dân" và "xã hội công dân" đã dùng trong hai loạt bài "Chuyện
hiến pháp" và "Chuyện giáo dục", sực nhớ hồi xưa có dịch
một chương của cuốn "The case for democracy" của Natan Sharansky,
"Xã hội tự do và xã hội sợ hãi". Lục trong hard disk và post
lại ở đây để tham khảo khi trình này hai khái niệm kia.</em>
<em>Xã hội Việt Nam trong những năm đầu của thập niên thứ
hai của thể ký này đã đi một đoạn đường khá xa. Nó không
còn là một <em>xã hội sợ hãi</em> giống như xã hội Stalin mà
Sharansky miêu tả. Nhưng phải mất một thời gian dài và đòi
hỏi nhiều ý chí nữa trước khi có thể gọi nó là một
<em>xã hội tự do</em>. Tương tự, xã hội dân sự ở Việt Nam,
ít nhất là với khái niệm, đã bắt đầu hình thành. Nhưng
đoạn đường từ xã hội thần dân đến với xã hội công
dân còn xa.)</em>
Chúng ta thường liên hệ một xã hội tự do với một số
quyền căn bản nào đó. Tuy nhiên không một xã hội nào những
quyền tự do này là tuyệt đối. Ở Mỹ chẳng hạn, nơi mà
các quyền tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng được coi là
bất khả xâm phạm, người ta không có quyền tự do để la
hoảng "cháy!" trong một nhà hát đông người, hoặc chế độ
đa thê được cho phép nhân danh niềm tin tôn giáo. Trong khi
những thảo luận về giới hạn thích hợp nào đó của các
quyền tự do có thể là những đề tài tranh luận thú vị trong
các xã hội dân chủ, những thảo luận này không làm sáng tỏ
được sự khác biệt nền tảng giữa một xã hội dựa trên
tự do và một xã hội dựa trên sự sợ hãi.
Sự khác biệt này được nhận diện bởi những người chắc
chắn phải biết rõ về đề tài này: những nhà bất đồng
chính kiến Xô viết. Trong nhà tù Gulag, có nhiều loại tù nhân
chính trị khác nhau: quân chủ - những người vẫn tha thiết
phục hồi chế độ Nga hoàng cũ đã bị quét sạch trong cuộc
cách mạng Bolshevik, những người quốc gia Ukrain đang đấu tranh
để giành lại nền độc lập cho quê hương của họ sau hơn
300 thống trị của Nga, những người Pentecostal đấu tranh cho
quyền tự do tín ngưỡng, những người cộng sản Âu Châu đang
cố gắng một cách vô vọng để khoác một bộ mặt "nhân
tính" lên chế độ cộng sản Xô viết, những người Do Thái
khước từ chế độ và muốn di dân như tôi, và nhiều người
khác nữa.
Trong sự đa dạng của những ý kiến khác biệt của các tù
nhân chính trị này, chúng tôi đồng ý với nhau một điều:
Tất cả chúng tôi đều muốn sống trong một xã hội tự do!
Và bất chấp những mâu thuẫn có thể có giữa chúng tôi về
một viễn cảnh nào đó cho tương lai, kinh nghiệm bất đồng
chính kiến đã cho phép chúng tôi đồng ý với nhau về một
định nghĩa của tự do: Một xã hội là tự do nếu người dân
trong xã hội đó có quyền được bày tỏ quan điểm của mình
mà không sợ bị bắt giam, bị tù đày, hoặc bị hành hung.
Mỗi tù nhân chúng tôi hình dung về một tương lai mà trong đó
những quan tâm của mình là tối thượng, nhưng bất kể sự
cuồng nhiệt đến mức nào đi nữa của những ước vọng
riêng biệt này, tất cả những người bất đồng chính kiến
đều hiểu rằng một xã hội không bảo vệ quyền được có
ý kiến khác biệt, ngay cả khi xã hội này hoàn toàn tuân thủ
những giá trị và ý thức hệ riêng biệt của nó, thì nó sẽ
không tránh khỏi trở nên một xã hội sợ hãi và, do đó, gây
nguy hiểm cho tất cả thành viên trong xã hội.
Một phương pháp đơn giản để xác định quyền được bất
đồng chính kiến trong một xã hội nào đó có được tôn
trọng hay không là dùng phép thử "quảng trường thành phố":
một người có thể đến quảng trường thành phố và bày tỏ
quan điểm của mình mà không sợ bị bắt, bị tù đày, hoặc
hành hung không? Nếu một người có thể làm việc đó thì
người này đang sống trong một xã hội tự do. Nếu không, thì
anh ta đang sống trong một xã hội sợ hãi.
Những người đang sống trong một xã hội tự do có thể cho
rằng phép thử này quá bao quát vì, cùng với nền dân chủ tự
do, nó bao gồm cả những quốc gia thường vẫn không được coi
là tự do. Theo phép thử "quảng trường thành phố" này thì
những quốc gia nơi mà phụ nữ không được tham gia bầu cử,
nơi nạn phân biệt tràn lan, nơi đời sống kinh tế bị độc
quyền trong tay một thiểu số vẫn được coi là những quốc
gia tự do. Sự phế phán rất chính đáng này đã chứng tỏ
rằng tất cả những xã hội đáp ứng tiêu chuẩn "tự do"
không nhất thiết là những xã hội "công bằng". Tuy nhiên
những xã hội vượt qua được trắc nghiệm này được coi như
đã bước qua ngưỡng của tự do. Ngược lại, một xã hội
sợ hãi thì không bao giờ bước qua ngưỡng cửa này và luôn
luôn là một xã hội bất công.
<h2>Cơ chế của bạo ngược</h2>
Công thức tôi đề nghị ở trên chia thế giới thành hai hạng,
xã hội tự do và xã hội sợ hãi, và khoảng trống ở giữa.
Tôi tin rằng chỉ có hai loại xã hội đó mà thôi. Một xã
hội không bảo vệ quyền bất đồng chính kiến chắc chắn
sẽ dựa trên sự sợ hãi. Trên thực tế, sự sợ hãi là sản
phẩm tất yếu bởi cơ chế của một chính thể bạo ngược.
Hãy hình dung một xã hội thuần nhất trong đó mọi người
đều suy nghĩ như nhau, chia sẻ những giá trị, niềm tin, và
lối sống như nhau. Xã hội giả định này là "tự do" vì sẽ
không cần có luật để ngăn cấm người ta bày tỏ ý kiến
khác biệt - vì đã không có ý kiến khác biệt. Và vì tất cả
mọi người đều đồng ý với ý thức hệ chung nên cũng không
có những người bất đồng chính kiến.
Sự đa dạng trong đời sống con người gợi ý rằng thay đổi
trong bất cứ xã hội nào là điều không thể tránh khỏi. Sẽ
không có hai người nào, nói gì đến tất cả thành viên trong
một cộng đồng, có chung hoàn cảnh, chung thị hiếu, chung
trình độ thông minh, chung kinh nghiệm, chung sở thích,v.v...
Những khác biệt tự nhiên này sẽ tất yếu đưa đến những
phản ứng khác nhau trước những hoàn cảnh mới. Dù một xã
hội có thuần nhất đến mức nào đi nữa thì dần dần sự
khác biệt giữa những thành viên trong xã hội đó sẽ xuất
hiện và gia tăng. Tốc độ của tiến trình này khác nhau tùy
thuộc vào nhiều yếu tố, từ mức độ đa dạng của các
thành tố xã hội đến mức độ ảnh hưởng của thế giới
bên ngoài, nhưng sự khác biệt về ý kiến là điều chắc
chắn.
Vấn đề trở nên là: xã hội giả định này sẽ phản ứng
như thế nào trước sự khác biệt ý kiến không thể tránh
khỏi như thế? Liệu nó cho phép mọi người được bày tỏ
một cách tự do? Liệu nó cho phép một sự thay đổi trật tự
hiện hành bằng những biện pháp dân chủ? Nếu câu trả lời
là "có" thì xã hội đó vẫn là một xã hội tự do.
Nhưng nếu đa số người dân trong xã hội đó không muốn thay
đổi, và muốn ngăn chặn bất cứ thay đổi nào trong tương lai
thì sao? Những đạo luật nghiêm cấm bất đồng chính kiến
sẽ phải được ban hành bởi đa số hoặc được áp đặt
bởi chế độ. Việc các đạo luật này có trở thành biện
pháp ngăn chặn hữu hiệu hay không còn tùy thuộc vào sự kiên
định của những người bất đồng đối với ý tưởng của
họ và tùy thuộc ở mức độ khắc nghiệt của sự trừng
phạt. Nhưng có một điều rõ ràng: xã hội này không còn là
một xã hội tự do nữa!
<h2>Những người "hai mặt"</h2>
Ở bất cứ nơi nào mà quyền có ý kiến khác biệt bị ngăn
cấm, xã hội phân chia thành ba nhóm. Một nhóm gồm những
người trung thành với trật tự hiện hành vì họ thật sự tin
vào nó. Nhóm thứ hai gồm những người sẳng sàng thách thức
trật tự hiện hành bất chấp sự nguy hiểm sẽ bị trừng
phạt -những người bất đồng chính kiến. Với những thành
viên của hai nhóm người này, không có sự khác biệt giữa ý
tưởng và những điều họ nói nơi công cộng. Không giống
những người trung thành và những người bất đồng chính
kiến, thành viên của nhóm thứ ba không bao giờ nói điều họ
nghĩ. Nhóm này bao gồm những người không còn tin vào trật tự
hiện hành nhưng không dám chấp nhận những nguy hiểm gắn
liền với việc bất đồng chính kiến. Họ là những người
"hai mặt"[2].
Stalin chết lúc tôi mới 5 tuổi. Ngày đám tang ông ta, trong
tiếng nhạc trang nghiêm từ những chiếc loa phóng thanh đầu
phố và những bức chân dung to tướng của Đồng chí Stalin vĩ
đại đang diễn hành qua ngỏ, cha tôi gọi người anh 7-tuổi và
tôi đến. Biết chắc không có ai đang nghe trộm chúng tôi, cha
tôi thì thầm, "hôm nay là một ngày trọng đại mà các con
phải nhớ". Ông giải thích rằng người mà ai ai cũng gọi là
"người thầy, người lãnh tụ vĩ đại" kia đã giết chết
hàng triệu người và đang toan tính một làn sóng thảm sát
mới đối với người Do Thái chúng tôi. "Chúng ta rất may mắn
vì tên đao phủ kia đã chết". Cha tôi kết thúc bằng một lời
cảnh báo nghiêm khắc rằng chúng tôi tuyệt đối không tiết
lộ cho ai điều ông đã nói với chúng tôi hôm đó, rằng chúng
tôi phải làm và nói theo đúng những gì những đứa trẻ con
khác làm hoặc nói. Ngay từ tuổi ấu thơ như thế, miệng hát
bài ca tán tụng Stalin, nhỏ những giọt nước mắt cá sấu
khóc một tên sát nhân cùng với những người bạn mẫu giáo,
tôi đã bước vào cuộc sống của một người Xô viết "hai
mặt".
Trong một lá thư được chuyển ra ngoài trong những năm '70,
một người Bắc Hàn đã giải thích làm thế nào để anh ta
thấu đáo được nghệ thuật sống "hai mặt" này. "Tôi học
được là nếu nói thật điều mình nghĩ, tôi sẽ chết. Tôi
học được là nếu mình có điều gì muốn nói thì nói bằng
mắt dễ hơn nhiều. Tôi học cách nhìn bằng môi và nói bằng
mắt".
Những người "hai mặt" sống trong sự căng thẳng thường trực
của khoảng cách giữa ý tưởng và ngôn ngữ. Họ luôn tránh
phải nói những điều không được phép nhưng cũng phải tránh
nói những điều họ không tin. Và cái xã hội sợ hãi kia vẫn
không để họ yên. Nó đòi hỏi họ phải liên tục bày tỏ
sự trung thành với nó. Từ lớp mẫu giáo, tiểu học, cao
đẳng, nơi công sở, nhà thờ, hay bất cứ nơi công cộng nào,
những người "hai mặt" phải nói như vẹt những điều của ý
thức hệ mà chế độ muốn họ nói và giấu đi suy nghĩ thật
của mình.
Sự "tự kiểm duyệt" thường xuyên này là một phần không
thể tách rời trong đời sống thường nhật của những người
"hai mặt" đến mức nó trở thành một thói quen mà ở đó sự
căng thẳng của mâu thuẫn giữa ý tưởng và ngôn ngữ không
còn được cảm nhận nữa. Chỉ khi nào những người "hai mặt"
được tự do, họ mới nhận ra sự hiện hữu của tình trạng
nộ lệ trí óc mà họ đã tự trói buộc mình trước đó.
Giai thoại và chuyện cười chính trị phơi bày tính đạo đức
giả của xã hội sợ hãi được dùng như biện pháp giảm
thiểu tình trạng căng thẳng trong đời sống "hai mặt". Phương
thức những giai thoại và những câu chuyện cười này được
truyền đạt - trong một nhóm nhỏ hay lớn, qua truyền miệng hay
văn viết - phụ thuộc vào mức độ "sợ hãi" của xã hội
đó. Hơn thế, số lượng những người "hai mặt" trong một xã
hội sợ hãi có thể được do lượng bằng số lượng và
phạm vi truyền đạt của những giai thoại và những câu
chuyện như thế.
Đối với thế giới bên ngoài, không có sự khác biệt có thể
nhận diện nào giữa những người "hai mặt" và những người
trung thành. Cả hai nhóm người này đều có vẽ như tán thành
và ủng hộ chế độ, trong khi thật ra chỉ có một nhóm. Do
đó, đối với họ, một xã hội sợ hãi chỉ bao gồm hai nhóm
người: một thiểu số rất nhỏ bất đồng chính kiến và
một đại đa số trung thành với nhà cầm quyền. Và với mức
độ khắc nghiệt đủ mạnh của sự trừng phạt, xã hội sợ
hãi sẽ không có cả nhóm người bất đồng chính kiến.
Trong những năm '30, Liên bang Xô viết không có một nhà bất
đồng chính kiến nào, ít nhất là không có một người nào
được phương Tây biết đến. Có phải tất cả 150 triệu
người sống dưới sự thống trị tàn bạo của Stalin đều là
những người trung thành ? Và, đáng kể hơn, có phải sự
thiếu vắng những người bất đồng chính kiến trong thời gian
này là vì họ đã lần lượt bị Stalin hành quyết một cách
có hệ thống ? Như thế có phải rất hợp lý không nếu cho
rằng số người bất đồng chính kiến trong một xã hội sợ
hãi có thể do lường mức độ nguy hiểm của việc hành xử
quyền bất đồng ? Không khí chính trị ở Liên Xô trong những
năm '70 ít ngột ngạt hơn trong những năm '30, và do đó, vài
trăm nhà bất đồng chính kiến bắt đầu xuất hiện. Nếu
Gandi của Ấn độ đối diện với chế độ chính trị của
Stalin hay Hitler thì chắc chắn cuộc đấu tranh của ông đã bị
dập tắt trước khi nó bắt đầu. May mắn cho ông, Gandi sống
trong xã hội Anh, mặc dù là một đế quốc, nhưng vẫn là một
xã hội tự do và dân chủ.
Với tất cả sự thô bạo của nó, xã hội sợ hãi đối với
những người quan sát bên ngoài vẫn là một xã hội đồng
nhất của những người trung thành với chế độ. Họ không
biết rằng có hàng ngàn, hàng chục ngàn, trăm ngàn, ngay cả
hàng triệu người "hai mặt" sống trong nỗi kinh hoàng thường
trực. Mặt khác, mặc dù không thể biết được chính xác con
số những người "hai mặt" trong một xã hội sợ hãi, một
điều chắc chắn là số người này càng ngày càng tăng. Điều
này xãy ra vì những người trung thành, một khi đã nhận ra
chân tướng của chế độ, dần dần trở thành thành viên của
nhóm người "hay mặt" và, trong nhiều trường hợp, trở thành
những người bất đồng chính kiến kiên định.
Những ý tưởng được phát biểu nơi công cộng không bao giờ
phản ảnh đúng những gì một người sống trong sự sợ hãi
thật sự suy nghĩ. Nếu có một cuộc thăm dò ở Liên Xô năm
1985, hoặc những năm trước đó, thì chắc chắn sẽ có đến
99 phần trăm số người ủng hộ những chính sách của chế
độ cộng sản. Và những ý kiến thăm dò này đã thay đổi
đột ngột chỉ vài năm sau khi cộng sản sụp đổ. Lẽ nào
người dân có thể thay đổi ý kiến một cách nhanh chóng như
vậy? Sự thay đổi thật sự ở đây chính là những người
"hai mặt" không còn sợ hãi bày tỏ ý kiến của họ nữa.
Năm 2001, trong một cuộc họp đầu tiên của chính phủ của
Thủ tướng Ariel Sharon, tôi đã lập luận rằng Do Thái cần
phải chấm dứt ủng hộ một lãnh tụ độc tài, thối nát như
Yasser Arafat. Một nhân vật cao cấp trong chính phủ,và là
người ủng hộ tiếp tục đàm phán với Arafat nói với tôi
rằng "Do Thái nghĩ gì về Arafat đều không có ý nghĩa gì cả.
Điều quan trọng là ông ta có sự ủng hộ và yêu mến của
người dân Palestine". Tôi quả quyết với người bạn của tôi
rằng nói nhân dân Palestin yếu mến và ủng hộ Arafat thì cũng
như trước đây nói nhân dân Liên Xô yêu mến và ủng hộ
Stalin vậy. Và cũng tương tự, trước đây người dân Liên Xô,
để có thể sống được, phải bày tỏ sự trung thành với
Stalin, người dân Palestin ngày nay cũng phải làm như thế đối
với những người đang thống trị họ.
<h2>Những người trung thành</h2>
Uy quyền của một xã hội sợ hãi không phải bao giờ cũng
chỉ dựa vào quân đội và công an. Một yếu tố không kém
tầm quan trọng là khả năng của chế độ trong việc kiểm
soát những gì được đọc, nói, nghe, và trên hết, suy nghĩ.
Đây là phương cách mà một chế độ dựa trên sự sợ hãi duy
trì một lực lượng cần thiết những người trung thành để
hỗ trợ cho nó.
Chế độ cộng sản Liên Xô đã tiến rất xa trong khoa học
nhào nặn trí tuệ của công dân họ, áp đặt người lớn
tuổi trong những chương trình tẩy não có hệ thống, đồng
thời tiêm nhiểm giới trẻ về sự sáng suốt của đảng và
chính phủ Xô viết. Đối với những người đang sống trong
một xã hội tự do, ý tưởng cho rằng nhà nước áp dụng
những biện pháp tẩy não đối với công dân của mình là
điều không thể hình dung được. Trong chuyến viếng thăm Hoa
Kỳ lần đầu tiên, tôi có buổi họp mặt với chủ nhiệm
của nhà xuất bản Random House, một người từng chỉ trích
quyết liệt những vi phạm nhân quyền của nhà nước Xô viết.
Ông ta hỏi tôi là người dân Liên Xô có được phép vào hiệu
sách để mua sách không. Ngay lúc đó, tôi nhận ra rằng ông
chủ nhiệm này đã không hiểu cơ chế vận hành của một xã
hội sợ hãi. Tôi giải thích cho ông ta rằng người dân Xô
viết có thể tự do đi vào bất cứ một hiệu sách nào, nhưng
sách thì không.
Tất cả những xã hội sợ hãi đều phải dựa trên một mức
độ nào đó của sự tẩy não. Những phương tiện truyền
thông đại chúng của nhà nước không ngớt lời ca ngợi các
lãnh tụ và kích động dân chúng chống lại những đối
tượng được coi là kẻ thù.Nhưng rồi ngay cả những người
trung thành nhất của những người trung thành cũng không thể
ủng hộ một xã hội sợ hãi vô hạn định. Suốt mấy thập
niên, Stalin đã khủng bố không những người dân Xô viết mà
cả toàn bộ giới lãnh đạo đảng Cộng sản: một nhân vật
trong Bộ chính trị có thể là một ngôi sao đang lên hôm nay
những ngày mai thấy mình đang bị cùm trong một toa xe lửa đi
đày ở Siberia hay đối diện với án tử hình. Sau khi Stalin
chết, không ai trong đảng Cộng sản Liên Xô dám nghĩ đến
việc giao quyền hành tuyệt đối như thế cho những người kế
vị. Quyền lực của vị tổng bí thư kế tiếp bị giới hạn
vì giới lãnh đạo của đảng muốn chấm dứt chế độ toàn
trị trong đảng nhưng, quan trọng hơn, vì chính họ không muốn
sống trong sự sợ hãi nữa.
<h2>Niềm hân hoan của tự do</h2>
Không sao có thể biết được chính xác mật độ phân bố của
những người "hai mặt" và những người trung thành trong một
xã hội sợ hãi. Nhưng từ trong kinh nghiệm đã sống với một
xã hội như thế, và trong quan sát của tôi về cách hành xử
của người dân trong xã hội đó, tôi tin rằng số người trung
thành luôn luôn là một con số rất nhỏ. Và số người "hai
mặt" nhiều hơn rất nhiều so với người ta tưởng. Hơn thế,
đại đa số những người sống trong xã hội sợ hãi đều mong
muốn được sống tự do.
Mức độ sợ hãi trong một xã hội càng lớn thì thay đổi xãy
ra càng nhanh. Năm 1989, một sinh viên Bắc Hàn, đã đào thoát
chỉ sau một thời gian ngắn theo học y khoa tại Tiệp khắc,
nhận xét rằng "tuyệt đại đa số người dân Bắc Hàn,
được nuôi dưỡng từ tuổi thơ coi hai cha con họ Kim là những
bậc thánh, chấp nhận sự tuyền truyền của chế độ, cũng
như tôi vậy cho đến khi tôi chứng kiến sự tự do tương
đối của Tiệp". Một khi những chương trình tẩy não kia chấm
dứt, sự thật được phơi bày, những người "hai mặt" không
còn sợ hãi nữa, thì trong bất cứ xã hội nào, đa số những
người không tự nguyện sống trong sợ hãi sẽ nhanh chóng xuất
hiện và lên tiếng.
Hơn bất cứ lý do nào khác, điều này giải thích tại sao
Đức, Nhật, Ý, Tây Ban Nha, Nga, và rất nhiều quốc gia khác
đã làm cuộc chuyển tiếp từ sợ hãi sang tự do trong thế kỷ
20. Những quốc gia này có văn hóa, niềm tin, tôn giáo, ý hệ,
giá trị, và tập quán khác nhau. Nhưng trên một phương diện,
chúng giống nhau: người dân ở các quốc gia này không muốn
sống trong sợ hãi nữa!
Không nên đánh giá thấp ý chí của những người được tự
do không bao giờ muốn trở lại với sợ hãi. Thực vậy, ý
thức tự do đến lúc một người từ giả thế giới của tẩy
não và sợ hãi là một sự giải thoát không dễ gì quên
được. Sự giải thoát của tôi khỏi thế giới sợ hãi bắt
đầu khi tôi còn là một sinh viên tại Học viện Vật lý và
Kỹ thuật Matxcơva, một trường được coi như MIT ở Hoa kỳ.
Cho rằng những biện pháp tẩy não thông thường không thể có
hiệu nghiệm ở một chốn hàn lâm với những trí thức trẻ
và thông minh như thế, chế độ đã dùng những biện pháp
khác. Một chương trình tuyên truyền tinh vi hơn được sử
dụng, khuyến khích chúng tôi chỉ chăm chú vào sự quan trọng
của những công việc trước mắt. Rằng những thảo luận về
quyền, về tự do, về công lý cuối cùng cũng chỉ là những
thảo luận. Rằng làm sao những ngôn từ sáo rỗng kia có thể
so sánh với những định luật Newton, Galileo, hoặc Einstein?
Rằng những giá trị chính trị đến rồi đi, chỉ có khoa học
mới có thể đem lại chân lý hoàn vũ và vĩnh hằng...
Mỉa mai thay, tôi được dẫn dắt từ giả đời sống "hai
mặt" bởi chính một người đang ở trên đỉnh vinh quang của
cái "chân lý vĩnh hằng" đó. Năm 1968, trong một bài tiểu luận
nhắm thẳng vào giới lãnh đạo Xô viết, Andrei Sakharov, nhà
khoa học hàng đầu của Liên Xô, cho rằng sự tiến triển của
khoa học không thể tách rời quyền tự do. Sự ngột ngạt trong
môi trường trí thức đã cản trở tính sáng tạo và làm tê
liệt khả năng Liên Xô trở thành quốc gia lãnh đạo thế
giới, Sakharov viết. Lý tưởng xã hội chủ nghĩa sẽ không
thể nào đạt được, ông giải thích, nếu Liên Xô không cổ
xúy tự do trí thức. Với một nhận định quả cảm, Sakharov
đã đánh một đòn chí mạng vào uy quyền Sô viết lúc đó.
Nhà khoa học hàng đầu của một cường quốc đang tự hào
với những thành tựu khoa học lập luận rằng bản chất của
xã hội Xô viết chính là nguyên nhân cản trở quốc gia này
tiến kịp với thế giới tự do.
Đối với những nhà khoa học trẻ tưổi đang dự liệu tương
lai của họ, thông điệp này đã rõ ràng. Vị thầy mà chúng
tôi kính trọng và ngưỡng mộ cảnh báo rằng thế giới của
sự lừa dối sẽ không đưa đến một tương lai sáng sủa cho
nhân loại, mà đưa đến sự tê liệt trí thức và trì trệ
của khoa học. Sakharov, người sau này đã hy sinh tất cả để
thách đố chế độ phải tôn trọng nhân quyền, trở thành
nguồn cảm hứng và sự thu hút không cưỡng lại được đối
với tôi. Sau này khi tôi có dịp giúp việc cho ông như một
người liên lạc với các nhà báo, ngoại giao, và chính khách
nước ngoài, tôi chứng kiến là không có một khoảng cách nào
giữa những ý tưởng sâu kín nhất của con người khiêm tốn
và vĩ đại này với những gì ông ta nói nơi công cộng. Trong
trường hợp của tôi, sự hội tụ giữa ý tưởng và lời nói
này, xãy ra sau khi tôi trở thành một nhà hoạt động Do Thái,
chấm dứt sự bực bội, buồn phiền trong tâm khảm tôi. Gánh
nặng của một đời sống "hai mặt" được trút bỏ, tôi cảm
thấy như được tiếp sức bởi quyền lực vô hạn của sự
giải thoát này. Một cách đột ngột, tôi trở nên tự do, suy
nghĩ bất cứ điều gì và nói những điều mình nghĩ. Ngay cả
trong những ngày tháng tuyệt thực trong phòng giam kín, cảm giác
tự do không bao giờ rời tôi.
Đối với những người đã sống trọn đời trong sợ hãi,
cảm giác này chỉ sẽ đến khi xã hội của họ trở nên tự
do, khi họ cảm thấy an toàn để đến "quảng trường thành
phố" và bày tỏ quan điểm của họ mà không sợ. Tôi tin chắc
rằng niềm hân hoan của tự do vượt lên trên biên giới của
chủng tộc, tôn giáo, văn hóa, và rằng phương thuốc tự do vô
cùng hiệu nghiệm. Tôi cũng tin chắc rằng người ta khi đã
được tự do thì đa số trong họ sẽ không bao giờ muốn sống
trong sợ hãi nữa. Cho rằng, như những người hoài nghi thường
rao giảng, dân chúng có tự do lựa chọn sống trong xã hội sợ
hãi thì không khác gì cho rằng phần lớn những người nô lệ
tự do lựa chọn sống trong nộ lệ vậy.
____________________
[1] The Case For Democracy - Natan Sharansky, Nhà xuất bản Public Affair
2004, ISBN 1-58648-261-0
[2] "Doublethink" trong tiếng Anh.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10826), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét