Trương Đắc Linh - Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946: Một mốc son lịch sử của thể chế dân chủ Việt Nam

<div class="boxleft320"><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub02/1115182311.jpg" width="320"
height="245" alt="1115182311.jpg" /><div class="textholder">Tổng tuyển
cử bầu Quốc hội Khóa I ngày 6/1/1946</div></div>
Ngày 3/9/1945, chỉ một ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc
lập khai sinh ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tại
phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã đề nghị một trong sáu nhiệm vụ cấp bách cần
phải thực hiện ngay là "<em>... tổ chức càng sớm càng hay
cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu
phiếu</em>" để bầu ra Quốc hội. Quốc hội đó là cơ quan
có quyền lực tối cao của nhân dân sẽ cử ra một Chính phủ
thật sự của toàn dân và ấn định cho nước Việt Nam một
hiến pháp dân chủ [1]. Vượt lên muôn vàn khó khăn của thù
trong, giặc ngoài với những âm mưu đen tối của các thế lực
phản động định tiêu diệt cách mạng Việt Nam, cũng như
giặc đói, giặc dốt... là di chứng của chế độ thực dân
đế quốc để lại, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946
đã được tổ chức thành công, một cuộc bầu cử thật sự
tự do, thật sự dân chủ, là mốc son lịch sử của thể chế
dân chủ ở Việt Nam. Nhân kỷ niệm 60 năm cuộc Tổng tuyển
cử đầu tiên năm 1946, việc nghiên cứu để kế thừa và phát
triển những quy định của các sắc lệnh đầu tiên về Tổng
tuyển cử và thực tiễn tổ chức cuộc Tổng tuyển cử này
trong tiến trình đổi mới hệ thống chính trị nói chung, đổi
mới chế độ bầu cử ở nước ta hiện nay nói riêng là rất
cần thiết và có ý nghĩa.

<h2>1. Những sắc lệnh đầu tiên về Tổng tuyển cử là cơ
sở pháp lý nền tảng của một chế độ bầu cử thực sự
tự do, thực sự dân chủ</h2>

Sau khi quyết định tổ chức tổng tuyển cử, Chính phủ lâm
thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã khẩn trương
xây dựng và ban hành gần một chục sắc lệnh về bầu cử
nhằm bảo đảm cơ sở pháp lý cho cuộc Tổng tuyển cử
được tự do, dân chủ. Cùng với việc ban hành các sắc lệnh
về Tổng tuyển cử, Chính phủ lâm thời cũng công bố bản
dự thảo Hiến pháp đầu tiên để nhân dân tham gia ý kiến
[2]. Nghiên cứu các quy định của các sắc lệnh về Tổng
tuyển cử đầu tiên của nước ta có thể rút ra một số
nhận xét sau:

<strong>Một là</strong>, Trong lịch sử hiếm có một quốc gia
nào vừa giành được độc lập, với biết bao khó khăn đang
chồng chất lại dám quyết định tổ chức một cuộc tổng
tuyển cử thật sự dân chủ và sớm ban bố những sắc lệnh
về Tổng tuyển cử và dự thảo Hiến pháp như nước Việt Nam
ta hồi bấy giờ [3].

Điều này thể hiện ở chỗ: chỉ một ngày sau khi tuyên bố
Độc lập, Chính phủ lâm thời đã quyết định tổ chức
tổng tuyển cử. Năm ngày sau đó, ngày 8/9/1945 ban hành Sắc
lệnh đầu tiên (SL số 14) để chính thức ấn định sau 2
tháng sẽ mở cuộc tổng tuyển cử. Ngày 26/9/1945, ban hành Sắc
lệnh số 39 về lập một Uỷ ban dự thảo thể lệ Tổng
tuyền cử [4]. Chỉ trong vòng một tháng rưỡi Uỷ ban này đã
soạn thảo xong bản dự thảo để Chính phủ chính thức ban
hành Sắc lệnh số 51 ngày 17/10/1945 về Thể lệ Tổng tuyển
cử với những quy định thật sự tự do, thật sự dân chủ
và kèm theo Sắc lệnh này là Bảng ấn định số đại biểu
các tỉnh và thành phố được bầu. Ngày 2/12/1945, Chính phủ
ban hành tiếp Sắc lệnh số 71 và Sắc lệnh số 72 để sửa
đổi, bổ sung Sắc lệnh 51 về thủ tục ứng cử; bổ sung số
đại biểu được bầu cho một số tỉnh để nâng tổng số
đại biểu Quốc hội lên 330 đại biểu. Để tạo điều kiện
cho những người có quyền ứng cử và có nguyện vọng ứng
cử có đủ thời gian ứng cử và vận động tuyển cử, ngày
18/12/1945, Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh số 76 quyết định
hoãn cuộc Tổng tuyển cử đến ngày 6/1/1946[5] v.v.

Cũng cần phải nói thêm rằng, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa
ra đề nghị tổ chức Tổng tuyển cử, thấy một số người
tỏ vẻ lo lắng cuộc Tổng tuyển cử sẽ không có kết quả,
do trình độ nhân dân lúc bấy giờ quá thấp, Bác Hồ với
lòng tin tuyệt đối vào nhân dân, đã khẳng định: nhân dân
sẽ biết sử dụng lá phiếu của mình. Tổng tuyển cử nhất
định thành công [6].

<strong>Hai là</strong>, Các sắc lệnh về Tổng tuyển cử đầu
tiên ở nước ta đã có những quy định thể hiện một cách
triệt để nội dung, yêu cầu nguyên tắc tự do bầu cử, ứng
cử của công dân.

Điều 2 Sắc lệnh 14 và Sắc lệnh 51 quy định rõ: "<em>Tất
cả công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên không phân biệt nam
nữ đều có quyền bầu cử và ứng cử...</em>". Nguyên tắc
tự do bầu cử trong cuộc Tổng tuyển cử được Chủ tịch
Hồ Chí Minh giải thích trên báo Cứu Quốc ngày 30/12/1945:
"<em>... hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền
ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử.
Không chia gái trai, giầu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp,
đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền
đó</em>"[7].

Trong các quyền bầu cử và ứng cử, quyền tự do ứng cử
của công dân là đặc biệt quan trọng. Điều 11 Sắc lệnh 51
ngày 17/10/1945 quy định: chậm nhất là 15 ngày trước ngày bỏ
phiếu, công dân có quyền bầu cử muốn ứng cử chỉ cần
gửi thẳng đơn ứng cử lên UBND tỉnh (hay thành phố) nơi mình
ra ứng cử kèm theo giấy chứng nhận của UBND nguyên quán hoặc
nơi trú ngụ là đủ điều kiện ứng cử. Còn Điều 12 Sắc
lệnh 51 quy định: Người ứng cử được tự do ứng cử nơi
mình chọn lấy nhưng chỉ một nơi ấy thôi. Hơn thế nữa, do
giao thông khi đó đi lại khó khăn, để tạo điều kiện thuận
lợi tối đa cho công dân có quyền bầu cử thực hiện được
quyền tự do ứng cử, Sắc lệnh số 71 ngày 2/12/1945 còn sửa
đổi quy định Điều 11 Sắc lệnh 51 nói trên để người ứng
cử chỉ cần "<em>gửi đơn ứng cử cho UBND nơi mình trú
ngụ</em>" và "<em>yêu cầu UBND ấy điện cho UBND tỉnh (thành
phố) nơi mình xin ứng cử</em>" thì đã được đưa tên vào
danh sách ứng cử của tỉnh hoặc thành phố đó. Còn đơn và
giấy chứng nhận đủ điều kiện ứng cử sẽ do UBND nơi trú
ngụ chuyển sau cho UBND tỉnh, thành phố. Có lẽ từ trước
đến nay, chưa ở đâu và chưa bao giờ pháp luật bầu cử lại
có quy định về thủ tục ứng cử đơn giản, thuận lợi và
độc đáo như quy định này của Sắc lệnh số 71 ngày 2/12/1945
do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành.

Đặc biệt, khi thấy có những nhân sĩ muốn ra ứng cử nhưng
không đủ thì giờ để nộp đơn và vận động tranh cử, ngày
18/12/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 76 của
Chính phủ lâm thời quyết định hoãn cuộc Tổng tuyển cử
đến ngày 6/ 1/1946 và quy định hạn nộp đơn ứng cử kéo dài
đến ngày 27/12/1945 để những người có quyền ứng cử và có
nguyện vọng ứng cử đủ thời gian nộp đơn ứng cử và vận
động tranh cử.

Nguyên tắc bầu cử tự do còn thể hiện trong các quy định
về tự do vận động tranh cử. Sắc lệnh số 51 về Thể lệ
Tổng tuyển cử quy định về vận động tuyển cử, trong đó
xác định: mọi cá nhân và tổ chức được tự do vận động
tuyển cử, nhưng cuộc vận động không được trái với nền
Dân chủ cộng hòa. Những cuộc tuyên truyền vận động có
tính cách phương hại đến nền độc lập và cuộc trị an
đều bị cấm (Điều 3 - Điều 6) v.v.

Những quy định nói trên của các sắc lệnh về Tổng tuyển
cử thể hiện triệt để nguyên tắc tự do bầu cử, là cơ
sở pháp lý rất quan trọng bảo đảm cho mọi công dân có
quyền bầu cử muốn ứng cử đều có thể thực hiện được
trực tiếp và dễ dàng quyền tự do ứng cử, tự do vận
động tranh cử của mình. Chính vì vậy nguyên tắc này đã đi
vào cuộc sống, trở thành hiện thực sinh động của một
cuộc Tổng tuyển cử thực sự tự do, thực sự dân chủ.
Điều này cũng lý giải tại sao trong cuộc Tổng tuyển cử
ngày 6/1/1946, để bầu được 333 đại biểu đã có hàng nghìn
người ứng cử và ở mỗi đơn vị bầu cử (tỉnh hay thành
phố), số ứng cử viên nhiều hơn gấp nhiều lần số đại
biểu cần bầu. Ví dụ, ở thành phố Hà Nội (nơi Chủ tịch
Hồ Chí Minh ứng cử), được bầu 6 đại biểu nhưng có tới
74 người ứng cử.

<strong>Ba là</strong>, Các sắc lệnh về Tổng tuyển cử đầu
tiên ở nước ta thể hiện triệt để ngay nội dung, yêu cầu
các nguyên tắc bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và
bỏ phiếu kín.

Nguyên tắc bầu cử phổ thông đầu phiếu trong cuộc tổng
tuyển cử đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định tại
phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3/9/1945:
"<em>Tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền bầu cử
và ứng cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng
giống...</em>". Nguyên tắc này được chính thức quy định tại
Điều 2 Sắc lệnh số 14 và Sắc lệnh số 51.

Mục đích của nguyên tắc bầu cử phổ thông là nhằm thu hút
tuyệt đại đa số dân cư ở trong nước đạt đến độ tuổi
trưởng thành nhất định theo quy định của pháp luật tham gia
vào bầu cử. Nhưng điểm độc đáo của việc áp dụng triệt
để nội dung, yêu cầu của nguyên tắc này trong cuộc Tổng
tuyển cử đầu tiên ở nước ta là pháp luật không chỉ bảo
đảm quyền bầu cử cho những người đang là công dân Việt
Nam, mà còn bảo đảm cho cả những người nước ngoài đã
sống lâu năm ở Việt Nam, tỏ lòng trung thành với nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa và có mong muốn được tham gia Tổng
tuyển cử cũng được tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất
cho họ thực hiện quyền bầu cử. Vì vậy, ngày 7/12/1945, Chủ
tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 73 quy định điều kiện,
thủ tục cho người nước ngoài được nhập quốc tịch Việt
Nam để họ trở thành công dân Việt Nam, được hưởng quyền
bầu cử. Điều đặc biệt đáng lưu ý là thủ tục nhập
quốc tịch nếu theo Điều 4 Sắc lệnh số 73 thì đơn xin nhập
quốc tịch phải qua UBND tỉnh, rồi chuyển tiếp cho Ủy ban
kỳ, sau đó được chuyển cho Bộ Tư pháp xem xét và quyết
định. Nhưng Điều 5 của Sắc lệnh 73 quy định: "<em>những
người xin nhập quốc tịch Việt Nam mà được Ủy ban nhân dân
tỉnh thấy có đủ điều kiện và ưng nhận, thì được
hưởng ngay quyền bầu cử và ứng cử, không phải chờ sắc
lệnh cho nhập quốc tịch Việt Nam</em>".

Về nguyên tắc bầu cử bình đẳng: Trong các nguyên tắc cơ
bản về quyền con người nói chung, về quyền bầu cử nói
riêng, nguyên tắc bình đẳng là quan trọng nhất. Sắc lệnh
về Tổng tuyển cử quy định nguyên tắc bầu cử bình đẳng,
nhất là bình đẳng nam nữ về quyền bầu cử, ứng cử ngay
trong những ngày đầu tiên của nền Cộng hòa dân chủ nhân
dân ở nước ta có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Vì như
chúng ta đã biết, Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ
đưa ra tuyên bố bất hủ: "<em>Tất cả mọi người đều sinh
ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai
có thể xâm phạm được...</em>". Bản Tuyên ngôn nhân quyền
và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng khẳng định
một điều không ai có thể chối cãi được: "<em>Người ta sinh
ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn
được tự do và bình đẳng về quyền lợi</em>". Nhưng chế
độ bầu cử ở một số nước trước đây suốt một thời
gian dài cả hàng trăm năm sau những tuyên bố "bất hủ" này
về quyền bình đẳng đã phân biệt về giới tính để tước
đoạt quyền bầu cử, ứng cử của phụ nữ. Nước Mỹ, mãi
năm 1920 Hiến pháp mới quy định cho phụ nữ có quyền bầu
cử; còn quyền bầu cử của phụ nữ nước Anh là năm 1928,
Italia năm 1945. Nước Pháp từng tự xưng là đi "khai hóa văn
minh" cho các nước khác, trong đó có Việt Nam, nhưng trước năm
1946 phụ nữ Pháp cũng không được hưởng quyền bầu cử.
Thậm chí, phụ nữ Thuỵ Sĩ phải mãi đến năm 1971 mới
được hưởng quyền bầu cử... Cho nên nguyên tắc bầu cử
bình đẳng không phân biệt nam nữ mà các sắc lệnh về Tổng
tuyển cử đầu tiên của nước ta đã quy định càng có ý
nghĩa và giá trị tiến bộ, nhân văn sâu sắc hơn. Khi mà ở
nước ta hàng nghìn năm dưới chế độ phong kiến với lễ
giáo "tam tòng" [8], người phụ nữ không có địa vị gì, cả
trong xã hội cũng như trong gia đình, nay được hưởng ngay
quyền bầu cử, ứng cử như nam giới. Chính nguyên tắc bầu
cử bình đẳng không phân biệt nam nữ này đã nâng địa vị
người phụ nữ Việt Nam lên ngang hàng với nam giới và sánh
vai cùng phụ nữ các nước có nền pháp lý dân chủ, văn minh,
tiến bộ đương thời.

Để bảo đảm nguyên tắc bầu cử bình đẳng, pháp luật về
Tổng tuyển cử quy định rõ: Mỗi cử tri chỉ được đi bầu
một nơi hoặc ở nguyên quán, hoặc ở một nơi mà cử tri đã
trú ngụ ít nhất là 3 tháng tính đến ngày bầu cử (Điều 17
SL 51). Đơn vị bầu cử được xác định là tỉnh hoặc thành
phố [9], số đại biểu một tỉnh (hay thành phố) căn cứ vào
dân số của tỉnh (hay thành phố) đó để ấn định và cử
tri sẽ bầu thẳng các đại biểu trong một danh sách chung các
ứng cử viên của tỉnh hay thành phố. Người ứng cử được
tự do ứng cử nơi mình chọn lấy nhưng chỉ một nơi ấy
thôi. Để bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, nếu người ứng
cử nào ứng cử nhiều nơi hoặc khai gian những giấy chứng
thực về điều kiện ứng cử sẽ bị phạt... (Điều 7 -
Điều 12 SL 51).

Những quy định này thể hiện triệt để nguyên tắc bầu cử
bình đẳng, đặc biệt là quyền bình đẳng của những người
ứng cử (dù là Chủ tịch Chính phủ lâm thời hay một công
dân bình thường) trong việc tự mình lựa chọn một và chỉ
một đơn vị bầu cử để ứng cử mà thôi [10]. Không ai có
quyền sắp xếp, bố trí các ứng cử viên vào đơn vị bầu
cử này hay đơn vị bầu cử khác và do vậy cũng không có ứng
cử viên nào cảm thấy mình chỉ là người "lót đường" cho
các ứng cử viên khác "sáng giá" hơn.

Nguyên tắc bầu cử trực tiếp được quy định trong sắc
lệnh về Thể lệ Tổng tuyển cử rất cụ thể, rõ ràng chứ
không phải chỉ quy định chung chung bằng cách nêu tên của
nguyên tắc này. Vì Điều 31 Sắc lệnh số 51 về Thể lệ
tổng tuyển cử quy định: "Mỗi cử tri phải thân hành đi
bầu, không đượcủyquyền, cũng không được bầu bằng cách
gửi thư". Chính những quy định cụ thể, rõ ràng này là một
trong những lý do giải thích vì sao cuộc Tổng tuyển cử ngày
6/1/1946 nguyên tắc này đã được thực hiện một cách nghiêm
túc. Ở những nơi tổ chức bầu cử khó khăn do thực dân Pháp
và bọn Việt gian chống phá bầu cử, ngăn cản không cho cử
tri đi bầu thì tỷ lệ cử tri tham gia bầu cử không cao, thậm
chí có địa phương tỷ lệ cử tri tham gia bỏ phiếu chỉ
đạt 65 - 75 % số người có quyền bầu cử.

Nguyên tắc bỏ phiếu kín cũng được quy định khá độc đáo
và cụ thể để bảo đảm bí mật, an toàn và tự do ý chí
của cử tri. Để giúp những cử tri không biết chữ thực
hiện được quyền bầu cử, Sắc lệnh số 51 quy định:
trước khi bắt đầu bỏ phiếu, sẽ lập một tiểu ban 3
người (một người của ban phụ trách cuộc bầu cử, hai
người do dân làng, tỉnh lỵ (hay khu phố) cử ra viết giúp cho
người đi bầu, một người viết, hai người kiểm tra. Khi
viết xong, tiểu ban đó phải tuyên thệ trước mặt các người
đi bầu rằng: viết đúng theo lời người đi bầu và giữ bí
mật (Điều 36 – Điều 38 Sắc lệnh 51) v.v. Có thể khẳng
định rằng những quy định của các sắc lệnh về Tổng
tuyển cử đầu tiên của nước ta đã thể hiện rõ ràng, cụ
thể và triệt để những nội dung, yêu cầu của các nguyên
tắc bầu cử dân chủ và tiến bộ: nguyên tắc phổ thông,
bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

<strong>Bốn là</strong>, các quy định của các sắc lệnh về
Tổng tuyển cử đầu tiên của nước ta năm 1946 rất cụ thể,
rõ ràng, ngắn gọn và dễ hiểu, dễ nhớ. Hầu hết những quy
định này của các sắc lệnh là có hiệu lực trực tiếp, có
thể thực hiện được ngay, không cần phải chờ đợi những
văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành. Đây chính
là điều kiện hết sức quan trọng bảo đảm cho pháp luật
bầu cử sớm đi vào cuộc sống, để chúng ta có thể tổ
chức được cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 sau hơn 4 tháng
nước nhà giành được Độc lập.

<h2>2. Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6 tháng 1 năm 1946 thực sự tự
do, thực sự dân chủ, thể hiện sức mạnh của khối đại
đoàn kết toàn dân quyết tâm bảo vệ nền độc lập và xây
dựng chế độ mới - chế độ dân chủ cộng hòa</h2>

Xây dựng và ban hành các sắc lệnh về Tổng tuyển cử với
những quy định tự do, dân chủ và tiến bộ như trên đã là
khó và có ý nghĩa rất quan trọng. Nhưng tổ chức cuộc tổng
tuyển cử sao cho thực sự tự do, thực sự dân chủ, biến các
quy định của pháp luật bầu cử tự do, dân chủ đó thành
hiện thực trong cuộc sống còn khó khăn hơn nhiều. Nhất là
cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước ta được tổ chức
khi mà thù trong, giặc ngoài đe dọa, chống phá, tình hình đất
nước ở thế như "ngàn cân treo sợi tóc", hơn 90 % nhân dân
bị mù chữ... mà cuộc tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 vẫn diễn
ra thật sự tự do, thật sự dân chủ và thành công phải
được coi như một kỳ tích và là một mốc son lịch sử của
thể chế dân chủ ở Việt Nam. Vì: Ở miền Bắc, từ vĩ
tuyến 16 trở ra, từ giữa tháng 9 năm 1945, gần 20 vạn quân
Tưởng Giới Thạch với danh nghĩa quân đồng minh tràn sang
giải giáp quân Nhật, nhưng thực chất là cướp bóc và nuôi
dưỡng, câu kết với các thế lực phản động, - đảng Việt
Quốc, Việt Cách, để chống phá điên cuồng Tổng tuyển cử.
Ngày ngày chúng ôm súng canh gác các đường, các chợ, dọa
nạt cử tri, âm mưu bắt cóc, ám sát các ứng cử viên do Việt
Minh giới thiệu. Ngay ở Hà Nội, chúng mang cả tiểu liên đến
Ngũ Xá ngăn không cho đặt hòm phiếu, chúng cấm cả nhân dân
treo cờ. Ở tỉnh Phú Thọ, đêm 4/1/1946, chúng cho người xuống
nhà dân thu thẻ cử tri, sai người tháo dỡ khẩu hiệu, áp
phích... Ngoài ra, nạn đói khủng khiếp do thực dân pháp và
phát xít Nhật gây ra làm cho hơn 2 triệu đồng bào ta từ
Quảng Trị trở ra Bắc bộ vẫn chưa dứt hẳn. Ở Miền Nam,
từ vĩ tuyến 16 trở vào, quân đội Pháp được nửa vạn quân
đội Anh yểm hộ đã quay trở lại đánh chiếm Sài Gòn và các
tỉnh Nam bộ, cực nam Trung bộ và Tây Nguyên. Ở những nơi
này, chúng dùng quân đội, cảnh sát, mật thám khủng bố nhân
dân, cướp của, đốt nhà hòng ngăn cản tổ chức Tổng tuyển
cử...[11]

Ngoài thù trong, giặc ngoài là "giặc dốt" với hơn 90 % đồng
bào ta bị mù chữ, "là một trong những phương pháp độc ác
mà bọn thực dân dùng để cai trị nhân dân ta" [12], cũng là
kẻ thù gây không ít khó khăn trở ngại cho cuộc Tổng tuyển
cử. Do trình độ dân trí chưa cao, hơn nữa đây lại là cuộc
Tổng tuyển cử đầu tiên chúng ta tiến hành phổ thông đầu
phiếu, bầu cử ở tất cả các tỉnh, thành trong cả nước,
nên nhân dân còn có nhiều bỡ ngỡ... Thật hiếm có cuộc bầu
cử nào được tổ chức trong tình thế hiểm nghèo và những
khó khăn chồng chất như cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên này.

Để cuộc Tổng tuyển cử thực sự dân chủ, công tác tuyên
truyền, vận động bầu cử là rất quan trọng nhằm giúp cho
người dân hiểu về mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng
của Tổng tuyển cử, về các quy định của pháp luật bầu
cử... để động viên nhân dân đi bầu cử nhiều nhất, sớm
nhất. Cuộc vận động và tuyên truyền về Tổng tuyển cử
diễn ra sôi nổi và phong phú khắp cả nước. Các cơ quan thông
tin đại chúng, nhất là các báo Cứu Quốc, Sự Thật giữ vai
trò quan trọng trong việc hướng dẫn, cổ vũ quần chúng, đấu
tranh phê phán sự xuyên tạc của các lực lượng chính trị
đối lập. Ðặc biệt, tờ Nhật báo Quốc hội, xuất bản ở
Hà Nội, là tờ báo chỉ ra trong thời kỳ Tổng tuyển cử
nhằm mục đích nêu rõ giá trị của cuộc Tổng tuyển cử,
giới thiệu khả năng, thành tích và chương trình của những
người ứng cử... Danh sách những người ứng cử ở các
tỉnh, thành phố cũng được công bố công khai để nhân dân
tự do tìm hiểu, lựa chọn khi bầu. Từ nhiều tháng trước
ngày bầu cử, các cán bộ Việt Minh ở cấp cơ sở còn trực
tiếp tuyên truyền, phổ biến đến nhân dân những kiến thức
cơ bản nhất về Quốc hội, về quyền bầu cử, ứng cử của
công dân. Cách tuyên truyền, vận động bầu cử cũng độc
đáo, sáng tạo. Có nơi cán bộ phải ở cùng với dân cả khi
làm đồng, cả khi xay lúa, lấy bèo, dạy chữ..., cả ngày cũng
như đêm, giải thích đi, giải thích lại một cách cụ thể và
dễ hiểu cho đồng bào về Quốc hội, về tầm quan trọng của
Tổng tuyển cử, về quyền bầu cử, ứng cử... của công dân.
Cụ Nguyễn Văn Tố (nguyên là Chủ sự Trường Viễn đông bác
cổ, đang là Bộ trưởng Chính phủ lâm thời), trả lời phỏng
vấn của báo Cứu quốc về cảm tưởng của cụ trước cuộc
Tổng tuyển cử khi đó cho biết: "<em>Tôi vừa có dịp đi thăm
nhiều vùng quê... Tôi ngạc nhiên nhận thấy dân trí của dân
ta đã lên cao đến một bậc trước chưa dám mong được
thế</em>", "<em>... ai cũng luôn nhắc đến chữ Độc lập và
hiểu cái quyền của mình lắm và chắc hẳn là biết dùng cái
quyền của mình một cách sáng suốt</em>" [13]. Còn về sự
chống phá, xuyên tạc của các thế lực chính trị phản động
đối với cuộc Tổng tuyển cử, thì câu trả lời của ông
Ngô Xuân Diệu (nhà thơ) cho báo này là rõ ràng: "<em>Chính
quyền của nhân dân, nhân dân sẽ giữ chặt lấy... Những bọn
cố giật lại sẽ chỉ tự sát. Bánh xe lịch sử sẽ nghiến
nát chúng. Rõ ràng là chó cứ sủa, đoàn người vẫn cứ
đi</em>" [14]. Giải thích lý do tại sao lại ra ứng cử, bác
sỹ Tôn Thất Tùng cho biết: "<em>Tôi lấy làm lạ cho thái độ
lãnh đạm của một số anh em trí thức đối với cuộc Tổng
tuyển cử này. Họ làm như việc của nước mình là việc của
nước nào ấy. Tôi từ trước vẫn ở yên trong địa hạt
chuyên môn của tôi, không tham dự gì vào đời sống chính
trị, nhưng bây giờ tôi thấy phải có bổn phận phải ra ứng
cử</em>" để "<em>có thể giúp ích đôi chút bằng công việc
chuyên môn của tôi</em>" và cũng chính là "<em>muốn phản
đối thái độ hờ hững, lạnh lùng của bọn trí thức nói
trên</em>" [15]... Điều này giải thích tại sao trong cuộc
Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946, để bầu được 333 đại biểu
đã có hàng nghìn người hăng hái tham gia ứng cử và ở mỗi
đơn vị bầu cử số ứng cử viên nhiều hơn gấp nhiều lần
số đại biểu được bầu. Ví dụ, ở tỉnh Quảng Nam được
bầu 15 đại biểu nhưng có đến 78 người ứng cử [16]. Hay ở
thành phố Hà Nội (nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng cử) được
bầu 6 đại biểu nhưng có 74 người ứng cử ở thành phố này
[17]. Các ứng cử viên cũng có các hình thức tiếp xúc với
cử tri và vận động bầu cử khác nhau. Ở một số địa
phương, nhân dân còn nghĩ ra những bài ca, bài vè, câu đối...
để giới thiệu người ứng cử cho cử tri dễ nhớ tên các
ứng cử viên cần bầu [18].

Ngày 5/1/1946, trong buổi lễ ra mắt ứng cử viên tổ chức tại
Việt Nam học xá [19], hướng về các cử tri, Chủ tịch Hồ
Chí Minh phát biểu: "<em>Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là
phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn
làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Ngày mai
không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện quyền dân
chủ ấy</em>".[20] Ngày 5-1-1946, trước Tổng tuyển cử một
ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời kêu gọi toàn dân đi
bỏ phiếu: "<em>Ngày mai là một ngày đưa quốc dân ta lên con
đường mới mẻ", "là ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam
mà nhân dân ta bắt đầu tận dụng, hưởng quyền dân chủ
của mình... Ngày mai, dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền
Nam rằng: Về mặt trận quân sự, thì các chiến sĩ dùng súng
đạn mà chống quân thù. Về mặt chính trị, thì nhân dân dùng
lá phiếu mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có
sức lực như một viên đạn</em>". Vì thế mà "<em>Ngày mai,
tất cả các bạn cử tri, đều phải nhớ đi bầu cử. Ngày
mai, mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một
người dân độc lập, tự do</em>"[21].

Hưởng ứng lời hiệu triệu thiêng liêng của Hồ Chủ tịch,
ngày 6-1-1946, với tinh thần yêu nước nồng nàn và khí thế
hào hùng của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta từ Bắc chí Nam,
trên khắp mọi miền của Tổ quốc đã nô nức tham gia bầu
cử, bất chấp sự phá hoại điên cuồng của các thế lực
xâm lược và chống đối. Trong những vùng bị địch tạm
chiếm đóng, nhân dân tập trung bỏ phiếu, quân Pháp kéo đến
khủng bố, nhân dân phải mang thùng phiếu chạy đến một nơi
khác và tiếp tục bỏ phiếu. Như ở xã Mỹ Hòa tỉnh Cần
Thơ, trong ngày bầu cử, nhân dân phải di chuyển 4 lần đến 4
địa điểm khác nhau để hoàn thành việc bỏ phiếu. Hay như
ở Buôn Krong tỉnh Đắk Lắk, nhân dân tập trung ở nhà già
làng để bỏ phiếu, địch tới bao vây, nhân dân chạy sâu vào
rừng, địch lại tấn công vào rừng, nhân dân đi sâu vào khe
suối, mang theo cả gạo ăn để bỏ phiếu [22]. Ở tỉnh Phú
Thọ, có cụ già hơn 80 tuổi đi bộ từ sáng đến tối, vượt
qua cả cánh rừng để đến điểm bầu. Khi đến nơi cụ xòe
tay ra, tờ thẻ cử tri nhàu nát vì cụ giữ nó quá chặt. Ở
nhiều nơi, sau khi công khai kiểm tra thùng phiếu, hàng loạt
thùng phiếu được khoan lỗ để bắt vít dính chặt xuống
mặt bàn nhằm bảo vệ thùng phiếu, đề phòng kẻ gian cướp
thùng phiếu [23]... Trong cuộc Tổng tuyển cử này đã có không
ít những lá phiếu nhuốm máu cả người đi bầu, cả người
tổ chức bầu cử. Ở Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ, Tân An, Tây
Nguyên... quân đội Pháp đã ném bom, bắn phá, làm một số
người chết và bị thương. Chỉ riêng ở Sài Gòn - Chợ Lớn
đã có 42 cán bộ chiến sĩ hy sinh trong khi làm nhiệm vụ Tổng
tuyển cử [24].

Từ trước đến nay, thật hiếm có cuộc bầu cử nào lại
diễn ra như cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 ở nước ta.
Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 đã thành công trên phạm vi
cả nước, bất chấp sự phá hoại điên cuồng của bọn phản
động ở phía Bắc và cuộc xâm lăng tàn bạo của thực dân
Pháp ở phía Nam. Cụ thể là: tính chung cả nước, số cử tri
tham gia bỏ phiếu là 89%, trong khi đó theo quy định của Điều
56 SL số 51 về Thể lệ Tổng tuyển cử, chỉ cần một phần
tư (1/4) số cử tri có quyền bầu cử đi bầu thì cuộc bầu
cử đã có giá trị. Cuộc Tổng tuyển cử đã bầu được 333
đại biểu, trong đó 57% số đại biểu thuộc các đảng phái
yêu nước và cách mạng khác nhau, 43% không đảng phái, 10 đại
biểu nữ, 34 đại biểu các dân tộc thiểu số [25].

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ngày 6/1/1946
đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về thể chế dân chủ
của nước ta. Người dân Việt Nam từ thân phận nô lệ của
kiếp tôi đòi đã trở thành "chủ nhân ông" một nước tự do
độc lập, đã khẳng định với thế giới rằng: nhân dân
Việt Nam quyết tâm bảo vệ nền độc lập, có quyền và đã
thực sự có đủ khả năng để tự quyết định vận mệnh
lịch sử của mình, tự lựa chọn và dựng xây chế độ mới,
chế độ Cộng hòa dân chủ nhân dân và hiện nay là CHXHCN
Việt Nam.

<h2>Chú thích</h2>

[1] Xem: Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1995, T.4, tr. 8, tr. 133; Sắc lệnh số 14 ngày 8/9/1945 vềTổng
tuyển cử để bầu Quốc dân đại hội.

[2] Dự thảo Hiến pháp này được soạn thảo bởi Ban dự
thảo Hiến pháp gồm 7 người (Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì)
thành lập theo Sắc lệnh ngày 20/9/1945, tháng 11/1945 Dự thảo
Hiến pháp được công bố để lấy ý kiến nhân dân.

[3] Xem: Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Bác Hồ với Quốc hội và
bản Hiến pháp đầu tiên của VNDCCH trong Hiến pháp năm 1946 và
sự kế thừa, phát triển trong các Hiến pháp Việt Nam, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội. 1997, tr. 18; Lâm Quang Thự, -
Người con đất Quảng. Nxb Đà Nẵng và Hội khoa học lịch sử
TP. Đà Nẵng, 2005, tr. 179.

[4] Theo Điều 1 SL số 39 ngày 26/9/1945, Uỷ ban dự thảo thể
lệ Tổng tuyển cử gồm có 9 vị đại biểu của Văn hóa,
Thanh niên, công nhân, Nông dân và Phụ nữ cứu quốc là các
Ông: Trần Huy Liệu, Vũ Đình Hòe, Cù Huy Cận, Nguyễn Mạnh Hà,
Nguyễn Hữu Đặng, Lê Văn Giang, Nguyễn Văn Chức, Nguyễn Hữu
Tiêu và Cô Tám Kinh.

[5] Điều 1 Sắc lệnh 51 ngày 17/10/1945 trước đây định tổ
chức Tổng tuyển cử vào ngày 23/12/945.

[6] Xem: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Sđd, tr. 8.

[7] Xem: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1995, T.4, tr. 133.

[8] "Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử"
được hiểu là người phụ nữ khi còn ở nhà phải phục tùng
cha, lấy chồng thì phải theo chồng, chồng chết thì phải theo
con.

[9] Theo Điều 8 SL 51,6 thành phố Hà Nội , Hải Phòng, Nam
Định, Vinh, Huế, Sài Gòn, Chợ Lớn cũng được xác định là
những đơn vị bầu cử như các tỉnh.

[10] Theo cụ Lâm Quang Thự (đại biểu Quốc hội khoá I): Trong
cuộc Tổng tuyển cử 6/1/1946, nhiều địa phương đồng bào
viết thư đề nghị Hồ Chủ tịch không cần ra ứng cử ở
một tỉnh nào, nhân dân cả nước sẽ bỏ phiếu cử Người
vào Quốc hội, ai cũng muốn ghi tên Bác đầu tiên trên lá
phiếu của mình. Hồ Chủ tịch đã viết một bức thư ngắn
trả lời đề nghị này: "Tôi là một công dân của nước
Việt Nam DCCH nên tôi không thể vượt qua khỏi thể lệ tổng
tuyển cử đã định. Tôi ra ứng cử ở Hà Nội nên không thể
ra ứng cử ở nơi nào khác". Xem: Lâm Quang Thự, Sđd, tr. 181.

[11] Xem: Lâm Quang Thự, Sđd, tr. 180; Dân chủ quá mới mẻ. Hồi
ức của ông Nguyễn Thiện Ngữ, đại biểu Quốc hội khoá I ,
Báo Tuổi Trẻ điện tử, ngày7/01/2006.

[12] Xem: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1995, T.4, tr. 8.

[13] Xem: Tờ Cứu quốc phỏng vấn ứng cử viên ĐBQH khoá đầu
tiên. VietNamNet, 01/01/2006

[14] Xem: Tờ Cứu quốc phỏng vấn ứng cử viên ĐBQH khoá đầu
tiên. VietNamNet, 01/01/2006.

[15]Xem: Tờ Cứu quốc phỏng vấn ứng cử viên ĐBQH khoá đầu
tiên. VietNamNet, 01/01/2006.

[16]Xem: Lâm Quang Thự, Sđd, tr. 182.

[17]Xem: Lê Mậu Hãn, Cuộc tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 -
một mốc son lịch sử nhảy vọt về thể chế dân chủ. Báo
Nhân dân, ngày 8/12/2005.

[18]Ví dụ, ở tỉnh Thừa Thiên được bầu 5 đại biểu, có
bài giới thiệu về 5 người như sau: "Cách mạng Hoàng Anh, Học
hành Trọng Tuyến, Công chánh Đăng Khoa, Cà sa Mật Thể, Y tế
Kim Chi"; Hoặc ở tỉnh Quảng Nam được bầu 15 đại biểu trên
tổng số 78 người ra ứng cử, có bài ca giới thiệu 14 người
ứng cử (của Việt Minh) như: " Tổng tuyển cử đã tới rồi;
Vì quyền, vì lợi mấy lời xin ghi; Trung bộ có anh Trần Đình
Tri; Anh Lê Văn Hiến vậy thì đồng song; Phan Bôi một dạ một
lòng; Anh Huỳnh Ngọc Huệ cũng dòng đấu tranh...; Đồng bào
thận trọng lá thăm". Xem: Lâm Quang Thự , Sđd, tr. 181-182.

[19] Nay là Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.

[20] Hồ Chí Minh, Sđd, T.4, tr. 147.

[21] Hồ Chí Minh, Sđd, T.4, tr. 145

[22] Xem: Lâm Quang Thự , Sđd, tr. 180.

[23] Xem Hồi ức của ông Nguyễn Thiện Ngữ..., Báo Tuổi Trẻ,
ngày7/01/2006.

[24] Trích Bài phát biểu của ông Nguyễn Minh Triết, Bí thư
Thành ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội TP. HCM tại buổi
họp mặt các thế hệ đại biểu Quốc hội kỷ niệm 60 năm
Quốc hội VN tổ chức ngày 3/1/2006 tại TP.Hồ Chí Minh

[25] Xem: PGS. Lê Mậu Hãn. Cuộc tổng tuyển cử đầu tiên năm
1946 - một mốc son lịch sử nhảy vọt về thể chế dân chủ,
Báo Nhân dân, ngày 8-12-2005

<strong>Nguồn:</strong> Tạp chí khoa học pháp lý, Số 1/2006, truy
cập <a
href="http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?option=com_content&view=article&id=348:cttctn1946-mmslsctcdcvn&catid=103:ctc20061&Itemid=109">tại
đây</a>

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10914), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét