và lợi ích thực sự của Mỹ ở Đông Nam Á, Đông Á - Thái
Bình Dương. Điều này đặc biệt quan trọng trong quá trình xây
dựng mối quan hệ đối tác chiến lược, và các mối quan hệ
cụ thể trong từng lĩnh vực. Bởi ở mỗi thời điểm những
cản trở mang tính kỹ thuật lại rất khác nhau.
- <em>Tại sao ông lại cho rằng từ năm 1985 người Mỹ mới
thực sự quan tâm lại tới Việt Nam?</em>
Tình hình thế giới và khu vực từ lúc đó đã quá thay đổi.
Thứ nhất, sự đe doạ của Liên Xô không còn nữa, với việc
ông Michail Gorbachev lên nắm quyền vào đầu tháng 3.1985, và
tiến hành perestroika (cải tổ). Họ, một mặt, phải tập trung
vào giải quyết vấn đề của chính mình, và, mặt khác, lại
mở cửa với phương Tây, hoà dịu với Mỹ.
Thứ hai, cũng chính vì vậy, con bài Trung Quốc đối với
người Mỹ cũng bị giảm giá trị theo. Đó là chưa nói sự
trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc khiến họ cũng gặp phải
những vấn đề của mình, và trong quan hệ với Mỹ. Đỉnh
điểm là sự kiện Thiên An Môn năm 1989, khiến quan hệ Trung -
Mỹ trở nên căng thẳng.
Thứ ba, yếu tố khu vực cũng có sự tác động tích cực với
tiến trình Việt - Mỹ. Các nước ASEAN tuy vẫn phản đối
Việt Nam về chuyện đưa quân sang Campuchia, nhưng đã có những
nỗ lực muốn giảm sự đối đầu trong khu vực để chuyển
sang đối thoại. Bởi năm 1985 cũng là lần đầu tiên Việt Nam
đưa ra tuyên bố trước quốc tế là sẽ hoàn thành rút quân
khỏi Campuchia trước năm 1990.
Chẳng hạn như sáng kiến "Jakarta Cocktail" (Tiệc rượu Jakar ta)
của Ngoại trưởng Indonesia Ali Alatas giúp cho 4 phái kháng chiến
Campuchia ngồi với nhau, và các nước Đông Dương và ASEAN gặp
nhau không chính thức (JIM1 và JIM2)...
Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng, bản thân trong nội
bộ Việt Nam cũng có sự thay đổi mang tính bước ngoặt. Đại
hội Đảng đã khẳng định quyết tâm mở cửa và hội nhập
của Việt Nam để thoát khỏi thế bị bao vây, cô lập.
Về đối ngoại, đây cũng là dấu mốc chính thức cho chủ
trương đối thoại thay cho đối đầu - tiền đề cho quá trình
bình thường hoá quan hệ, không chỉ riêng với Mỹ.
- <em>Nhưng tại sao phải mất tới 10 năm, với ba nhiệm kỳ
tổng thống nữa (Reagan, Bush cha và Clinton), hai nước mới có
thể chính thức hoàn tất việc bình thường hoá quan hệ ngoại
giao?</em>
Cuối năm 1986, ngay trước Đại hội Đảng VI của Việt Nam,
phía Mỹ có cử một đoàn do hai hai thượng nghị sĩ là Hart và
Lugar dẫn đầu vào Việt Nam. Họ vào gặp Bộ trưởng Ngoại
giao Nguyễn Cơ Thạch, nói rằng tình hình khu vực thay đổi và
phía Mỹ muốn đối thoại với Việt Nam. Hai điều kiện họ
đưa ra để nối lại đàm phán bình thường hoá là giải
quyết vấn đề POW/MIA và Việt Nam phải rút quân khỏi
Campuchia.
Bộ trưởng Thạch hiểu câu chuyện, hiểu người Mỹ, và ông
biết Việt Nam phải hợp tác tốt trong vấn đề POW/MIA thì Mỹ
mới bỏ cấm vận kinh tế, trước khi bình thường hoá quan
hệ.
Ông nói với phía Mỹ rằng đây là vấn đề nhân đạo nên hai
bên cùng thể hiện thiện chí với nhau, và đề xuất mở hai
diễn đàn: một diễn đàn về POW/MIA, và diễn đàn kia về
việc giúp đỡ những người bị tàn tật trong chiến tranh với
chân tay giả, xe đẩy... Phía Mỹ thấy có thể chấp nhận
được, và OK ngay.
Phải nói ông hành động rất khôn khéo, vẹn cả đôi đường.
Nhưng cho dù Việt Nam đã hoàn tất việc rút quân vào tháng
9.1989, đến tận năm 1991, phía Mỹ vẫn chưa tin. Họ bảo rằng
biết đâu Việt Nam rút ở đầu này, nhưng lại vào Campuchia ở
đầu khác.
Còn đối với vấn đề POW/MIA, trong Quốc hội Mỹ có nhiều
nghị sĩ, nổi bật nhất là Thượng nghị sĩ Đảng Cộng hoà
Bob Smith, của bang New Hampshire, luôn dùng luận điểm này để
chống bình thường hoá với Việt Nam. Ông Bob Smith này luôn nói
là Việt Nam vẫn còn giam giữ tù binh Mỹ, và điều này tác
động đến lòng người ở Mỹ rất mạnh, nhất là đối với
hiệp hội những gia đình có người thân mất tích trong chiến
tranh và một số tổ chức cựu binh Mỹ.
Tôi còn nhớ là sang đến nhiệm kỳ của Tổng thống George H.W.
Bush (cha), khoảng năm 1990-1991 gì đó, có một đoàn của Mỹ
sang Việt Nam, và yêu cầu cho phép họ kiểm tra xem Việt Nam còn
giam giữ tù binh Mỹ hay không. Ông trợ lý ngoại trưởng Mỹ,
tôi không nhớ tên, nói: "Sau khi ăn cơm trưa ở Nhà khách Chính
phủ, các ông đưa chúng tôi sang Sân bay Gia Lâm, có một trực
thăng chuẩn bị sẵn ở đó. Lúc đó chúng tôi mới nói cần
đi đâu."
Bộ trưởng Thạch lại quyết định ngay: Phải chấp nhận mới
xây dựng được lòng tin. Lên máy bay, họ chỉ về phía Nam,
đến một khu rừng ở Thanh Hoá, đến một cái trại giam tù
binh thời chiến tranh, lán trại đã mục nát. Chúng tôi chỉ cho
họ xem cỏ mọc dày hết cả lối đi, tức là đã lâu lắm
rồi không có người qua lại, lúc đó họ mới tin.
Rồi sang thời của Tổng thống Bill Clinton, khi Việt Nam và Mỹ
đã thoả thuận rằng Mỹ sẽ bỏ cấm vận vào mùa hè năm
1993, và thiết lập quan hệ ngoại giao ở mức cơ quan liên
lạc, sau chuyến đi của đặc phái viên tổng thống, cựu
ngoại trưởng Edmund Musky vào tháng 4 năm đó, thì bên Mỹ lại
rộ lên chuyện "tài liệu Nga".
- <em>Tôi còn nhớ vào khoảng tháng 5.1993, nhóm làm phim của ABC
News vào Việt Nam với mục đích xác minh lại câu chuyện đó,
và yêu cầu gặp bằng được Trung tướng Trần Văn Quang. Phóng
viên Jim Laurie nói với hai anh em hướng dẫn viên báo chí
(thuộc Trung tâm Báo chí Nước ngoài, Bộ Ngoại giao) rằng họ
vừa ghé qua Moscow trước khi đến đây, và còn giơ cho chúng
tôi xem bản "tài liệu Nga" đó.</em>
<em>Câu chuyện đầu đuôi thế nào nhỉ, thưa ông?</em>
Một nhân vật chống Việt Nam rất mạnh tên là Stephen Morris,
làm tại Đại học John Hopkins, đã tung ra bản tài liệu đó và
nói rằng ông ta đã lấy được khi qua Moscow. Theo tài liệu
này, Trung tướng Trần Văn Quang đã báo cáo với Bộ Chính trị
Việt Nam liên quan đến những tù binh Mỹ được gửi sang Liên
Xô.
Thế là Chính phủ Mỹ liền tập trung điều tra, yêu cầu gọi
Tướng Quang và những người Nga có liên quan trả lời về nghi
vấn này. Trong khi đó, Đại tá tình báo Nga Kalugin lại đổ
thêm dầu vào lửa, khi phát biểu rằng vấn đề này là có
thật.
Vì tài liệu đó mà cần thời gian xác minh, loại bỏ hiểu
lầm. Nhưng chuyến đi của ông Musky coi như thất bại. Những
gì mà cả hai chính phủ kỳ vọng đã bị vô hiệu hoá.
Tôi vẫn còn nhớ, đầu năm 1993, Bộ Ngoại giao đã cử tôi đi
làm đại sứ tại Liên Hợp Quốc, với tâm thế là sẽ đi
Washington D.C. để thành lập cơ quan liên lạc, và bàn giao
nhiệm vụ ở LHQ cho người phó của tôi là ông Ngô Quang Xuân.
Và đến tháng 7.1993, Tổng thống Clinton chỉ tiến thêm được
một bước nữa trong việc tiếp tục nới lỏng cấm vận, khi
quyết định cho Việt Nam tiếp cận các khoản vay của Ngân
hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Còn việc
thiết lập cơ quan liên lạc hai bên phải chờ thêm một năm
rưỡi nữa (1.1995), sau khi Tổng thống Clinton dỡ bỏ hoàn toàn
lệnh cấm vận kinh tế gần một năm trước đó (3.2.1994).
- <em>Công việc của ông với tư cách là Trưởng phòng Liên
lạc, cho tới khi Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bình thường
hoá quan hệ Mỹ - Việt, và ông trở thành Đại biện Lâm
thời?</em>
Thì vẫn tiếp tục thúc đẩy vấn đề POW/MIA. Ngoài ra là các
vấn đề nhân đạo và giải quyết những tồn đọng trong
chiến tranh.
Chẳng hạn phía Mỹ đòi Việt Nam phải trả khoản tiền hơn
200 triệu USD do công dân Mỹ để lại ở Sài Gòn khi di tản
vào tháng 4.1975, như nhà, ô tô, tài sản....
Chủ yếu là do họ tự kê khai và qui ra tiền thôi, nhưng đàm
phán đi đàm phán lại, rút cục, chúng ta vẫn phải chấp
nhận. Nhưng, đổi lại, phía Mỹ đã hứa dùng toàn bộ số
tiền này để giúp Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục, và đưa
vào quỹ học bổng Fulbright, mỗi năm chi đâu khoảng 6-7 triệu
USD.
Món nợ của quá khứ đã trở thành khoản đầu tư cho tương
lai.
- <em>Với tư cách là người tham gia từ đầu tới cuối tiến
trình bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Mỹ, và cũng là
đại sứ Việt Nam đầu tiên ở Mỹ, ông nhìn nhận thế nào
về tiến trình này?</em>
Kể từ thời điểm bình thường hoá đến tận bây giờ, vị
trí địa chiến lược của Việt Nam ở Đông Nam Á đã đóng
vai trò quyết định trong những quyết định lớn Mỹ trong quan
hệ với Việt Nam. Dù quan hệ của họ với Trung Quốc vẫn
tiếp tục cải thiện, nhưng họ vẫn cần có thêm những mối
quan hệ cho nặng đồng cân. Đó là lý do họ duy trì và củng
quan hệ với Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và các nước Đông
Nam Á khác, họ vẫn chủ trương mở rộng quan hệ với chúng
ta, từ ngoại giao sang thương mại, giáo dục, và cả an ninh,
quốc phòng nữa.
Nói tóm lại, Mỹ luôn tính tới Việt Nam trong việc đàm phán
và quan hệ với các cường quốc khác.
Tuy nhiên, có thể quyết sách dựa trên lợi ích là vậy, nhưng
giải quyết các vấn đề nội bộ lại là chuyện khác. Cho nên
tuy Clinton muốn xoá bỏ cấm vận, bình thường hoá, hay đạt
thoả thuận thương mại song phương, ông vẫn cần những ông
nghị sĩ cả hai đảng đứng đằng sau, nhất là những thượng
nghị sĩ vốn là cựu binh John Kerry, hay John McCain, để hỗ trợ
ông.
Chúng ta phải phân biệt những cản trở mang tính kỹ thuật và
lợi ích thực sự của Mỹ ở Đông Nam Á, Đông Á - Thái Bình
Dương. Điều này đặc biệt quan trọng trong quá trình xây
dựng mối quan hệ đối tác chiến lược, và các mối quan hệ
cụ thể trong từng lĩnh vực. Bởi ở mỗi thời điểm những
cản trở mang tính kỹ thuật lại khác nhau.
<h2>Giải mã về "Mr. America" Nguyễn Cơ Thạch</h2>
- <em>Tôi thấy ông mấy lần nhắc tới cố Bộ trưởng Nguyễn
Cơ Thạch. Ấn tượng của ông như thế nào về vai trò của
ông Thạch trong tiến trình này?</em>
Nói đến tiến trình bình thường hoá quan hệ Việt - Mỹ, về
phía Việt Nam, người đầu tiên phải nhắc đến là ông
Nguyễn Cơ Thạch, đặc biệt là từ khi ông trở thành bộ
trưởng ngoại giao. Đồng thời là Uỷ viên BCT và Phó Thủ
tướng Chính phủ, ông có vai trò quan trọng trong việc hoạch
định chính sách đối ngoại của Việt Nam. Ông là người luôn
chủ động tìm kiếm các kênh khác nhau để thúc đẩy tiến
trình này.
Tôi còn nhớ giai đoạn 1987-1988, hai bên vẫn gặp nhau để bàn
thảo những công việc liên quan tới POW/MIA, nhưng phía Mỹ yêu
cầu không đưa vấn đề bỏ cấm vận vào chương trình làm
việc. Họ không được phép của chính phủ Mỹ.
Ông Thạch bảo phải tìm thêm một kênh nữa để có thể nói
chuyện về bỏ cấm vận và bình thường hoá. Thế là vào mùa
thu năm 1988, ông đã viết thư cho ông William Sullivan, người
đồng cấp với ông trong đàm phán Hiệp định Hoà bình Paris
và ông vẫn giữ được quan hệ kể từ đó.
Ông Sullivan có sang London gặp Đại sứ Việt Nam tại đó. Rồi
từ London, ông Thạch mời ông Sullivan sang đây, và họ có thể
nói chuyện nhiều thứ, chứ không bị bó buộc như đối với
trường hợp của đặc phái viên của Tổng thống, Đại
tướng John Vessey.
Hội đồng Thương mại Việt - Mỹ, một tổ chức có vai trò
rất quan trọng trong việc thúc đẩy vấn đề POW/MIA, cũng như
xoá bỏ cấm vận với Việt Nam, tất nhiên theo một cách riêng,
đã ra đời theo sáng kiến của họ. Chị Ginny Foote là thư ký
của ông Sullivan, còn tôi cũng ở vai thư ký của ông Thạch nên
ngồi những cuộc như thế tôi biết rất rõ.
- <em>Ông là người khá gần gũi với ông Thạch trong công
việc. Nét tính cách nào của ông Thạch khiến ông thấy ấn
tượng nhất?</em>
Hài hước. Ông nói nhiều câu mà người Mỹ ngỡ ngàng.
Chẳng hạn, có một đoàn Mỹ sang đây năm 1988, khi làm việc,
thấy câu chuyện hơi căng thẳng, tự nhiên ông hỏi: Các ông
có thuốc nổ không? Chúng tôi muốn nhập.
Họ hỏi lại nhập làm gì, và giải thích là việc đó không
hề dễ dàng theo qui định của hệ thống pháp luật của Mỹ.
Ông bảo: Tôi muốn làm nổ tung mấy nhà máy in tiền của chúng
tôi đi. Lạm phát cao quá!
Cả Mỹ, cả ta cười ồ lên. Không khí trao đổi tự nhiên
dịu hẳn đi.
- <em>Khi ông Nguyễn Cơ Thạch nghỉ năm 1992, tôi nghe nói có nhà
báo Mỹ nhận xét ông là "the right man of the wrong time" (con
người đúng ở thời điểm sai). Ông nghĩ sao về nhận xét
đó?</em>
(Cười). Tôi nghĩ đã là lãnh đạo thì không thể đi ngang
bằng, hoặc đi sau, so với những người còn lại trong đoàn
người. Bởi như vậy thì làm sao thực hiện vai trò dẫn dắt
được. Nhưng, ngược lại, cũng đừng đi nhanh quá mà anh bị
mất hút đối với đám đông.
- <em>Ý ông là ông Thạch đi quá nhanh?</em>
Cũng khó nói là ông Thạch đi quá nhanh, hay những người còn
lại đi quá chậm. Chỉ có điều, nói một cách hình tượng,
trên thực tế, khoảng cách giữa ông và mọi người là 10 mét,
trong khi, trong sương mù, người ta chỉ nhìn rõ được 5 mét
thôi.
Trong quan hệ với một nước khác, họ cứ đồn ông Thạch là
Mr. America, nhưng hoàn toàn không phải. Ông là một người rất
Việt Nam, nhưng sáng suốt biết chọn bước đi đúng đắn, có
lợi cho mở cửa và đổi mới kinh tế đất nước.
Xin cảm ơn ông.
<div class="special_quote"><h2>Trích hồi ký Trần Quang Cơ: ĐẠI
HỘI VII VÀ CÁI GIÁ PHẢI TRẢ CHO VIỆC BÌNH THƯỜNG HOÁ QUAN
HỆ VỚI TRUNG QUỐC</h2>
Từ 17 đến 27.6.91 Đảng Cộng sản Việt Nam họp Đại hội
lần thứ VII đưa lại nhiều thay đổi quan trọng về nhân sự:
Đỗ Mười thay Nguyễn Văn Linh làm TBT; Lê Đức Anh nay nghiễm
nhiên giữ vị trí thứ 2 trong Đảng, Uỷ viên thường trực BCT
kiêm bí thư trung ương phụ trách cả 3 khối quốc phòng – an
ninh – ngoại giao và lên chức Chủ tịch nước. Võ Văn Kiệt
được giới thiệu với Nhà nước cử làm Chủ tịch Hội
đồng Bộ trưởng; Đào Duy Tùng thường trực Ban bí thư. Bộ
ba Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng nắm bộ phận thường
trực của Bộ Chính trị và của Ban Bí thư. Đại tướng Võ
Nguyên Giáp bị gạt ra khỏi chức uỷ viên Trung ương. Còn
Nguyễn Cơ Thạch bị bật ra khỏi Bộ Chính trị và chuẩn bị
thôi chức Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao... (thực ra những thay
đổi về nhân sự trong BCT đã được quyết định từ tháng 5
và Trung Quốc đã biết). Dư luận quốc tế xôn xao cho rằng
Nguyễn Cơ Thạch là "vật tế thần" trong việc Việt Nam
bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng đó
mới chỉ là một cách nói đơn giản vì vấn đề không chỉ
là bình thường hoá quan hệ mà là phụ thuộc hoá quan hệ...
Nguồn: http://danluan.org/node/295</div>
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10831), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét