật</em>". Tôi rất cám ơn đất
nước này vì chính người Nhật đã cho tôi một niềm tin rằng
bất cứ một đất nước nào, dù nhỏ, dù bị bất lợi về
địa lý, tài nguyên… nhưng nếu dân tộc đó có một nhân sinh
quan đúng đắn thì vẫn có thể trở thành một dân tộc giàu
mạnh.

<center>* * *</center>

Thiên tai động đất và sóng thần xảy ra ở Nhật cách đây 2
tháng, mặc dầu những tin tức liên quan đến biến cố này
không còn được nhắc đến nữa, nhưng đối với những
người Việt Nam còn quan tâm đến đất nước thì những dư âm
của nó vẫn còn để lại nhiều vương vấn suy tư. Cùng là hai
nước nhỏ ở Á Châu nhưng định mệnh nào đã đưa đẩy hai
dân tộc khác biệt nhau quá xa. Một dân tộc mà mỗi khi nhắc
tới, từ Đông sang Tây, đều phải ngã mũ bái phục, còn dân
tộc kia thì ít khi được nhắc đến, hay nếu có thì thường
là những điều không lấy gì làm vinh dự cho lắm.
Sau biến cố này đã có hàng ngàn ý kiến xuất hiện trên các
diễn đàn Internet đặt câu hỏi: "<em>Tại sao lại có sự
khác biệt quá lớn giữa người Việt và người Nhật</em>",
phần lớn những ý kiến này xuất phát từ những người trẻ
đang sống ở Việt Nam. Đó là một tín hiệu đáng mừng cho
thấy có nhiều người Việt Nam đang thao thức muốn thay đổi
số phận của đất nước mình.

Đây là một đề tài rất lớn và đòi hỏi sự suy nghĩ,
nghiên cứu nghiêm túc của nhiều người nhất là những nhà
trí thức. Bài viết này để chia sẻ câu hỏi đó và chỉ nên
xem như những lời góp ý rất khiêm tốn.
Sự chênh lệch giữa Việt Nam và Nhật Bản không phải chỉ
xảy ra bây giờ, từ đầu thế kỷ 20 Nhật đã vượt ta rất
xa. Trong cuốn "Niên Biểu" cụ Phan bội Châu đã kể lại
kinh nghiệm của mình sau hai lần đến nước Nhật để tìm
đường cứu nước (lần đầu tiên vào năm 1905). Những điều
tai nghe mắt thấy tại đây khiến cụ rất phục tinh thần của
dân tộc Nhật Bản. Người phu xe, thuộc giai cấp lao động
bình dân, chở cụ đi tìm một sinh viên người Trung Hoa, mất
nhiều thời gian công sức mà cuối cùng vẫn nhận đúng 52 xu:
"<em>Than ôi! trình độ trí thức dân nước ta xem với tên phu
xe Nhật Bản chẳng dám chết thẹn lắm sao!</em>".

Nước Nhật nằm ở vị trí đầu sóng ngọn gió, chịu liên
tục những thiên tai trong suốt chiều dài lịch sử và họ
chấp nhận định mệnh đó với lòng can đảm. Thiên tai vừa
rồi rất nhỏ so với trận động đất tại Tokyo vào năm 1923
và hai quả bom nguyên tử vào cuối Đệ Nhị Thế Chiến. Nhờ
phương tiện truyền thông quá văn minh cho nên cả thế giới
vừa rồi có cơ hội nhìn thấy rõ hơn "tinh thần Nhật
Bản" trong cơn nguy biến.

Trận động đất xảy ra tại Tokyo ngày 1/9/1923 đã làm cho
130,000 người thiệt mạng, Yokohama bị tàn phá hoàn toàn, phân
nửa của Tokyo bị tiêu hủy. Trong quyển "Thảm nạn Nhật
Bản" (Le désastre Japonais) của đại sứ Pháp tại Nhật thời
đó thuật lại: "Từng cá nhân kẻ góp chút gạo, kẻ đem
chiếc xuồng để giúp đỡ nhau như một đại gia đình"chứng
tỏ là họ có một truyền thống tương thân tương ái lâu
đời.

Vào cuối Đệ Nhị Thế Chiến hai quả bom nguyên tử bỏ xuống
Hiroshima và Nagasaki, ngay lập tức làm thiệt mạng khoảng 150,000
người. Những thành phố kỹ nghệ của Nhật cũng bị tàn phá
nặng nề vì những trận mưa bom của phi cơ Đồng Minh. Lần
đầu tiên trong lịch sử người Nhật phải chấp nhận đầu
hàng và là nỗi nhục quá lớn đối với họ như lời của
Nhật Hoàng Hirorito: "<em>Chúng ta phải chịu đựng những
điều không thể chịu đựng nỗi</em>".

Không có hình ảnh nào thê thảm như nước Nhật lúc
đó, kinh tế gần như bị kiệt quệ hoàn toàn. Tuy nhiên Đồng
Minh có thể tiêu diệt nước Nhật nhưng không thể tiêu diệt
được tinh thần của người Nhật, họ đã biến cái nhục thua
trận thành sức mạnh để vươn lên từ đống tro tàn.

Đến năm 1970, chỉ có 25 năm, một nước bại trận
hoang tàn đổ nát trở thành một cường quốc kinh tế đứng
thứ nhì trên thế giới, chỉ thua có Hoa Kỳ. Danh từ "Phép
lạ kinh tế" phát xuất từ hiện tượng này.

Trong 7 năm từ 1945 cho đến 1952, tướng MacArthur, thay mặt Hoa
Kỳ quản trị nước Nhật với tư cách là Chỉ Huy Tối Cao
của Lực Lượng Đồng Minh (Supreme Commander of the Allied Powers)
– vì nể phục và quý mến người Nhật cho nên vị tướng
này muốn biến nước Nhật trở thành một "Nước Mỹ lý
tưởng" hay nước Thụy Sĩ ở Á Châu. Tuy cuối cùng kết quả
không được trọn vẹn như ý muốn của ông vì người Nhật
không thể để mất hồn tính dân tộc. Nhưng nước Nhật
được như ngày nay có công đóng góp rất lớn của tướng
MacArthur.

Trở lại chuyện thiên tai vừa rồi, ngay sau đó có cả ngàn
bài viết ca ngợi tinh thần của người Nhật. Nhiều tờ báo
lớn của Tây Phương đi tít trang mặt: "Người Nhật: Một
Dân Tộc Vĩ Đại". Nhật báo lớn nhất của Mỹ, New York
Times, số ra ngày 20 tháng 3 đăng bài "Những điều người
Nhật có thể dạy chúng ta" của ký giả Nicholas Kriftoff.

Đúng như lời của nhà báo Ngô Nhân Dụng đã viết: "<em>Một
dân tộc, và mỗi con người, khi bị thử thách trong cơn hoạn
nạn, là lúc chứng tỏ mình lớn hay nhỏ, có đáng kính trọng
hay không</em>".

<div class="boxright200"><div class="quotebody"><div class="quoteopen"><img
class="quoleft" src="/misc/quoleft.png"/></div>Một đất nước mà trong
cơn khốn khó, không đổ lỗi cho nhau, từ quan đến dân, trăm
người như một, trên dưới một lòng lo tìm cách đối phó,
thì đất nước đó xứng đáng là một đất nước vĩ
đại.<img class="quoright" src="/misc/quoright.png"/> <br
class="quoteclear"></div></div>
Dùng từ vĩ đại đối với nước Nhật không cường điệu
chút nào, họ vĩ đại thật. Giữa cảnh chết chóc, nhà cửa
tan nát, đói lạnh, tuyệt vọng… vậy mà họ vẫn không để
mất nhân cách, mọi người nối đuôi nhau chờ đợi hàng giờ
để lãnh thức ăn, tuyệt đối không oán trách trời, không
trách chính quyền, không lớn tiếng, không ồn ào, kiên nhẫn
chờ đợi đến phiên mình.

Một đất nước mà trong cơn khốn khó, không đổ lỗi cho nhau,
từ quan đến dân, trăm người như một, trên dưới một lòng
lo tìm cách đối phó, thì đất nước đó xứng đáng là một
đất nước vĩ đại.

Toàn bộ nội các Nhật làm việc gần như 24/24. Các hiệu
trưởng ngủ lại trường cho đến khi học sinh cuối cùng
được di chuyển đi. Các siêu thị hoàn toàn không lợi dụng
tình cảnh này để tăng giá. Tiền rơi ngoài đường từ những
căn nhà đổ nát không ai màng tới thì đừng nói chi đến
chuyện hôi của. Ông Gregory Pflugfelder, giáo sư chuyên nghiên
cứu văn hóa Nhật Bản tại Đại Học Columbia (Mỹ) đã nhận
xét về người Nhật sau thiên tai này như sau: "<em>Hôi của
đơn giản là không xảy ra ở Nhật Bản. Tôi thậm chí còn
không chắn rằng trong ngôn ngữ Nhật Bản có từ ngữ
này.</em>"

Người Nhật là một dân tộc có tinh thần độc lập, tự
trọng và lòng yêu nước rất cao, không chờ đợi ai mở lòng
thương hại, sau những hoang tàn đổ nát, mọi người cùng nhau
bắt tay xây dựng lại.

Mặc dầu chính phủ Hoa Kỳ đề nghị đến giúp dập tắt lò
nguyên tử Fukushima nhưng họ từ chối.

Xa lộ tại thành phố Naka, thuộc tỉnh Ibaraki bị hư hại nặng
do động đất. Chỉ một tuần sau, ngày 17/3 các công nhân cầu
đường Nhật bắt đầu sửa chữa, chỉ 6 ngày sau xa lộ này
đã hoàn tất, ngay cả Hoa Kỳ có lẽ cũng không thể đạt
được kỷ lục này.

Từ Nhật Hoàng Akihito, Thủ Tướng Naoto, cho đến các thường
dân đều tự tin rằng: "Chúng tôi sẽ phục hồi" như họ
đã từng làm trong quá khứ. Cho đến hôm nay (18/5) theo những
tin mà chúng ta đọc được trên Internet thì những nơi bị tàn
phá đang được phục hồi nhanh chóng. Có thể chỉ 2, 3 năm sau
nếu có dịp đến đây chúng ta sẽ thấy cảnh vật hoàn toàn
thay đổi.

Điều đáng chú ý nhất trong thiên tai này đối với người
viết – chính là thái độ của trẻ em. Đến xứ nào, chỉ
cần nhìn qua tuổi trẻ là có thể đoán được tương lai của
xứ đó, bởi vì tuổi trẻ là hy vọng, là tương lai của đất
nước. Không phải chỉ có em học sinh 9 tuổi mất cha mất mẹ,
đang đói khát nhưng vẫn từ chối sự ưu tiên hơn người khác
được cả thế giới biết đến, mà còn có cả ngàn em học
sinh Nhật khác trong hoàn cảnh tương tự vẫn luôn luôn giữ
tinh thần kỹ luật và lễ phép.

Những em nhỏ, có em còn được bồng trên tay, có em ngồi bên
cạnh mẹ trong các nơi tạm cư, mặc dầu đói khát từ mấy
ngày qua nhưng nét mặt của các em vẫm bình thản chờ đợi
thức ăn mang đến. Những em bé này được dạy dỗ từ nhỏ
tinh thần kỷ luật, tự trọng, danh dự và khắc kỷ… không
phải chỉ học ở trường hay qua sách vở mà còn qua những
tấm gương của người lớn trong những hoàn cảnh thực tế và
được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Mai đây nếu có một cuốn sách giới thiệu những nét đẹp
nhất, cao thượng nhất của con người sống trên hành tinh này
thì cuốn sách đó không thể thiếu được những hình ảnh
của người Nhật trong thiên tai vừa qua.

Trông người lại nghĩ đến ta!

Trong bài "Góc ảnh chiếu từ nước Nhật", nhạc sĩ Tuấn
Khanh (ở VN) đã viết một câu thật thấm thía:

"<em>Đôi khi giữa những hoang tàn đó của nước Nhật,
người ta bừng sáng hy vọng và đôi khi sống giữa những
điều được gọi tên là bình yên của đất nước mình, một
người Việt Nam vẫn có thể cảm nhận được những ảnh
chiếu sắc cạnh của sự hoang tàn</em>".

Một số người đặt câu hỏi: Nếu tai họa như nước Nhật
xảy ra tại VN thì chuyện gì sẽ xảy ra? <a
href="http://www.danchimviet.info/archives/30253">Bà Mạc Việt Hồng
đã diễn tả</a> bức tranh đó như thế này:

- Động đất có khi chết 200 nhưng giẫm đạp lên nhau mà
chạy, chết thêm nghìn nữa.

- Các ban ngành sẽ họp bàn cách cứu hộ từ ngày này qua ngày
kia.

- Cướp giật hôi của sẽ phổ biến, hoa người ta còn cướp
giật nói chi tới đồ ăn hay tiền bạc vào lúc hỗn quan hỗn
quân như vậy. Người đi hôi của sẽ nhiều hơn người đi
cứu trợ.

- Nếu có phát khẩu phần ăn sẽ chẳng có hàng lối gì, bà
già trẻ nhỏ sẽ bị chen cho bẹp ruột, ai thắc mắc hay nhìn
đểu mấy kẻ chen lấn, thì "bố cho mày mấy chưởng".

- Sẽ xuất hiện đủ loại cò: Cò mua, cò bán, cò di tản, cò
cứu trợ, cò bệnh viện… tha hồ chặt chém đồng bào.

- Tiền và hàng cứu trợ sẽ vào tay dân thì ít, cửa quan thì
nhiều.

- Ai muốn người nhà mình đang kẹt trong đống đổ nát được
đào bới, tìm kiếm trước thì hãy chi đẹp cho đội cứu hộ.

- Khu nào có quan chức ở thì được ưu tiên cứu hộ trước,
khu nào dân đen sinh sống thì cứu sau.

- Cửa hàng sẽ thi nhau tăng giá, bắt chẹt những người khốn
khổ.

- Tổ chức nào, tôn giáo nào muốn cứu trợ thì phải được
sự đồng ý của Mặt trận Tổ quốc và các cấp chính quyền
kẻo các "thế lực thù địch" lợi dụng.

…v.v….

Tôi không nghĩ là bà Mạc Việt Hồng nói quá đáng. Chúng ta
cũng không cần phải có kinh nghiệm thực tế, chỉ cần đọc
qua báo trong nước sau mỗi lần có thiên tai cũng đủ biết là
những ghi nhận trên của tác giả không sai chút nào. Nói chung
nạn nhân nếu muốn sống sót phải làm theo bản năng "mạnh
được yếu thua" hay "khôn nhờ dại chịu", còn quan chức
chính quyền thì coi đó như thời cơ để kiếm tiền.

Ngay tại hải ngoại, nếu thiên tai xảy ra tại những nơi tập
trung đông đúc người Việt, phản ứng của người dân có
thể không tệ như trong nước nhưng chắc chắn bức tranh đó
cũng sẽ không được đẹp đẽ cho lắm.

Có thể có những quý vị nghĩ rằng: không nên quá đề cao
người khác và rẻ rúng thân phận của mình – vì phải giữ
lại niềm tự hào dân tộc. Riêng tôi thì không đồng ý với
những quan điểm như thế.

Có hãnh diện gì khi nói ra những điều không hay
về chính dân tộc mình, người viết cũng là người Việt,
cũng có tất cả những thói hư tật xấu của người VN. Nhưng
thiết nghĩ, muốn thoát khỏi sự thua kém, trước hết phải
dám can đảm biết nhìn lại chính mình, phải biết mình tốt
chỗ nào, xấu chỗ nào, đang đứng tại đâu và cần phải làm
những gì. Cũng giống như một người sinh ra trong một gia đình
nghèo khó bất hạnh, phải biết chấp nhận số phận đó,
nhưng chấp nhận để tìm cách vươn lên chớ không phải chấp
nhận để đầu hàng hoàn cảnh. Gần một trăm năm nước đây,
Lỗ Tấn từ bỏ nghề y chuyển sang viết văn để mong đánh
thức được dân tộc Trung Hoa ra khỏi căn bệnh bạc nhược
bằng những toa thuốc cực đắng như "AQ chính truyện", gần
đây nhà văn Bá Dương tiếp nối tinh thần đó với "Người
Trung Quốc xấu xí" cũng được nhiều đồng bào của ông cho
đó là một đóng góp đáng kể. Cuộc cách mạnh Duy Tân của
Minh Trị Thiên Hoàng vào giữa thế kỷ 19 chắc chắn sẽ không
thành công được như vậy nếu những nhà tư tưởng của Nhật
lúc đó không vạch ra cho đồng bào của họ thấy được
những những cái yếu kém trong văn hóa truyền thống cần phải
bỏ đi để học hỏi những cái hay của Tây Phương, nhà văn
Miyake Setsurei, dành riêng một cuốn sách công phu "Người Nhật
xấu xa" xuất bản năm 1891 để đánh thức người Nhật ra
khỏi căn bệnh lạc hậu.

Chúng ta chỉ có thể yêu nước nếu chúng ta có niềm tự hào
dân tộc. Nhưng tự hào vào những điều không có căn cứ hay
không có thật sẽ có tác dụng ngược như những liều thuốc
an thần.

Những tự hào giả tạo này có khi vì thiếu hiểu biết, có khi
vì mưu đồ chính trị của kẻ cầm quyền như những gì mà
người CS đã làm đối với dân VN trong hơn nửa thế kỷ qua,
và tác hại của nó thì ngày nay chúng ta đã thấy rõ.

Người Việt có những mâu thuẫn kỳ lạ. Chúng ta mang tự ái
dân tộc rất cao nhưng đồng thời chúng ta cũng mang một tinh
thần vọng ngoại mù quáng. Chúng ta thù ghét sự hiện diện
của ngoại bang trên đất nước chúng ta bất kể sự hiện
diện đó có chính đáng đến đâu, nhưng đồng thời giữa
chúng ta cũng không tin lẫn nhau, xưa nay mọi giải pháp quan
trọng của đất nước chúng ta đều trông chờ vào người
ngoại quốc, chớ không tự quyết định số phận của mình.

Mỗi khi nói về những tệ hại của đất nước VN
hiện nay đa số chúng ta thường hay đổ hết trách nhiệm cho
người Cộng Sản. Thật sự CS không phải là thành phần duy
nhất chịu trách nhiệm cho những bi kịch của đất nước hôm
nay, họ chỉ là sản phẩm đương nhiên của một nền văn hóa
thiếu lành mạnh. Nếu CS là nguyên nhân của mọi sự xấu xa
thì thành phần người Việt đang sống tại những quốc gia văn
minh và giàu có nhất thế giới như Hoa Kỳ, Canada, Úc… phải
là những người thể hiện nếp sống văn hóa cao xứng đáng
với xã hội văn minh mà họ thừa hưởng. Nhưng không, những
người Việt đó, tuy khá hơn người trong nước nhưng vẫn thua
kém nhiều sắc dân khác, vẫn mang tất cả những khuyết tật
mà cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đã nêu ra gần một trăm năm
trước. Vẫn chia rẽ, vẫn tỵ hiềm nhau, vẫn xâu xé lẫn nhau,
có khi chỉ vì bất đồng quan điểm, có khi chỉ vì một quyền
lợi thật nhỏ, thậm chí có khi chỉ vì một hư danh.

Không phải là một tình cờ của lịch sử mà chủ nghĩa CS đã
dành được những thắng lợi trong cuộc cách mạng mùa thu năm
1945, và luôn luôn giữ thế thượng phong trên đất nước VN
từ đó đến nay. Dân tộc VN đã chọn Hồ Chí Minh thay vì Phan
Bội Châu, Phan Chu Trinh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim… hoàn
toàn không phải vì Hồ Chí Minh giỏi hơn, yêu nước hơn,
nhiệt tình hơn những người kia, nhưng chỉ vì Hồ Chí Minh
đáp ứng đúng tâm lý của người Việt – đó là tâm lý tôn
thờ bạo lực. Chắc chắn không có nước nào trên thế giới
này mà bài Quốc Ca có câu sắt máu như thế này: "Thề phanh
thây uống máu quân thù", mà "quân thù" đó bất cần là
ngoại bang hay đồng bào ruột thịt, nghe mà rợn người. Khẩu
hiệu của phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh vào những năm 1930, 31
do đảng CS lãnh đạo là: Trí, phú, địa, hào – Đào tận
gốc trốc tận rễ.

Đối với người VN bạo lực có sức quyến rũ hơn là nhu cầu
khai sáng trí tuệ để giải quyết vấn đề một cách ôn hòa.
Hồ Chí Minh chọn chủ nghĩa CS dựa trên bạo lực cách mạng
và đấu tranh giai cấp. Giải pháp bạo lực này đòi hỏi phải
luôn tồn tại một kẻ thù làm đối tượng. Hết kẻ thù
thực dân phải tìm ra một kẻ thù khác để có lý do hành
động, chính vì thế cho nên máu và nước mắt vẫn tiếp tục
rơi trên đất nước VN trong suốt hơn nửa thế kỷ qua.

Hoàn toàn trái ngược với Hồ Chí Minh, Phan Chu Trinh
chọn giải pháp Khai Dân trí, Chấn Dân Khí, Hậu Dân sinh. Theo
ông, muốn thoát khỏi ách đô hộ của ngoại bang và sự nghèo
khổ lạc hậu, trước hết phải nâng cao dân trí, mở mang trí
tuệ. Dân trí cao người dân sẽ ý thức được quyền làm
người, quyền dân tộc, rồi từ đó sẽ tranh đấu bằng giải
pháp chính trị để giành độc lập. Dân trí thấp kém cho dù
có dành được độc lập thì vẫn tiếp tục là một dân tộc
nô lệ ở một hình thức khác.

Có thể nói trong lịch sử hiện đại của VN, ông là một trong
những người Việt hiếm hoi nhìn ra nguyên nhân mất nước, nguy
cơ dân tộc, không phải ở đâu khác mà là trong văn hóa, từ
văn hóa mà ra.

Sau Đệ Nhị Thế Chiến có gần 30 nước dành được
độc lập, phần lớn không đổ một giọt máu, chỉ có vài
nước chọn chủ nghĩa CS trong đó có VN, phải trả bằng máu
và nước mắt của hàng triệu sinh mạng để cuối cùng trở
thành một trong những nước nghèo khổ và lạc hậu nhất thế
giới. Chọn lựa này là chọn lựa của dân tộc, của VN chớ
không phải do sức ép của ngoại bang hay một lý do gì khác.
Người Cộng sản biến dân tộc VN trở thành một lực lượng
tiên phong trong cuộc tranh chấp giữa hai khối CS và Tự Do và
luôn luôn hãnh diện với thế giới về một dân tộc "bước
ra khỏi cửa là thấy anh hùng".

Hà Sĩ Phu đã có nhận xét rất đúng là giữa Hồ Chí Minh và
Phan Chu Trinh, dân tộc VN đã chọn Hồ Chí Minh và những bi
kịch của đất nước hôm nay là cái giá phải trả cho sự
chọn lựa đó.

Thật cay đắng cho những người hết lòng vì nước vì dân như
Phan Chu Trinh, mặc dầu nhìn xa thấy rộng, tư tưởng nhân bản,
kiến thức uyên bác, lòng yêu nước và nhiệt tình có thừa,
nhưng cuối cùng Phong Trào Duy Tân của cụ đã thất bại chỉ
vì không được sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng, ngay
cả cụ Phan Bội Châu – một đồng chí thân thiết với cụ
trong nhiều năm cũng không ủng hộ quan điểm của cụ.

Là một người yêu nước chân thật ông không tự lừa dối
mình và lừa dối dân tộc của mình bằng những chiêu bài mị
dân, những điều tự hào không có thật. Ông là người nhìn
thấy được vấn đề, và cố gắng đi tìm một phương thuốc
cứu chữa.

Nhưng tại những nơi mà lưỡi gươm có tác dụng
mạnh hơn ngòi bút thì những tiếng nói nhân bản như ông trở
thành những tiếng kêu giữa sa mạc hoang vắng và ông trở nên
lạc lõng trong một xã hội mà nếp suy nghĩ hủ lậu đã bám
rễ quá lâu và quá chặt, trở thành một căn bệnh trầm kha
hủy hoại đất nước và làm cho dân tộc sa vào vòng nô lệ.

Nhìn qua đất nước Nhật Bản, một dân tộc có chiều dài
lịch sử gần giống như chúng ta, có diện tích gần bằng, dân
số không chênh lệnh mấy (127 triệu so với 87 triệu), cũng
chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa và Khổng Giáo, không khỏi
làm cho chúng ta đau lòng khi thấy được sự khác biệt quá
lớn giữa hai đất nước. Sự khác biệt về kinh tế, sự giàu
có tiện nghi không phải là điều quan trọng, chủ yếu là sự
khác biệt về cách suy nghĩ (mentality) giữa hai dân tộc. Vào
thời điểm 1858, khi người Pháp bắt đầu xăm lăng VN thì dân
ta vẫn còn u mê bám vào những giá trị đã lỗi thời, người
Nhật tức thời bỏ những truyền thống hủ lậu, học hỏi
những cái hay của Tây Phương để bắt kịp họ. Đến thời
điểm sau Đệ Nhị Thế Chiến, VN muốn trở thành biểu tượng
của một dân tộc anh hùng, người Nhật biết nuốt nhục của
kẻ thua trận chịu sự đô hộ của Mỹ, tận dụng lòng mã
thượng của kẻ chiến thắng, dồn mọi sinh lực dân tộc để
vươn lên thành một cường quốc kinh tế.

Tại sao lại có sự khác biệt như vậy? Những nghiên
cứu công phu và nghiêm chỉnh của các cơ quan quốc tế gần
đây như Cơ quan Phát Triển Liên Hiệp Quốc (United Nations
Development Program – UNDP) đã chứng minh một cách thuyết phục
rằng sự chênh lệnh giàu nghèo giữa các quốc gia chủ yếu
không phải do yếu tố địa lý, tài nguyên thiên nhiên, tôn
giáo, chủng tộc… mà chủ yếu là do yếu tố văn hóa. Văn
hóa quyết định tất cả. Văn hóa tạo ra nếp suy nghĩ
(mentality) của mỗi dân tộc, và chính nếp suy nghĩ này làm cho
mỗi dân tộc có ứng xử khác nhau khi đương đầu với cùng
một thử thách. Tại sao có những dân tộc mà quan chức chính
phủ tham nhũng cả hàng triệu đô la như ở các nước Phi Châu
hay VN ngày nay mà mọi người vẫn xem đó là chuyện bình
thường, trong lúc đó tại một nước khác – một bộ trưởng
chỉ vì nhầm lẫn nhận 600 đô cho quỹ tranh cử đã phải xin
lỗi quốc dân rồi từ chức (1)? tại sao một quốc gia nhỏ bé
như Do Thái chưa tới 3 triệu dân (2) có thể chiến thắng cả
khối Á Rập trong cuộc chiến năm 1967 và tồn tại vững mạnh
cho đến ngày hôm nay? Trong lúc đó có những nền văn minh đã
từng một thời ngự trị thế giới mà ngày nay biến mất …
và còn cả ngàn thí dụ khác để chứng minh rằng chính yếu
tố văn hóa quyết định sự tồn vong và sự lớn bé của mỗi
dân tộc.

Những dân tộc như Đức, Nhật, Do Thái, Thụy Sĩ, Hòa Lan, Hoa
Kỳ… cho dù bị thiên tai tàn phá đến đâu, cho dù sống ở
bất cứ hoàn cảnh nào cũng vẫn có thể vươn trở thành
những nước giàu mạnh, trái lại những xứ như Iraq, Nigeria,
Venezuela, Angola, Libya… mặc dầu tràn ngập dầu hỏa nhưng vẫn
là những nước nghèo.

Bước ngoặt quan trọng nhất đã làm thay đổi khoảng
cách giữa ta và Nhật chính là cuộc cách mạng Duy Tân tại
Nhật bắt đầu từ năm 1868. Trong lúc người Nhật tức thời
thay đổi thì các vua chúa VN vẫn còn ngủ mê bên trong các bức
tường cung điện ở Huế. Họ không thấy được thế giới
đã thay đổi, vẫn tiếp tục tôn sùng và thần tượng Trung
Quốc trong lúc nước này đã bị thua thê thảm trước sức
mạnh của Tây Phương.

Vào tháng 7 năm 1853 khi triều đình Tokugawa từ chối không
cho Thuyền trưởng người Mỹ Mathew Perry lên bờ để trao bức
thư của Tổng Thống Fillmore, ông ra lệnh bắn vào thành phố
Edo (Tokyo ngày nay). Những quả đại bác này đã làm cho người
Nhật thức tỉnh ngay. Lòng ái quốc và niềm tự hào dân tộc
đã làm cho họ đoàn kết lại để tìm cách giúp đất nước
thoát khỏi nguy cơ nô lệ. Chính sự thức tỉnh này đã mở
đầu cuộc cách mạng Minh Trị Duy Tân kéo dài 44 năm. Đó là
một cuộc cách mạnh đúng nghĩa, một cuộc cách mạng triệt
để, họ làm đến nơi đến chốn, kẻ đi Mỹ, người đi Âu
Châu, kẻ đi chính thức người đi lậu bằng cách trốn xuống
tàu buôn Tây Phương như trường hợp của thần đồng Yoshida
Shôin, tất cả đều cùng một mục đích là tìm đến tận
nguồn cội của nền văn minh để học hỏi những cái tinh túy
mang về thay đổi đất nước. Họ từ bỏ một cách dứt khoát
tất cả những cái cũ không còn hợp nhưng không để mất tinh
thần độc lập. Họ không phải chỉ có một ông vua Minh Trị
hết lòng yêu nước mà cả trăm ngàn những tấm lòng như thế
quyết tâm đưa nước Nhật lên vị trí ngang hàng với các
nước Tây Phương.

Khi nói đến cuộc Duy Tân Minh Trị nhiều người vẫn lầm
tưởng đó là cuộc cách mạng kỹ nghệ, mở cửa để giao
thương và học hỏi kỹ thuật của Phương Tây. Thật sự không
phải như thế, học hỏi kỹ thuật chỉ là mặt nổi, chủ
yếu là người Nhật học hỏi những tinh túy về tư tưởng
của người Tây Phương để khai sáng trí tuệ cho dân tộc của
họ.

Chỉ có vài quả bom của Thuyền Trưởng Mathew Perry đã làm
cho người Nhật thức tỉnh, trong lúc đó nhìn lại đất nước
chúng ta, kể từ thời điểm 1853 cho đến hôm nay đã có hàng
trăm ngàn quả bom đã rơi xuống đất nước Việt Nam, không
những chỉ tàn phá hình hài đất nước mà còn làm tan nát tâm
hồn dân tộc với bao sự ngậm ngùi, nhục nhã đắng cay của
một dân tộc nhược tiểu. Nhưng tất cả những nỗi đau đó
vẫn chưa đủ để làm cho người Việt thức tỉnh, để thấy
cần phải có một nhu cầu thay đổi cần thiết như người
Nhật đã làm từ giữa thế kỷ thứ kỷ 19.

Vào tháng 8 năm 1858 người Pháp bắt đầu cuộc chiến
xăm lăng đất nước VN, trước đó vào mùa thu năm 1847 để
phản đối chính sách cấm đạo của vua Thiệu Trị, Trung
tướng Rigault de Genouilly đã bắn chìm 5 chiếc thuyền của
Việt Nam, năm 1842 Trung Quốc đã bại trận thê thảm trước
sức mạnh của Tây Phương trong cuộc chiến Nha Phiến. Nhưng
tiếc thay tất cả những dấu hiệu cảnh cáo đó vẫn chưa
đủ để làm cho triều đình nhà Nguyễn thức tỉnh. Đến lúc
đó họ vẫn không nhận ra rằng đất nước đang đứng trước
khúc quanh của lịch sử. Từ thời điểm năm 1842 hay 1847 cho
đến 1858, đó là một khoảng thời gian rất dài (14 năm), nếu
các vua nhà Nguyễn thức thời, khôn khéo như các vua chúa Nhật
Bản thì đất nước chúng ta đâu phải chịu 80 năm đô hộ
của người Pháp và đâu phải chịu tai họa Cộng Sản kéo dài
đến hôm nay.

© Phạm Hoài Nam

Nguồn: vietluanonline

______________________

<h2>Ghi chú:</h2>

(1) Ngoại trưởng Nhật Seiji Maehara từ chức ngày 6 Tháng Ba 2011
vì nhận 600 Mỹ kim cho quỹ chính trị từ một người ngoại
quốc.
(2) Dân số Do Thái vào thời điểm 1967 là 2.7 triệu người.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/8953), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Chủ nhật rồi đi Light House Pank cùng vợ chồng Hải- Mark
Irick và hai cháu Thu Hoài - Tiến Hưng. Hoài 8 tuổi, Hưng 5. Xe
vừa dừng, hai đứa đã nhảy phốc xuống chạy biến vào
rừng. Như chơi trò trốn tìm, hai đứa trẻ thoắt ẩn thoát
hiện, khi thấy ngồi chễm trệ trên mỏm đá cao ngang ngọn
thông, lúc lại níu tay nhau khúc khích khuất sau những gốc cổ
thụ ẩm mốc to mấy người ôm.

Lúc ở bãi xe đã ngạc nhiên khi thấy cơ man nào là xe,
gần trăm ô tô các loại. Càng trèo lên cao càng đông. Từng
tốp trẻ nít xếp chồng đội đít nhau leo núi, rất nhiều
đứa chỉ chừng bốn, năm tuổi. Bờ đá chênh vênh nhìn xuống
vực sâu hoắm.

Hoảng hồn, mấy lần dang tay định kéo hai đứa nhỏ thì
chúng bèn khoát tay "no no" và tự bám vào cành cây như đu
trên vách đá. Vài lần cu Hưng trượt chân lăn mấy vòng. May
là rơi lăn tròn mấy vòng xuống một bãi cỏ xanh mượt. Hoài
không hoảng hốt. Nó ngồi trên mỏm đá, duỗi chân cười ha
hả ra chiều thắng cu Hưng. Không chịu đầu hàng, Hưng le
lưỡi trêu chị và xoa đít xỏ giầy trèo tiếp. Hì hục lên
tới đỉnh thì cả hai ôm nhau rồi nhảy cỡng lên "wa wa" ra
chiều thích thú. Hải- Mark Irick thản nhiên ngồi nhìn hai đứa
trẻ vất vả chinh phục dốc đá mà không biểu lộ một động
thái nào gọi là trợ giúp và lo lắng.

Bên cạnh, một tốp gần chục đứa chỉ chừng bốn, năm
tuổi cũng đang hì hục bấu tay bám từng vách đá. Không thấy
một ai giơ tay giúp bọn trẻ. Những cặp bố mẹ ngồi khoanh
chân thản nhiên tám chuyện và vỗ tay cổ động cho bọn trẻ
leo dốc.

Cả bọn trẻ, đứa nào rớt lại hì hục xỏ giày leo
tiếp, chẳng thấy đứa nào gọi "bố ơi mẹ ơi kéo con
với". Cu Hưng thở hổn hển. Vậy mà hỏi "mệt không" nó
cứ há miệng cười và lắc đầu "no no".

Ý thức tự lập của con trẻ được tập dượt và hình
thành ngay từ những cuộc "leo núi" này. Cách thương con của
họ không giống cách "thương" của những ông bố bà mẹ
Việt. Thay vì lo lắng, hoảng hốt "ối giời con ơi" và cựa
tí lúc nào cũng giơ tay đỡ thì họ lại biết không giơ tay can
thiệp, không trao "quyền trợ giúp", tạo điều kiện tối
đa cho trẻ tự lập, tự vươn lên trên chính đôi chân mình,
ngay cả nhiều khi tưởng như không thể.

Thở hổn hển, nhưng ra xe hai đứa vẫn tự trèo vào,
chẳng cần bố mẹ phải bồng bế hay vịn tay đỡ. Chẳng nghe
chúng than mệt, tự mở chai uống nước rồi lại chọc ghẹo
nhau, tíu tít cười nói rôm rả.

Sự khác biệt tưởng nhỏ, nhưng sớm định hình cho con
trẻ tính tự lập và sự tự tin. Nhìn chúng, ngẫm lại cách
"thương" con của người Việt thấy dường như cái tư duy
dựa dẫm, trông chờ nảy phát chính từ đây? Dường như chúng
ta đang dìu đỡ cho trẻ đi trên một đường ray khác.

Những đứa trẻ được (bị) chìa tay can thiệp (nâng
đỡ) trong mọi lúc mọi nơi như thế, lớn lên sẽ không biết
tự lập và thiếu tự tin là điều dễ hiểu. Và lỡ có đứa
nào sau này thành... Thủ tướng, thì việc thiếu tự tin đến
mức phải ôm khư khư mảnh giấy soạn sẵn như ông Phan Văn
Khải năm nào ngồi họp báo trong Nhà Trắng cùng Tổng thống
Bush cũng là điều rất Việt Nam, chẳng gì phải ngạc nhiên.

Vancouver, Canada 30-5-2011

<center><img
src="http://lh3.ggpht.com/-76YRJFrVqSo/TePCGjTx0jI/AAAAAAAABew/HrPLBDotcnw/IMG_1617%25255B6%25255D.jpg?imgmax=800"
/></center>

<center><img
src="http://lh3.ggpht.com/-otx510kWcng/TePCKdNa6FI/AAAAAAAABfY/AqEuIEkRZHE/IMG_1626%25255B1%25255D.jpg?imgmax=800"
/></center>


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/8950), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Các triều đại của Trung Quốc thường vỗ ngực tự xưng là
"thiên triều" để làm oai với các nước lân bang. Nhưng nhìn
lại lịch sử các triều đại "Tàu", trừ một số triều đại
ở thời điểm cực thịnh của nó như Hán, Đường... còn thì
rất nhiều triều đại, nó cũng thường có những kém cỏi và
hèn hạ vô cùng. Sự hèn hạ của "thiên triều" nét nhất trong
các thời kỳ: tống, từ giữa đến cuối triều Minh...

Ví dụ như thời Tống, chỉ được mỗi giai đoạn của Tống
Thái Tổ Triệu Khuông Dận là còn có chút hào hùng vì dẫu sao
cũng là một ông hoàng đế khai nghiệp. Còn sau đó, chủ yếu
là các hoàng đế kém cỏi với bộ máy triều định hèn hạ,
liên tục bị các nước nhỏ ở bên ngoài uy hiếp: Liêu, Kim,
Tây Hạ, thường xuyên phải cắt đất, dâng nộp cống phẩm
đề cầu hoà và cuối cùng bị quân Mông Cổ đánh bại, nô
dịch toàn bộ. Thời Tống Khâm Tông, có năm nhục đến độ
bị nhà Kim-1 nước nhỏ hơn rất nhiều ở phía Bắc đánh
chiếm, phải cắt nhượng đến nửa đất đai, mỗi năm phải
nộp 10 triệu thoi vàng, 20 triệu thoi bạc, 10 triệu tấm lụa...
Chưa hết, đến năm 1127, nhà Kim tiếp tục vây đánh, bắt
sống cả 2 vua nhà tống là Tống Huy Tông và Tống Khâm Tông
đủ thấy Trung Quốc cũng đã từng có những triều đại nhục
nhã, hèn kém thế nào. Đến ngay như Việt Nam ta thời đó (nhà
Lý), Lý Thường Kiệt còn đem quân đến cướp phá mấy châu
quận của Trung Quốc (trong đó có Ung Châu, Khâm Châu), giết
chết quan binh nhà Tống vô số kể... Đến lúc kéo quân sang,
định đánh trả thù cũng bị thua lụn bại ở sông Cầu. Thế
mà cũng xưng là "thiên triều", oai phong cái nỗi gì?

Sau gần 100 năm bị quân Mông Cổ chiếm đóng, làm nhục, Chu
Nguyên Chương khởi nghĩa, đánh bại các lực lượng khác, lập
lên triều Minh. Thì cũng chỉ được vài vương triều, đến
đời Minh Anh Tông, vào năm 1449, triều Minh với quân đội khá
đông đảo trên 50 vạn quân mà chỉ trong một trận chiến
đấu với một bộ tộc gọi là Ngoã Lạt (cũng thuộc Mông
Cổ, phía bắc Trung Quốc) đánh bại, tiêu diệt hơn nửa. Hoàng
đế nhà Minh bị bắt sống tại trận. Đến các thời sau
nữa: Minh Thế Tông, Minh Mục Tông, Minh Thần Tông... toàn hạng
hôn quân ngu dốt, giết hại hiền thần, trọng dụng bọn tham
quan, ô lại. Đến cuối là Sùng Trinh đế thì còn ngu tối
đến độ giết những hiền thần như Viên Sùng Hoán rồi bị
nhà hậu Kim (sau đổi quốc hiệu là Thanh) thôn tính toàn bộ.
Bắt tất thảy dân Trung Quốc phải cạo trọc đầu, thay đổi
cách ăn mặc. Còn cái nhục to lớn nào bằng.

(Mở ngoặc thêm: Triều Minh cũng có thời gian xâm lược Việt
Nam do lúc đó nhà Hồ mới lật nhà Trần, còn yếu. Chúng
chiếm đóng nước ta hơn 10 năm, tàn hại dân tình không biết
bao nhiêu mà kể. Sau Lê Lợi nổi lên từ nơi thảo dã, bình
định như cuốn chiếu, bắt quân tàu làm tù binh hơn 10 vạn.
Đủ để thấy, quân Tàu, có lúc mạnh thế vẫn bị người
Việt dù lực lượng còn yếu đánh bại. Huống chi là ngày nay,
ta đã đủ quân, đủ tướng, không còn bị cô thế như ngày
xưa, vũ khí đạn dược tuy không nhiều, không hiện đại bằng
nó... nhưng há phải sợ nó sao?).

Quay trở lại chủ đề trước: cũng may là trong nhiều triều
đại Trung Quốc, có nhiều lúc "thiên triều" nó hèn hạ như
thế nên Việt Nam mình, từ khi Ngô Quyền lập nước, mặc dù
luôn bị chúng âm mưu thôn tính, có một số năm phải thuộc
về triều Minh nhưng cơ bản đều đánh đuổi được chúng ra
khỏi bờ cõi, giữ vững được chủ quyền, chưa từng để
mất một thước đất (tính cho đến thời điểm mất Hoàng
Sa). Có một điều dễ thấy là cứ thời nào bên Tàu nó mạnh
lên thì ta lại yếu thế. Đáng tiếc là chính thời điểm này,
TQ lại đang rất mạnh cả về kinh tế và quân sự. Nếu như
không phải nhìn trước nhìn sau, gờm Mỹ, lo Nhật, EU... chắc
nó xơi tái nốt Trường Sa của mình lâu rồi.

Nhưng nói là mạnh thế thôi, chứ lật giở, nghiên cứu xem
lại các triều đại nhà nó, kể cả các vương triều thịnh
vượng nhất, trong giới lãnh đạo TQ luôn có một bộ phận
thích cầu an, hưởng lạc sợ chiến tranh chứ không phải
không. Nếu nó gây chiến với bất cứ nước nào trong ASEAN thì
không có nghĩa là chỉ nước bị nó gây chiến là thua thiệt
bởi vì có chiến tranh thì bên nào cũng sẽ có tổn thất. Kinh
tế Trung Quốc tuy phát triển nhanh, tiềm lực lớn nhưng cũng
đầu rẫy những vấn đề: chênh lệch giàu nghèo lớn, thường
xuyên có bất ổn xã hội, lạm phát cao... Một cuộc chiến
tranh xảy ra tất nhiên sẽ gây tổn hại rất lớn cho nước mà
nó gây chiến nhưng nó cũng có thể kéo kinh tế Trung Quốc sa
lầy..., mất cơ hội cạnh tranh ngôi vị số 1-2-3 với Mỹ,
Nhật, Ấn Độ...

Thế cho nên, chẳng phải sợ gì nó cả. Mềm nắn, rắn buông,
cái câu ấy tuy của người Việt Nam hay nói nhưng cũng là một
đặc điểm ăn khá sâu trong tính cách người Tàu, kể cả trong
hàng ngũ lãnh đạo đất nước của họ. Cho nên, ko có sợ,
đừng có mềm...

Vài dòng tán nhảm, anh em đừng cười. Chỉ vì nghe nó đem tàu
(nghe nói thực chất là tàu chiến) vào sâu biển của mình,
cắt đứt mấy cái dây cáp mà tức giận, chửi nó chơi vậy
đó. Hi Hi

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/8951), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

<center><img src="http://danluan.org/files/u1/sub01/IMG-8844.JPG" width="600"
height="400" alt="IMG-8844.JPG" /></center>

Tí Hớn giờ đọc sách, báo vanh vách. Thậm chí cậu xem phim
phụ đề cũng đọc và hiểu được luôn. Toán làm cũng khá,
viết chữ lúc đẹp ơi là đẹp như chữ mẫu, còn xểnh bố ra
thì gà bới cũng còn dễ hiểu hơn cậu ta viết.

Tuần nay bố cậu biệt tăm, biệt tích với blog. Mặc dù bao tin
tức nóng hổi, nhưng bố cậu chả còn thời gian vào Nét, bởi
đi làm thủ tục xin học cho cậu.

Sau hơn 10 ngày chờ đợi, tất cả đi lại vòng nửa tháng hôm
nay bộ phận nhập hộ khẩu của Công an quận Hoàn Kiếm đã
khước từ cho Tí Hớn và mẹ nhập tịch về với bố.

<center><img src="http://danluan.org/files/u1/sub01/IMG-8956.JPG" width="600"
height="400" alt="IMG-8956.JPG" /></center>

Lý do là do mẹ con Tí Hớn không ăn ở tại 22 ngõ Phất Lộc
nên theo quyết định nào đó thì không được nhập tịch. Mặc
dù đây là nơi đăng ký hộ khẩu của bố Tí Hớn, hàng ngày
bố Tí Hớn vẫn về đó ăn ở làm việc.

Mẹ con nhà Tí Hớn ở Hoàng Quốc Việt, tuần nào cũng về nhà
Phất Lộc ăn ở đó, nhưng không được tính là thường xuyên.

Quy định thật lạ đời, nhà chật ở nhà chỗ khác cũng vẫn
trong thành phố chứ đi đâu. Lúc khám xét nhà hay đưa giấy
triệu tập, đọc lệnh bắt bố Tí Hớn, có lần nào trượt
đâu. Khám xét cả hai nơi. Giờ đến lúc nhập tịch cho Tí
Hớn đi học thì giả bộ như không hề biết gia đình Tí Hớn
ở phương trời nào. Xác nhận nhoằng cái không ăn ở tại
đây thế là xong.

Giờ phải lo xem Tí Hớn học hành thế nào lu bù quá.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/8952), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Sau hàng chục vụ bắt bớ, giam giữ trái phép ngư dân, ngang
nhiên ra lệnh cấm đánh bắt cá trên các vùng biển thuộc chủ
quyền của Việt Nam, có vẻ việc tàu Trung Quốc vào rất sâu
trong lãnh hải Việt Nam thực hiện các hành động phá hoại,
ngăn cản các hoạt động bình thường và đe doạ sử dụng vũ
lực đang cho thấy tính chất leo thang trong các hoạt động xâm
lấn biên giới biển của họ.

Video clip, do các thuỷ thủ tàu Bình Minh 02 quay lại vụ tàu
hải giám Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Việt Nam được đăng
tải trên Petrotimes, tờ báo chính thức của ngành Dầu khí, cho
thấy những con tàu hải giám, một loại tàu cảnh sát của
Cục Hải dương Trung Quốc đã tới rất gần các con tàu dân
sự Việt Nam. Khoảng cách giữa các tàu Trung Quốc tới Bình
Minh 02 và các cáp thu địa chấn chỉ là 500m, khoảng cách bằng
nửa tầm bắn súng trường, trong khu vực lọt hoàn toàn trong
vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.
Bình Minh đã liên lạc nhưng không nhận được câu trả lời.
Kéo còi cảnh báo nhưng bị phớt lờ.

Và sau đó, tàu Trung Quốc thẳng tay phá hoại cáp địa
chấn bất chấp sự ngăn cản của hai tàu Việt Nam là Đông Nam
và Vạn Hoa. Một hành động khiêu khích và sử dụng vũ lực
không thể gọi khác. Và sau đó, tàu Trung Quốc ngang nhiên cho
rằng Bình Minh đã "xâm phạm chủ quyền lãnh hải Trung
Quốc". Vụ việc hôm 26-5 là vụ việc nghiêm trọng nhất từ
trước đến nay bởi ngoài hành động phá hoại theo kiểu vừa
ăn cướp vừa la làng thì đây cũng là lần đầu tiên tàu Trung
Quốc kéo cờ, dàn trận, công khai vào rất sâu lãnh hải Việt
Nam. Vị trí tàu Trung Quốc phá hoại cáp địa chấn nằm hoàn
toàn trong vùng lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam, thậm
chí chỉ cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên) khoảng 120 hải lý.
Nghiêm trọng nhất là chỉ sau đó chưa tới 48 giờ đồng hồ,
trong thông cáo chính thức, phía Trung Quốc vẫn lớn tiếng cho
rằng: Phía Việt Nam đã tiến hành hoạt động thăm dò dầu
khí tại vùng biển do Trung Quốc quản lý. Và vì vậy, sự vi
phạm chủ quyền hôm 26-5 không phải là hành vi mang tính cá
biệt mà là một chủ trương mang tính nhà nước.

Trong nhiều năm qua, với yêu sách đường lưỡi bò, một yêu
sách bị tất cả các quốc gia phản đối, Trung Quốc liên tục
cử các tàu hải giám xâm phạm các vùng biển thuộc chủ
quyền Việt Nam. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, trong
thông cáo mới nhất đã cho rằng: Trung Quốc kêu gọi giải
quyết các tranh chấp liên quan bằng biện pháp hòa bình, nhưng
chính hành động của Trung Quốc đang làm phức tạp thêm tình
hình ở Biển Ðông".

Trong vụ khiêu khích hôm 26-5, tàu Bình Minh 02 bất chấp
nguy hiểm đã tri trì tại chỗ, thậm chí thu hết các dãy súng
trên tàu không để Trung Quốc lấy cớ khiêu khích đồng thời
kiên quyết cho rằng họ đang trên vùng thuộc chủ quyền Việt
Nam. Nhưng đó là những giờ khắc các thuỷ thủ tàu Bình Minh
02 mô tả đó là vô cùng căng thẳng. Họ sợ dù không làm gì
sai. Có thể, ngày mai, các con tàu của Việt Nam, những ngư dân
Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục ra khơi, đôi khi vì nhiệm vụ, vì
miếng cơm manh áo hơn là những tinh thần dân tộc hay yêu
nước gì đó mà họ được phong, nhưng thứ mà họ mang theo
sẽ là sự sợ hãi. Sợ vì không biết điều gì sẽ xảy ra khi
họ một mình trên biển.

Cũng là lần đầu tiên, sự phản ứng được công khai trên
báo chí Việt Nam, dù nội dung vẫn lại chỉ là một thông cáo
không có gì mới hơn từ phía Bộ Ngoại giao. Nhưng nếu chúng
ta chỉ lên tiếng xác nhận chủ quyền mà không có những hành
động cương quyết để bảo vệ chủ quyền thì trong tương lai
không loài trừ trường hợp tàu vũ trang Trung Quốc sẽ bắt
bớ, giam giữ, đòi tiền chuộc đối với những con tàu của
Việt Nam, đang hoạt động trên vùng biển thuộc chủ quyền
Việt Nam như những câu chuyện đau xót ngày ngày vẫn xảy ra
đối với các ngư dân. Giải quyết bằng biện pháp hoà bình
không có nghĩa chỉ là bằng những lời tuyên bố xuông.

Chúng tôi mong rằng Trung Quốc sẽ thể hiện vai trò có trách
nhiệm của một nước lớn, thực hiện đúng tinh thần tuyên
bố của lãnh đạo Trung Quốc" - Người phát ngôn Bộ Ngoại
giao nói. Nhưng đối với nghĩa vụ bảo vệ chủ quyền của
một nước nhỏ, rõ ràng chúng ta cũng phải làm gì đó chứ
chỉ phẫn nộ thôi thì chưa đủ. <span class="underlined-text">Mấy
ngàn năm nay cha ông ta chưa bao giờ giữ nước chỉ bằng sự
phẫn nộ</span>.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/8922), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Học thuyết Mác dẫu nhiều bất cập,
Nhưng chứa đầy tố chất nhân văn.
Dòng thời đại tuôn trào cập nhật,
Mác lắng nghe, cầu thị chân thành.(1)

Con đường bạo lực thời trai trẻ,
Mác đã ly khai lúc cuối đời.
Ăng ghen để lại nhiều di huấn,
Điều chỉnh tư duy cũ – lỗi thời.(1)

Tư bản học nhiều điều từ Mác,
Luôn dẫn đầu thế giới văn minh.
Chủ, thợ đối đầu thành đối tác,
Phúc lợi tăng, phát triển vững bền.

Quốc tế Hai xây nền công lý,
Là mùa trái ngọt Mác – Ăng ghen.(1)
Quốc tế Ba – con đường đảng trị,
Chính quyền bên họng súng Lê nin.(1,2)

Lê nin mượn Mác làm nền tảng,
Chế thành tà đạo phản nhân văn.
Cuồng say bạo lực, siêu quyền Đảng,
Xây nhà tù lớn nhốt nhân dân. (2)

Đảng nuốt chửng chính quyền hình nộm,
Cánh tay đoàn thể cuội nối dài.
Hệ tuyên huấn một dàn lưỡi gỗ,
Mị lừa dân, giam giữ tương lai.

Khi siêu cường Nga Xô tan rã,
Mặt nạ Lê nin cũng tả tơi.
Kho tư liệu Tháng Mười giải mã,
Phơi trần tội ác chống loài người.

Lê nin lập Cheka mật vụ, (3)
Hủy hoại nền dân chủ sơ khai.
Đóng sập cửa chính trường đa đảng,
Mở kỷ nguyên toàn trị độc tài.(2)

Trí, phú, địa, hào đào tận … rễ, (4)
Là bản sao chính gốc Lê nin.
Nội chiến Đỏ tương tàn huynh đệ,
Từ bàn tay đồ tể Krem lin.

Dẹp quân chủ, xây nền đảng chủ,
Siêu quái thai lịch sử loài người.
Sta lin, Mao Trạch Đông… đao phủ,
Hậu duệ Lê nin tiếng để đời.

Trùm khủng bố cực đoan Hồi giáo
Chẳng so tày tà đạo Lê nin.
Toàn trị độc tài chuyên ngụy tạo
Nhiều phiên tòa chuột diệt công thần…(5)

Mọi chiêu thức phi nhân, gian xảo,
Là ngón nghề tà đạo Tháng Mười.
Ác giả đã đến ngày ác báo,
Bàn tay không che nổi mặt trời.

Mác – Lê (nin) là cụm từ khiên cưỡng, (1,6)
Do Sta lin lắp ghép, tô hồng.
Hãm dân khí, cầm tù tư tưởng,
Dối lừa trí thức, phản công nông.

Mượn chính đạo cắm râu tà thuyết,
Mác, Lê (nin) không thể ghép vào nhau. (1,6)
Hai mươi năm Trường thành Xô viết
Sụp đổ rồi, còn chưa rõ vàng thau?

Thế giới phẳng không cần "Chủ nghĩa",
Chẳng cần ý thức hệ lai căng.
Xây thiết chế Tam Quyền Phân Lập:
Trừ gian thần dối Đảng lừa dân.

Chống bạo lực tương tàn huynh đệ,
Lo ngại chi diễn biến hòa bình! (7)
Hậu dân sinh, nâng cao dân trí,
Ý Đảng lòng dân sẽ cộng sinh.

Gandhi (8), Phan Chu Trinh (9) vĩ đại
Khơi nguồn sức mạnh vượt thời gian:
Bất bạo động, khoan dung đối thoại,
Sâu dân, mọt nước phải quy hàng.

Tháng 5/2011
TS Trần Nhơn

_____________________

(1) Xem "Mao Trạch Đông ngàn năm công tội" (phần Lời Kết)
của tác giả Tân Tử Lăng.

(2) Quốc hội dân bầu đầu tiên, với 24% nghị viên thuộc
đảng Bolshevik, họp lần đầu tiên ngày 18/1/1918. Nhưng chỉ 24
giờ đồng hồ sau, Lê nin hạ lệnh giải tán Quốc hội.
Trước các họng súng của Hồng Vệ, không ai dám lên tiếng
phản đối. Kể từ tháng 6/1918, các thành viên Menshevik và Xã
Hội Cách Mạng trong các Ủy ban Xô viết do dân bầu lên đều
bị tống ra ngoài. Toàn quốc được điều hành bằng một hệ
thống Xô viết hàng dọc. Vào tháng 7/1918, quốc gia Cộng Hòa
XHCH Liên bang Xô viết Nga được thành lập dưới một Hiến
pháp Xô viết khét mùi căm thù giai cấp.

(3) Cheka (<em><strong>ЧК</strong></em> - чрезвычайная
комиссия / chrezvychaynaya komissiya - Ủy ban Đặc nhiệm). Cơ
quan này tuân phục Đảng vô điều kiện và sẵn sàng tiêu
diệt mọi loại "kẻ thù nhân dân" do Đảng chỉ định.
Đây là một quyết định nghiêm trọng (có tinh bước ngoặt)
vì nó chính thức và chủ ý đặt chế độ lên trên luật
pháp. Chỉ trong vòng 3 năm (1918 - 1921) số người chết dưới
tay Cheka bằng tổng số nạn nhân của mật vụ Nga hoàng suốt
100 năm trước đó.

(4) Lê nin đích thân ký nhiều chỉ thị, công điện diệt trừ
địa chủ không ghê tay. Một trong những tội ác của Lê nin
đối với cuộc cải cách ruộng đất Nga, đã cụ thể để
lại tang chứng qua bức điện thư, chính tay Ông thảo gửi cho
thuộc cấp thi hành mệnh lệnh của Chủ tịch Hội đồng Ủy
viên nhân dân, vào năm 1918:

"<em>Các Đồng chí! Cuộc bạo động của bọn địa chủ ở
năm huyện phải bị đàn áp một cách không thương tiếc…Đây
là yêu cầu của cuộc Cách mạng, vì khắp nơi đang diễn ra
"cuộc chiến đấu cuối cùng". Với bọn địa chủ, phải
cho chúng một bài học.</em>

<em>1- Treo cổ (nhất định phải treo cổ để cho quần chúng
thấy). Ít nhất 100 tên địa chủ, phú hộ - sát nhân.
2- Công bố tên tuổi bọn chúng.
3- Tịch thu tất cả lúa mì của bọn chúng.
4- Bắt con tin… như quyết định ngày hôm qua.</em>

<em>Phải làm thế nào để dân chúng cách hàng trăm dặm
đều thấy, run sợ, hay biết và gào lên: Bóp cổ! Bóp cổ
đến chết bọn địa chủ - sát nhân.</em>

<em> Ký Tên: Lenin.
Tái bút: Hãy tìm những người cứng rắn</em>".

Đối với tầng lớp trí thức bất đồng chính kiến, Lê nin
tống khứ ra sống lưu vong ở nước ngoài (trên hai chuyến tàu
thuê của Đức – Chuyên thứ nhất (28/9/1922) có 70 trí thức,
chuyến thứ hai (19/11/1922) mang theo 150 trí thức cùng gia đình).

(5) Hành vi của Sta lin trong những năm 1930 minh họa đầy đủ
nhất (và ở đỉnh cao nhất) đặc trưng khủng bố nhà nước
của chế độ độc đảng toàn trị của Chủ nghìa Lê nin. Tuy
Lê nin có khí chất ôn hòa hơn, không thô lỗ, sắt máu và
cuồng bạo như Stalin. Nhưng những hành vi khủng bố phi nhân
tính của Stalin, Mao Trạch Đông và một số lãnh tụ vô sản
khác trên thế giới (ở nhiều mức độ khác nhau), đều là
sản phẩm quái thai của tà thuyết Lê nin, không thể nói khác
được.

"<em>Đảng trị - trị Đảng, trị dân/Bịt miệng công
thần, nối giáo quan tham…</em>" (TN).

(6) Lê nin đã "xét lại" Mác (rất nghiêm trọng) theo hướng
cực đoan tả khuynh, phản nhân văn.

"<em>Lê nin mang nặng thù nhà/Sửa học thuyết Mác đẻ ra
Tháng Mười" (TN). Không có cái gọi là Chủ nghĩa Mác –
Lê nin. Sta lin đã gán ghép như vậy để nối nghiệp tà đạo,
tiếp tục lừa dối, đè đầu cưỡi cổ nhân dân.
Theo hồi ức của Liuba, cháu gái cố Tổng
bí thư Brezhnev, sinh thời Brezhnev từng nói với em trai mình:
"Chủ nghĩa cộng sản cái quái gi, đều là những lời nói
trống rỗng lừa bịp dân chúng</em>".

<strong>GS. Tương Lai viết về cái gọi là "Chủ nghĩa Mac -
Lênin"
(trong bài Góp ý kiến về "Cương lĩnh" với tiêu đề "Bối
cảnh thời đại và dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước
trình Đại hội XI"):</strong>

"…a. Từ lâu, những người cộng sản có sự hiểu biết sâu
sắc về lý luận trong một số đảng Cộng sản đã từ bỏ
khái niệm và cụm từ "Chủ nghĩa Mác-Lênin". Có Đảng
Cộng sản đã chính thức từ bỏ khái niệm và cụm từ đó
từ khoảng năm chục năm nay. Họ chỉ thừa nhận rằng có học
thuyết của C.Mác và rồi sau đó có sự đóng góp của
V.I.Lênin và của một số nhà lý luận cộng sản khác vào học
thuyết ấy, chứ không hề có cái gọi là "chủ nghĩa
Mác-Lênin", một sản phẩm xuyên tạc, cả cố ý và vô tình
của J.Stalin…

b. Điều cần lưu ý là, sinh thời C.Mác không bao giờ tự nhận
có một "chủ nghĩa Mác", thậm chí C.Mác nói rằng : "Tôi
chỉ biết một điều là tôi không phải là người Mác-xít."
(C.Mác & Ph. Angghen Toàn tập. Tập 37. NXBCTQG. HN.1977, tr.603 )

Về sau này, do nhu cầu của cách mạng mà những đồng chí
của C.Mác, trước hết là Ph.Angghen, mới nói đến "Chủ
nghĩa Mác" với tính cách là một học thuyết nhằm dẫn dắt
sự nghiệp cách mạng. C.Mác nói vậy là do nhận thức sâu sắc
được sứ mệnh chân chính của một nhà khoa học. Nhưng sau
đó, với trách nhiệm lãnh tụ của phong trào công nhân,
Ph.Angghen cần đến một học thuyết để làm ngọn cờ tư
tưởng lý luận cho phong trào, thì không có ai xứng đáng hơn
là C. Mác.

Khái niệm "chủ nghĩa Mác" ra đời là một đòi hỏi của
lịch sử phong trào công nhân thế giới, trước hết là Châu
Âu. Vả chăng, lúc này C.Mác đã qua đời! Sau này, "chủ nghĩa
Lênin " cũng được tạo dựng theo cách ấy nhưng rồi với
thời gian, đã bị diễn dịch theo động cơ và những dụng ý
khác của J. Stalin, đã làm biến dạng cái gọi là "chủ nghĩa
Lê Nin" đó.

Ở ta, thuật ngữ "Chủ nghĩa Lênin" được xuất hiện năm
1927 trong cuốn "Đường Cách mệnh" của Nguyễn Ái Quốc :
"Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ
nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là
chủ nghĩa Lênin" ( Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập 2. NXBCTQG. Hà
Nội 1995. tr.268).

Lúc ấy chưa xuất hiện thuật ngữ "Chủ nghĩa
Mác-Lênin" vì thuật ngữ này chỉ được tạo ra từ đầu
những năm 1930 và chính thống hoá trong tác phẩm "Lịch sử
tóm tắt của Đảng Cộng sản (BSV)" (tức là Đảng Bolchevik )
do J. Stalin chỉ đạo.

Rõ ràng là, cũng như chính bản thân những tác giả của nó
với tư cách là nhà khoa học và nhà cách mạng, sự nghiệp
của C.Mác đang còn dang dở. Tư tưởng lý luận của C.Mác cần
được bổ sung, sửa chữa và phát triển, điều mà C.Mác
thường xuyên thực hiện trong suốt cả cuộc đời của mình.
Cần hiểu rằng, C.Mác là người mà "sự sửa chữa đến
nhanh hơn sự hình thành, chưa kịp hình thành đã sửa chữa".
Vì thế, với chúng ta ngày nay, điều quan trọng nhất là học
thuyết của C.Mác cần phải được phát triển trong bối cảnh
mới, phải nghiên cứu, tìm tòi vì nó chưa có, hoặc cái đã
có thì không còn thích hợp nữa! Ấy thế mà, dựng lên một
"chủ nghĩa", gán cho cho nó cái tên là "Chủ nghĩa
Mác-Lênin" theo ý đồ của J.Stalin, bao hàm trong đó sự xuyên
tạc những tư tưởng khoa học và cách mạng của C.Mác để
phục vụ cho những toan tính của J.Stalin và của một số
người khác, xác định đó là "nền tảng tư tưởng", là
"kim chỉ nam", để rồi buộc phải "trung thành" với nó
là một bi kịch. Tệ hại hơn, ai có ý định đặt lại vấn
đề đó thì bị xem như là phản bội, là "chống Đảng".
Đó chính là một ngộ nhận lịch sử hết sức lớn mà hệ
luỵ của nó thì không sao lường hết được…

c. Nói cho cùng, ngộ nhận lớn đó cũng là sản phẩm của một
giai đoạn lịch sử đầy những biến động trên phạm vi toàn
cầu với những khúc tráng ca chen lẫn những bi ca về số phận
của những dân tộc, những con người, trong đó có những
người cộng sản. Những trang lịch sử đầy kịch tính đó
không chỉ dành riêng cho đất nước ta, mà còn là đối với
cả hệ thống xã hội chủ nghĩa, từ Liên Xô, sang các nước
Đông Âu và rồi Trung Quốc, Mông Cổ, CHND Triều Tiên, Lào và
Cu ba. Sẽ còn phải tốn nhiều giấy mực để viết về bi
kịch lịch sử này nhằm rút ra những bài học cho những
người cộng sản, cho sự nghiệp phát triển của từng quốc
gia, dân tộc… Vấn đề đặt ra chính là, vì sao một nghịch
lý lớn đến như vậy mà trong suốt một thời gian dài, rất
dài,"giới lý luận chính thống" của ta không hề đề cập
đến? Những ai liều lĩnh mon men định đề cập đến những
vấn đề nói trên, những vấn đề mà giới nghiên cứu học
thuật "Mácxít" hoặc "Mác học" thế giới đang thường
xuyên tranh luận và trao đổi, đều bị quy kết là "chệch
hướng", là "xét lại". Sự bưng bít thông tin, tệ "độc
quyền tư tưởng, áp đặt tư duy và tuỳ tiện quy kết" của
một số ít người được giao trọng trách về công tác lý
luận, văn hoá tư tưởng và tổ chức đã khiến cho tầm mắt
của giới lý luận bị hạn chế. Họ dễ bị ru ngủ và nuôi
dưỡng trong những giáo điều cũ kỹ, lạc hậu, ẩm mốc mà
một số trong họ vẫn thành thật đinh ninh rằng mình "trung
thành" với sự nghiệp của Đảng.

Tình trạng lạc hậu của lý luận đã ảnh hưởng nặng nề
đến tư duy của Đảng khiến cho tầm mắt của không ít những
nhà lãnh đạo của Đảng cũng bị hạn chế. Đây chính là
nguyên nhân của mọi nguyên nhân đưa đến những sai lầm
khiếm khuyết trong đường lối, chính sách của Đảng, kìm hãm
sự phát triển của đất nước mà đáng ra Đảng đã có thể
đưa dân tộc mình sau khi đánh thắng thực dân, phát xít, đế
quốc từng là những thế lực làm mưa làm gió trên thế giới,
đã có thể bước mạnh trên con đường xây dựng lại đất
nước ta "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn", sánh vai cùng thế
giới.

Thật ra thì trước nay, những bộ óc lớn của Đảng cũng đã
từng tìm cách vượt qua những hạn chế của hệ thống lý
luận vốn bị tác động chi phối và ảnh hưởng nặng nề
của những tư tưởng sai lầm xuyên tạc lý luận của C.Mác và
đóng góp của V. Lênin, để nhào nặn lên cái gọi là "Chủ
nghĩa Mác-Lênin". Hồ Chí Minh là minh chứng nổi bật nhất,
tiêu biểu nhất. Từ những năm 20, 30 của thế kỷ XX, Nguyễn
Ái Quốc đã đưa ra những nhận định thật táo bạo, hoặc
như những quyết sách mạnh mẽ có ý nghĩa xoay chuyển cục
diện của thời kỳ chính quyền cách mạng còn trong trứng
nước, của việc đổi tên Đảng thành Đảng Lao Động Việt
Nam với sự khẳng định "Chính vì Đảng Lao động Việt Nam
là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên
nó phải là đảng của dân tộc Việt Nam" (Hồ Chí Minh Toàn
tập. Tập 1. NXBCTQG. Hà Nội. 1995. tr. 464 và 465)

Đáng tiếc là do những áp lực từ nhiều phía, đặc biệt là
ảnh hưởng của lý luận giáo điều tả khuynh "Maoít ",
luận điểm đúng đắn của Hồ Chí Minh về "Đảng của dân
tộc" đã không được triển khai đúng như nó cần phải có.
Cần nhớ rằng, không phải năm 1951 Hồ Chí Minh mới đưa ra
luận điểm này, mà cách đó ¼ thế kỷ, năm 1924 Nguyễn Ái
Quốc đã từng đòi hỏi phải "xem xét lại chủ nghĩa Mác
về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học
phương Đông" và khẳng định rằng "Chủ nghĩa dân tộc là
động lực lớn nhất của đất nước...Người ta sẽ không
thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các
động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của
họ". Vì sao ? Vì Nguyễn Ái Quốc đã sớm nhận ra ở Việt
Nam " cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở
phương Tây" (sdd).

Khi mà học thuyết khoa học và cách mạng của C.Mác bị
"nông dân hoá" trong quá trình "đi về phương Đông", để
rồi bị nhào nặn theo lý luận kiểu "maoít", thì việc
tỉnh táo soát xét lại não trạng của những người bị đầu
độc đến mức nào bởi nội dung "phản Mác" của nó là
hết sức cần thiết và bức xúc !..."


(7) Lo sợ "diễn biến hỏa bình" có nghĩa là thích" diễn
biến chiến tranh" tương tàn huynh đệ hay sao? Đổi thay, diễn
biến lả quy luật muôn đời. Đứng yên là bảo thủ, trì
trệ; là tụt hậu, tự sát. Ai cũng muốn "diễn biến hòa
bình" (không ai muốn "diễn biến chiến tranh") theo hướng
tiến bộ, văn minh: Tiếp tục công cuộc đổi mới đồng bộ,
mạnh mẽ, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì
dân (với thiết chế Tam Quyền Phân Lập), chôn vùi thể chế
lai căng toàn trị lỗi thời theo tà thuyết Lê nin.

(8) <strong>Mahatma Gandhi</strong>

Mahātmā Gāndhī (1869 – 1948), là anh hùng dân tộc Ấn Độ, đã
chỉ đạo cuộc kháng chiến chống chế độ thực dân của
Đế quốc Anh và giành độc lập cho Ấn Độ. Trong suốt cuộc
đời, ông phản đối tất cả các hình thức khủng bố bạo
lực và thay vào đó, chỉ áp dụng những tiêu chuẩn đạo
đức tối cao. Nguyên lí bất bạo lực (còn gọi là bất hại)
được ông đề xướng với tên Chấp trì chân lí (sa.
satyāgraha) đã ảnh hưởng đến các phong trào đấu tranh bất
bạo động trong và ngoài nước cho đến ngày nay, bao gồm phong
trào Vận động Quyền công dân tại Hoa Kỳ (American Civil Rights
Movement) được dẫn đầu bởi Martin Luther King, Jr..
Bằng phương tiện bất hợp tác, Gandhi đã dẫn khởi nền
độc lập Ấn Độ, đưa nước mình thoát sự đô hộ của Anh,
khích lệ những người dân bị đô hộ khác phấn đấu cho
nền độc lập của nước nhà và đả đảo triệt để Đế
quốc Anh. Nguyên lí Chấp trì chân lí của Gandhi cũng thường
được dịch là "con đường chân thật", "truy tầm chân lí",
đã cảm kích những người chủ trương hành động giành tự do
như Đạt-lại Lạt-ma Đăng-châu Gia-mục-thố (Tenzin Gyatso), Lech
Wałęsa, Stephen Biko, Aung San Suu Kyi và Nelson Mandela. Tuy nhiên,
không phải tất cả những nhà lĩnh đạo nêu trên đều theo
nguyên tắc bất bạo lực và bất kháng cự khắt khe của
Gandhi.
Gandhi thường nói là nguyên tắc của ông đơn giản, lấy từ
niềm tin truyền thống của Ấn Độ giáo: Chân lí (satya) và
bất bạo lực (ahiṃsā). Chính ông nói rằng: "Tôi chẳng có gì
mới mẻ để dạy đời. Chân lí và bất bạo lực đều có
từ xưa nay".

(9) <strong>Phan Châu Trinh (1872 - 1926)</strong>

Khoa Canh Tý (1900), Phan Châu Trinh đỗ cử nhân thứ ba ở
trường Thừa Thiên. Năm sau (1901), triều đình mở ân khoa, ông
đỗ phó bảng. Đến năm Quý Mão (1903) thì được bổ làm
Thừa biện Bộ Lễ.

Là người có học vấn, lại tiếp xúc với nhiều người có
tư tưởng canh tân và đọc được các tân thư[3], năm 1905, ông
từ quan, rồi cùng với hai bạn học là Trần Quý Cáp và Huỳnh
Thúc Kháng (cả hai đều mới đỗ tiến sĩ năm 1904) làm một
cuộc Nam du, với mục đích xem xét dân tình, sĩ khí và tìm
bạn đồng chí hướng.

Sau cuộc Nam du, Phan Châu Trinh ra Nghệ-Tĩnh, Thanh Hóa, Hà Nội
để gặp gỡ và hội ý với các sĩ phu tiến bộ, rồi lên căn
cứ Đề Thám quan sát tình hình, nhưng thấy khó có thể tồn
tại lâu dài[5].

Năm 1906, ông bí mật sang Quảng Đông (Trung Quốc) gặp Phan Bội
Châu, trao đổi ý kiến rồi cùng sang Nhật Bản, tiếp xúc với
nhiều nhà chính trị tại đây (trong số đó có Lương Khải
Siêu) và xem xét công cuộc duy tân của xứ sở này[6].

Mùa hè năm 1906, Phan Châu Trinh về nước. Việc làm đầu tiên
là gửi một bức chữ Hán (quen gọi là Đầu Pháp chính phủ
thư) cho Toàn quyền Jean Beau vạch trần chế độ phong kiến
thối nát, yêu cầu nhà cầm quyền Pháp phải thay đổi thái
độ đối với sĩ dân nước Việt và sửa đổi chính sách cai
trị để giúp nhân dân Việt từng bước tiến lên văn minh.
Sau đó, với phương châm "tự lực khai hóa" và tư tưởng
dân quyền, Phan Châu Trinh cùng Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp
đi khắp tỉnh Quảng Nam và các tỉnh lân cận để vận động
cuộc duy tân. Khẩu hiệu của phong trào lúc bấy giờ là: Chấn
dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh. Phương thức hoạt động
của phong trào là bất bạo động, công khai hoạt động nhằm
khai hóa dân tộc, cải cách trên mọi lãnh vực, khuyến khích
giáo dục bỏ lối học từ chương, phát động phong trào học
Quốc ngữ, mở mang công thương nghiệp, chấn hưng công nghệ,
bỏ mê tín dị đoan, kêu gọi cắt tóc ngắn, cắt ngắn móng
tay,...

Thời gian này, ông viết bài Tỉnh quốc hồn ca, kêu gọi mọi
người duy tân theo hướng dân chủ tư sản như vừa lược
kể[5].

Tháng 3 năm 1908, phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ nổ ra, và
bị nhà cầm quyền Pháp sai quân đi đàn áp dữ dội. Phan Châu
Trinh cùng nhiều thành viên trong phong trào Duy Tân bị nhà cầm
quyền buộc tội là đã khởi xướng nên đều bị bắt[7]

Phan Châu Trinh bị bắt ở Hà Nội, bị đày đi Côn Lôn ngày 4
tháng 4 năm 1908.

Tháng 8 năm đó, ông được đưa về đất liền. Tại Sài Gòn,
một hội đồng xử lại bản án cho ông được ân xá, nhưng
buộc xuống Mỹ Tho chịu quản thúc. Ở đây, ông làm nhiều
bài thơ về các nhân vật tên tuổi của Nam Kỳ.

Bởi không hoạt động gì được, ông viết thư cho Toàn quyền
Đông Dương đòi được sang Pháp hoặc trở lại Côn Lôn, nhất
định không chịu cảnh bị giam lỏng ở Mỹ Tho nữa. Vì vậy,
nhân có nghị định ngày 31 tháng 10 năm 1908 của chính phủ
Pháp về việc lập một nhóm giảng dạy tiếng Hán tại Pháp,
năm 1911, chính quyền Đông Dương cử một đoàn giáo dục Đông
Dương sang Pháp, có cả Phan Châu Trinh và con trai là Phan Châu
Dật.
Sang Pháp, việc đầu tiên của ông là đưa cho Hội Nhân quyền
Pháp bản điều trần về vụ trấn áp những người dân chống
sưu thuế tại Trung Kỳ năm 1908 (thường gọi là Trung Kỳ dân
biến thủy mạt ký).

Ngày 19 tháng 6 năm 1919, Phan Châu Trinh cùng với Phan Văn
Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành soạn bản
"Yêu sách của nhân dân An Nam" gửi cho Hội nghị Versailles, ký
tên chung là "Nguyễn Ái Quốc", và đã gây được tiếng vang.

Ngày 29 tháng 5 năm 1925, Phan Châu Trinh cùng nhà cách mạng trẻ
Nguyễn An Ninh xuống tàu rời nước Pháp, đến ngày 26 tháng 6
cùng năm thì về tới Sài Gòn. Sau đó, ông Ninh đưa ông về
thẳng khách sạn Chiêu Nam Lầu[10] của cha mình là ông Nguyễn
An Khương. Ở đây mấy ngày, thì ông về ở tại nhà riêng
của ông Khương ở Mỹ Hòa[11] để tiện việc tiếp đón bạn
bè đến thăm và trao đổi công việc, đồng thời cũng để
tiện cho ông Nguyễn An Cư (chú của ông Ninh, một lương y nổi
tiếng) chăm sóc sức khỏe.

Tuy bị bệnh nhưng Phan Châu Trinh cố gắng diễn thuyết thêm hai
đề tài là Ðạo đức và luân lý Đông Tây, Quân trị chủ
nghĩa và dân trị chủ nghĩa. Hai bài này đã có tác động
không nhỏ đến thế hệ trẻ tại Sài Gòn, trong đó có Tạ Thu
Thâu.

Đang lúc Phan Châu Trinh nằm trên giường bệnh, thì hay tin ông
Ninh vừa bị mật thám Pháp đến vây bắt tại nhà vào lúc 11
giờ 30 trưa ngày 24 tháng 3 năm 1926. Ngay đêm hôm đó, lúc 21
giờ 30, ông qua đời tại khách sạn Chiêu Nam Lầu và được
đem quàn tại Bá Huê lầu, số 54 đường Pellerin, Sài Gòn[12].

Hơn 6 vạn người dân đã đến Sài Gòn, không phân biệt chính
trị, đảng phái, tôn giáo tham dự, đã đưa linh cữu Phan Châu
Trinh đến nghĩa trang của hội Gò Công tương tế lúc 6 giờ
sáng ngày 4 tháng 4 năm 1926.

"Ngày đi chôn, dân chúng sắp hàng dài đi dọc đường
Pellerin, qua Norodom, quẹo Paull Planchy đến Phú Nhuận rồi thẳng
lên Tân Sơn Nhất. Hàng chục ngàn người nghiêm trang, tay đeo
băng tang xếp hàng đi, có thanh niên của Đảng Jeune Annam giữ
gìn trật tự suốt dọc đường. Một đám tang lớn chưa từng
có ở Sài Gòn, đám tang thể hiện sự giác ngộ của quần
chúng, đám tang là tấm lòng của đồng bào đối với nhà ái
quốc suốt đời chỉ nghĩ đến dân". "

— Nguyễn Thị Minh, Nguyễn An Ninh – "Tôi chỉ làm cơn gió
thổi"

Bất chấp sự ngăn cản của chính quyền thực dân, phong trào
làm lễ truy điệu Phan Châu Trinh được tổ chức rộng rãi ở
khắp ba kỳ, trở thành một sự kiện chính trị nổi bật lúc
bấy giờ.

Chủ trương cách mạng

Sau khi cáo quan về quê, Phan Châu Trinh dốc lòng vào công việc
cứu nước. Mặc dù rất đau xót trước cảnh thực dân Pháp
ngược đãi người Việt Nam, quan điểm của Phan Châu Trinh
trước mắt chưa nên đặt nhiệm vụ khôi phục chủ quyền
quốc gia, độc lập dân tộc (tức đánh đuổi Pháp), mà nhiệm
vụ cấp bách là phải:

• Khai dân trí: bỏ lối học tầm chương trích cú, mở
trường dạy chữ Quốc ngữ cùng kiến thức khoa học thực
dụng, bài trừ hủ tục xa hoa.

• Chấn dân khí: thức tỉnh tinh thần tự lực, tự cường,
mọi người giác ngộ được quyền lợi của mình, giải thoát
được nọc độc chuyên chế.

• Hậu dân sinh: phát triển kinh tế, cho dân khai hoang làm
vườn, lập hội buôn, sản xuất hàng nội hóa...

Cho nên sau khi ông vào Nam ra Bắc, sang Nhật, để trao đổi và
tìm hiểu, cuối cùng ông nhất quyết làm cuộc cải cách duy
tân cho quốc dân trong nước. Ngoài ra, ông gửi thư cho Toàn
quyền Beau ngày 15 tháng 8 năm 1906, chỉ trích chính phủ Pháp
không lo mở mang khai hóa cho dân mà chỉ lo thu thuế cho nhiều,
do đó dân đã khổ càng khổ hơn. Ông đề nghị chính phủ
Đông Dương nên thay đổi thái độ đối với sĩ dân nước
Nam, cải tổ mọi chính sách cai trị. Bức thư đã gây tiếng
vang lớn trong nhân dân, công khai nói lên tâm trạng bất mãn
của dân chúng và khẳng định quyết tâm cải biến hiện
trạng của đất nước.

Đối với đường lối hoạt động cứu nước của người
bạn thân là Phan Bội Châu (ông gặp Phan Bội Châu vào khoảng
tháng 7 năm 1904 và sau đó trở thành đôi bạn thân thiết), Phan
Châu Trinh rất hoan nghênh việc bạn và tổ chức của bạn (Duy
Tân hội) đã vận động được một số học sinh ra nước
ngoài học tập và phổ biến những tài liệu tuyên truyền giáo
dục quốc dân trong nước. Song, ông phản đối chủ trương
bạo động và tư tưởng bảo hoàng của người bạn này[13].

Thương tiếc

Phan Châu Trinh qua đời, có rất nhiều liễn đối và thơ văn
điếu ông. Trong số đó có bài điếu văn của Huỳnh Thúc
Kháng, người bạn thân thiết của ông, mang ý nghĩa lịch sử
rõ nét nhất về quan điểm chính trị của Phan Châu Trinh. Trích
một đoạn:

... Một đoạn lịch sử của tiên sinh hơn hai mươi năm trời,
nào bị tù đày, ở nước này sang nước khác, trải bao nhiêu
phen nguy hiểm, trong giây phút này không thể lược thuật lại
cho được; chúng tôi xin tóm tắt lại mà nói sơ: Chủ nghĩa
tiên sinh đệ nhất là đánh đổ chuyên chế, làm cho dân quyền
tự do, còn cái phương pháp tiến hành thì tiên sinh thường nói
rằng:

- Tình hình trong nước ta bây giờ đang vào nguy ngập, nếu
muốn cải cách thì cần liên lạc đoàn thể mới được. Tiếc
cho người nước mình còn đang mê mộng, đồng chí với tiên
sinh chẳng được mấy người . Vì vậy mà tấm lòng bị phân
hóa ra uất ức, uất ức hóa nên đại bệnh huống gì những
điều mắt thấy tai nghe dể làm cho tiên sinh cảm xúc mà đau
được, chết được, thương ôi!

- Thôi, đất vàng một nắm, giấc mộng ngàn thu, sự nghiệp anh
hùng, ngày nay hết cuộc. Chúng tôi chỉ mong mai sau này những
người kế chí tiên sinh, làm cho vẻ vang dân tộc Việt Nam ta.
Thì linh hồn tiên sinh sẽ được yên ổn mà ngậm cười nơi
suối vàng.

Một vài nhận xét

Trích một vài ý kiến (để tham khảo):

• Nhà sử học Phạm Văn Sơn:
Chủ trương của Phan Châu Trinh là muốn thi hành một chính sách
cải lương cho dân tộc Việt Nam. Chính sách mày đòi hỏi ba
điều căn bản, đó là: "Khai thông dân trí, loại bỏ quan
trường mục nát và tôn trọng dân quyền"...Nhưng nhờ vào ai
để thi hành chủ trương trên đây? Ông nhờ Pháp (ỷ Pháp cầu
tiến bộ). Nhưng có bao giờ giai cấp bị trị lại nhờ được
tầng lớp thống trị cải thiện đời sống hay làm cách mạng
cho mình?. Người Pháp từ vạn dặm đến đây, đổ bao xương
máu vì lợi ích riêng của họ. Sao ta lại có thể đòi hỏi
họ giúp ta giàu mạnh, khôn ngoan? Họ cần dân ta ngu hèn, quan
lại vong bổn mới có thể khai thác dân ta đến tận xương
tủy chứ?...Do đó, ta thấy chủ trương của ông quả là không
tưởng...Về sau này, nhờ sống 15 năm trên đất Pháp, ý thức
cách mạng của ông đã tiến bộ nhiều qua bài diễn thuyết
về đề tài "Quân trị và dân trị" vào đêm 19 tháng 11 năm
1925 tại Sài Gòn.
Dù có những nhận định khác nhau về lập trường chính trị
Phan Châu Trinh, nhưng không ai không công nhận ông là một
người có tư tưởng dân chủ sớm hơn hết ở Việt Nam[14].

• GS. Huỳnh Lý:
Phan Châu Trinh là một con người hoạt động, một chí sĩ yêu
nước nồng nhiệt, dũng cảm, bất khuất, có đầu óc tổ
chức và đầy sáng kiến, có những chủ trương dứt khoát và
mạnh bạo, như chủ trương cần phải lật đổ bộ áy phong
kiến chứ không thể dựa vào nó, cần phải nâng trình độ
nhân dân lên về mọi mặt: dân quyền, dân sinh, dân chủ, và
muốn thế phải làm một cuộc vận động "tự lực khai
hóa" rộng lớn...
Tuy nhiên, vào thời điểm lịch sử của ông, khi thế lực của
chủ nghĩa thực dân trên toàn cầu còn rất mạnh, việc ông
yêu cầu hết chính phủ ở Đông Dương đến chính khách tư
sản ở Pháp, thực hiện cải cách chính trị trước sau đều
vấp phải trở lực…nên cuối cùng dẫn ông đến thất bại.

Về sáng tác thơ văn, Phan Châu Trinh đã góp phần vào việc
thức tỉnh nhân tâm, làm dấy lên phong trào yêu nước sôi nổi
trong ba thập niên đầu thế kỷ 20[15].

• Nhóm tác giả sách Đại cương cương lịch sử Việt Nam:
Phan Châu Trinh là một tấm gương sáng trong phong trào Duy Tân
đầu thế kỷ 20. Ông là một nhà nho yêu nước có nhiều suy
nghĩ tiến bộ. Có thể xem ông là người có tư tưởng dân
chủ sớm nhất trong số các nhà nho yêu nước tiến bộ đầu
thế kỷ 20.

Đặc biệt hơn nữa là con đường ông chọn là con đường
dấn thân tranh đấu nhưng ôn hòa, bất bạo động. Đây là
điểm khác biệt chính giữa ông và Phan Bội Châu. Phan Châu
Trinh xem vấn đề dân chủ còn cấp bách hơn độc lập và tin
rằng có thể dùng luật pháp, cách cai trị có quy củ theo kiểu
Âu Mỹ để quét sạch những hủ bại của phong kiến. Với tinh
thần yêu nước nồng nhiệt, suốt đời gắn bó với vận
mệnh đất nước, với cuộc sống sôi nổi, gian khổ và thanh
bạch, ông xứng đáng để hậu thế ngưỡng mộ[16].

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/8949), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Các bài viết có liên quan của vụ án Cù Huy Hà Vũ được Dân Luận tập hợp tại đây: Hồ Sơ Cù Huy Hà Vũ, hoặc theo từ khóa "Cù Huy Hà Vũ".

Độc giả có thể truy cập Dân Luận an toàn hơn qua cổng HTTPS (HTTP có mã hóa bảo mật), bằng cách thêm https:// vào đằng trước địa chỉ danluan.org, hoặc bấm vào đây!
Bấm vào đây để đọc chuyên mục Góp ý sửa đổi Hiến Pháp 1992
Bấm vào đây để đọc cuốn Trần Huỳnh Duy Thức - Con Đường Nào Cho Việt Nam

Quỹ Dân Luận


Bấm nút Donate để ủng hộ tài chính cho Dân Luận qua Paypal. Thu chi quỹ Dân Luận: xem ở đây!

Hỗ trợ dân chủ

Bạn có thể chia sẻ tấm lòng của mình với các nhà hoạt động dân chủ trong nước và gia đình của họ, ngay cả khi bạn đang ở trong nước. Bạn chỉ cần ra bưu điện, hỏi về dịch vụ "chuyển tiền nhanh". Người ta sẽ cấp cho bạn một phiếu, trong đó có phần thông tin người gửi và người nhận. Phần người nhận bạn cần điền chi tiết và chính xác. Còn phần người gửi, bạn không cần điền chính xác. Phí chuyển tiền không đắt, hãy làm gì đó chứng tỏ xã hội đứng phía sau những công dân này!

Danh sách các nhà hoạt động dân chủ trong nước và địa chỉ của họ có thể được tìm thấy ở đây!

Dân Luận kêu gọi bài vở theo chủ đề: Nghiên cứu kinh nghiệm đấu tranh bất bạo động và xây dựng phong trào của Tổ chức Otpor (Phản Kháng) của Serbia. Đây là kinh nghiệm là các lực lượng đối kháng tại Tunisia và Ai Cập đã vận dụng để lật đổ độc tài tại các quốc gia này...

Bài mới trên Dân Luận

Archives