Nào phải ai cho mượn để che đầu"</em>
(Thơ T.M.H.)
Cuốn sách cuối cùng đại văn hào Nga L.Tolstoi đọc trước lúc
bỏ nhà ra đi vào đêm 28-10-1910 rồi chết tại nhà ga xe lửa
Astapovo ngày 20-11-1910 là kiệt tác <a
href="http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvn0n4n0n1n31n343tq83a3q3m3237nvn&AspxAutoDetectCookieSupport=1">"Anh
em nhà Karamazov"</a> của một đại văn hào Nga khác: Dostoyevski.
Trên bàn làm việc của vị bá tước nhà văn này ở điền
trang Yasnaya Poliana tỉnh Tula cuốn sách vĩ đại của Dos vẫn
còn mở ra bằng một thanh kẹp sách ở chương Dos viết về
<em>"Viên Đại pháp quan tôn giáo"</em> trong câu chuyện của
nhân vật Ivan Karamazov kể cho em trai mình là Aliosha Karamazov…
Người ta đã lý giải nhiều về những nguyên nhân khiến
L.Tolstoi bỏ nhà ra đi tìm một nơi yên tĩnh và nghèo khó để
chết: nào là để thoát khỏi bà vợ đã từng sống 48 năm
với ít nhiều thiên đường và rất nhiều địa ngục. Nào là
L. Tolstoi luôn ám ảnh về cái chết, muốn chết như một con
thú hoang trốn chạy loài người. Nào là chuyện Tolstoi bị Nga
hoàng cấm các cuốn sách của ông, chuyện ông bị giáo hội
Chính thống Nga rút phép thông công vì ông dám viết công khai
chống lại giáo lý, lại quảng bá cho đạo Phật …
Nhưng còn một nguyên nhân tuy có thể là nhỏ, như giọt nước
làm tràn li mà các nhà <em>"Tolstoi học"</em> chưa hề nhắc
tới là chuyện những ám ảnh khủng khiếp của kiệt tác
<em>"Anh em nhà Karamazov"</em> của Dostoyevski đã góp phần
đẩy cụ già Lép bỏ trốn vợ con ra đi tìm cái chết ở một
nơi vô định vào tuổi 82?
<div class="boxright200"><img src="http://danluan.org/files/u23/oi1.jpg"
/></div></div>
Suốt 29 năm, từ ngày Dostoyevski về nước Chúa (1881), cũng là
năm kiệt tác "Anh em nhà Karamazop" được in ra trọn vẹn
lần đầu, L.Tolstoi đã mua cuốn sách này của Dos. Tolstoi coi
cuốn sách này là một cuốn sách vĩ đại, lật từng trang
nặng như giấy in làm bằng đá; đến nỗi ông phải đánh vật
với nó, khóc cười, rùng rợn, căm ghét, nguyền rủa rồi lại
ca tụng nó hết lời. Hình như trong cuốn sách khác thường này
của Dos, Lép kinh hoàng nhận ra nó vừa là qủy, vừa là thánh,
thậm chí là hình ảnh của Đức Chúa Jesus bị đem ra đóng
đinh một lần nữa trên nước Nga tràn ngập quân dữ của ông.
Suốt 29 năm trời, đại văn hào thế giới Lep này chưa đọc
hết cuốn sách được ông coi là dài và rộng hơn cả nước
Nga của đại văn hào Dos, kẻ lớn hơn ông bảy tuổi, chết
trước ông 29 năm.
Cho nên, trước lúc vĩnh biệt ngôi điền trang và gia đình đi
tìm một nơi hoang dã để chết, thay vì đọc Kinh Thánh, L.
Tolstoi đã đọc <em>"Anh em nhà Karamazov"</em>; để rồi ông -
một người báng bổ giáo lý Thiên Chúa giáo nhưng vẫn xưng
mình là tín hữu Ki-tô giáo - thoát khỏi cái thế giới duy ác
của các ngài Đại Pháp quan chuyên khoác áo duy thiện để dọa
đưa Chúa Jesus lên giàn hỏa của tòa dị giáo, nơi ông ta đang
ngồi canh giữ thế giới đã được nô lệ hóa của riêng
mình, nếu Chúa không biết điều mà "cút" khỏi thế giới
đã được an bài cho các quan cai trị…
"Anh em nhà Karamazov" đã thôi miên ngay cả L.Tostoi, khiến
suốt 29 năm ông rất mê nó mà vẫn chưa đọc hết kiệt tác
này. Cuốn sách ấy, ghê gớm thay, cho đến hôm nay vẫn còn
thôi miên cả thế giới, một cuốn sách vĩ đại nhất, khó
đọc nhất, ác nhất, thiện nhất, ma mãnh và thánh thần nhất.
Đến nỗi, đầu thế kỷ thứ XX, một nhà văn Nga là A. Remizov
đã ca ngợi tác giả của nó hết mức: <em>"Dostoyevski đó là
nước Nga. Không có Dostoyevski không có nước Nga"</em>. Chúng
tôi xin thêm: Dostoyevski & L.Tolstoi chính là nước Nga. Đỉnh núi
lớn L.Tolstoi nếu đứng một mình, nước Nga sẽ đổ. May thay,
bên cạnh đỉnh cao <em>"Chiến tranh & Hòa bình"</em>, nước
Nga đã được cân bằng bởi một đỉnh núi ngược khác, ấy
là vực sâu tinh thần thăm thẳm <em>"Anh em nhà Karamazov"</em>.
Hình như chính Viên đại pháp quan tôn giáo trong tác phẩm của
Dos vừa nhảy ra truy bắt Lép; hay là ông chợt nhìn thấy gương
mặt của Viên đại pháp quan tôn giáo trong gương mặt bà vợ
gốc Đức của mình: Sophie Behrs nên phải trốn nhà trong đêm
tối? Xin hãy đọc một phân đoạn ngắn nhưng là một công án
lớn bậc nhất thế giới mà Dos thông báo với nhân loại qua
miệng nhân vật Ivan Karamazov kể cho em trai Aliosha Karamazov, có
đoạn là sự đối thoại của hai nhân vật này xưng với nhau
bằng "tôi" với "chú" như sau:
<div class="special_quote">"Chuyện tôi kể diễn ra ở thành Xevin
Tây Ban Nha, vào thời pháp đình tôn giáo ghê rợn nhất, khi mà
để làm sáng danh Chúa Trời, hàng ngày những giàn lửa thiêu
rực cháy trong nước:
<em>Quân tà đạo không còn thoát được.
Giàn lửa thiêu ngùn ngụt căm hờn…</em>
…Vốn lòng lành vô cùng, một lần nữa Chúa đi qua giữa dân
chúng, hình dạng Chúa vẫn như mười lăm thế kỷ trước khi
Ngài sống giữa mọi người trong ba năm ròng. Ngài giáng lâm
đến "các phố phường rực lửa" của đô thành phía Nam ấy.
Ở đó chỉ mới hôm trước, trong "giàn lửa huy hoàng", trước
mặt đức vua, triều thần, các hiệp sĩ, các giáo chủ và các
mệnh phụ kiều diễm nhất trong triều, trước đông đảo dân
chúng thành Xevin, theo lệnh của giáo chủ Đại Pháp quan,
người ta đã thiêu luôn một lúc ngót trăm kẻ di giáo. Chúa
xuất hiện một cách lặng lẽ, không để ai nhận thấy, nhưng
kỳ lạ thay, mọi người đều nhận ra Chúa. Đấy có thể là
một trong những đoạn hay nhất của bản trường ca, nói về
việc tại sao người ta nhận ra Chúa. Một sức mạnh không thể
cưỡng lại được khiến dân chúng ùa đến với Chúa, vây
quanh Chúa mỗi lúc một đông thêm, đi theo Chúa. Chúa im lặng
đi qua giữa họ, miệng mỉm cười hiền từ, thương cảm vô
hạn….Dân chúng khóc và hôn mặt đất nơi Chúa bước chân
lên. Trẻ em tung hoa trước mặt Chúa, hát và reo hò:
'Hoxama!"(5).… "Đấy là Ngài, chính là Ngài, một người nhắc
đi nhắc lại, - hẳn phải là Ngài, chỉ có thể là Ngài". Chúa
dừng lại trên sân nhà thờ Xevin giữa lúc người ta khóc lóc
khiêng vào đó một cỗ quan tài trẻ em màu trắng mở nắp:
nằm trong quan tài là một bé gái bảy tuổi, con gái duy nhất
của một người quyền quý ở tha phương. Xác đứa bé phủ
đầy hoa. "Ngài sẽ làm con bà sống lại" đám đông reo lên
với bà mẹ đang khóc lóc. Một linh mục của nhà thờ đang đi
về phía cỗ quan tài cau mày nhìn, dáng vẻ băn khoăn. Nhưng bà
mẹ của đứa bé đã khóc gào lên. Bà sụp xuống chân Chúa:
"Nếu Ngài là Chúa thì xin hãy làm cho con tôi sống lại!" - bà
ta giang hai tay cầu Chúa, kêu lên. Đám đưa tang dừng lại,
đặt cỗ quan tài dưới chân Chúa. Chúa nhìn đầy vẻ thương
xót, và một lần nữa Chúa khẽ thốt lên: "Ta-lia kumi!" - "bé em
hãy trở dậy" - Cô bé ngồi dậy trong quan tài, mỉm cười,
mắt mở to ngạc nhiên nhìn xung quanh. Hai tay em cầm bó hoa hồng
mà em vẫn ôm ở trong quan tài. Dân chúng nhốn nháo, la hò, nức
nở, đúng lúc ấy giáo chủ Đại Pháp quan đột nhiên đi qua
quảng trường trước nhà thờ. Đấy là một ông già ngót chín
mươi tuổi, thân hình cao, lưng thẳng, mặt khô quắt, mắt hõm
sâu nhưng vẫn sáng quắc. Ồ, ông không mặc bộ đạo phục
giáo chủ lộng lẫy mà hôm qua ông còn mặc khi ra trước dân
chúng trong cuộc hoả thiêu những kẻ thù của đạo La Mã,
không, lúc ấy ông chỉ mặc chiếc áo thụng cũ thô kệch của
mình. Theo sau ông, cách một khoảng khá xa, là những người
giúp việc mặt mày cau có những nô lệ và đội "thánh binh".
Ông dừng lại trước đám đông và quan sát từ xa. Ông nhìn
thấy hết. Ông nhìn thấy cỗ quan tài được đặt dưới chân
Ngài, rồi con bé sống lại, và mặt ông sa sầm. Ông cau đôi
lông mày sâu róm trắng bạc, ánh mắt ông lóe lên hung tợn.
Ông trỏ ngón tay ra lệnh cho bọn vệ binh bắt Ngài. Uy quyền
của ông rất lớn, dân chúng đã quen thần phục, ngoan ngoãn và
run sợ tuân lệnh ông, đám đông lập tức dãn ra trước bọn
vệ binh, và bọn này, trong bầu không khí im ắng như trong nhà
mồ, túm lấy Ngài giải đi. Tức khắc, nghìn người như một,
đám đông nhất loạt rập đầu sát đất trước vị Đại
Pháp quan, ông ta lẳng lặng ban phước cho dân chúng và đi ngang
qua chỗ họ. Vệ binh giải phạm nhân vào một ngục thất chật
hẹp, tối tăm, có vòm cuốn trong toà nhà cổ của Pháp đình
thánh tín và nhốt ở đó. Một ngày qua đi, rồi đêm đến,
một đêm nóng bức ngột ngạt của Xevin. Không khí nồng
"hương nguyệt quế và hương chanh". Trong bóng tối sâu thăm
thẳm, cửa sắt nhà ngục bỗng mở ra, và đích thân lão Đại
Pháp quan cầm cây đèn chậm rãi đi vào. Ông ta đến một mình,
cửa tức thời đóng lại sau lưng ông ta. Ông ta dừng lại một
lúc lâu, chừng một vài phút, nhìn chằm chằm vào mặt Ngài.
Cuối cùng ông ta nhẹ nhàng đến gần, đặt cây đèn xuống
bàn, nói với Ngài: "Ông đấy ư? Ông ư?" - Nhưng không đợi
trả lời, ông ta nói thêm luôn, - Đừng trả lời, cứ im lặng.
Với lại, ông có thể nói gì được kia chứ? Tôi thừa biết
ông sẽ nói gì. Ông không có quyền thêm một lời nào vào
những gì ông đã nói trước kia. Tại sao ông xuống đây làm
phiền chúng tôi? Ông đến là phiền cho chúng tôi, điều đó
thì chính ông cũng biết. Nhưng ông có biết ngày mai sẽ thế
nào không? Tôi không biết ông là ai và không muốn biết có
phải ông thật không hay chỉ là cái vẻ bên ngoài giống như
ông, nhưng ngày mai tôi sẽ kết án ông và thiêu ông trên giàn
lửa như một kẻ tà giáo độc ác nhất, và dân chúng hôm nay
hôn chân ông thì ngày mai tôi chỉ vẫy tay một cái là họ đổ
xô đến hất thêm than vào giàn lửa thiêu ông, ông có biết
thế không? Ờ, có lẽ ông biết" - ông ta trầm ngâm nói thêm,
măt không lúc nào rời khỏi người bị bắt giam…"
….
"…Chúng tôi làm như thế có phải lẽ không, Chúa nói đi.
Lẽ nào chúng tôi không yêu nhân loại khi chúng tôi khiêm
nhường nhận ra chỗ yếu kém của họ, trìu mến giảm nhẹ
gánh nặng cho họ và cho phép bản chất yếu đuối của họ
phạm tội, miễn là được chúng tôi cho phép? Vậy bây giờ
Chúa đến gây phiền toái cho chúng tôi làm gì? Sao Chúa lẳng
lặng nhìn tôi một cách thấm thía bằng cặp mắt hiền từ
như vậy? Cứ nổi giận đi, tôi không mong muốn tình yêu của
Chúa, vì chính tôi không yêu Chúa. Cần gì tôi phải giấu giếm
Chúa? Hay tôi không biết tôi đang nói với ai? Những gì tôi
muốn nói với Chúa, Chúa biết hết rồi, tôi đọc thấy trong
mắt Chúa. Tôi phải giấu Chúa điều bí nhiệm của chúng tôi
chăng? Có lẽ Chúa muốn nghe điều đó từ miệng tôi nói ra
chăng, vậy thì hãy nghe đây: chúng tôi không theo Chúa, mà theo
hắn ( tức quỷ), đó là điều bí nhiệm của chúng tôi! Đã
từ lâu chúng tôi không theo Chúa, mà theo hắn, đã tám thế kỷ
nay.
Đúng tám thế kỷ trước, chúng tôi đã nhận lấy của hắn
cái mà Chúa đã phẫn nộ gạt bỏ, món quà cuối cùng mà hắn
đã dâng Chúa khi trỏ cho Chúa tất cả các vương quốc trần
gian: chúng tôi đã nhận của hắn La Mã và thanh gươm của Xezar
…Tôi nắm giữ điều bí mật và vì hạnh phúc của họ, chúng
tôi sẽ cám dỗ họ bằng phần thưởng vĩnh cửu trên trời.
Chỉ vì nếu có cái gì ở thế giới bên kia thì tất nhiên
không phải là dành cho những người như họ…
….
…Nên biết rằng tôi không sợ Chúa đâu. Nên biết rằng tôi
đã từng ở trong sa mạc, tôi đã từng sống bằng châu chấu
và rễ cây, tôi đã từng cảm tạ cái tự do mà Chúa đã
xuống ơn cho loài người: tôi sẵn sàng xung vào số người
được Chúa lựa chọn, những người đầy uy quyền và mạnh
mẽ, vì nóng lòng muốn "bổ sung cho đủ số" Nhưng tôi đã
tỉnh ngộ và không muốn phục vụ một công việc điên rồ.
Tôi đã quay trở lại và nhập với những người đã sửa
chữa sự nghiệp của Chúa. Tôi lìa bỏ những người kiêu hãnh
và trở lại với những người khiêm nhường vì hạnh phúc,
của những người khiêm nhường ấy. Điều tôi nói với Chúa
bây giờ sẽ thành sự thật, vương quốc của chúng tôi sẽ
được dựng nên. Tôi nhắc lại, ngày mai Chúa sẽ thấy chúng
tôi chỉ vẫy tay một cái là đàn cừu ngoan ngoan ấy sẽ đâm
bổ đến hất thêm than hồng vào đống lửa thiêu Chúa, tôi
sẽ thiêu Chúa vì Chúa đã đến gây phiền rầy cho chúng tôi.
Bởi vì nếu có người nào đáng lên giàn hoả thiêu hơn ai
hết thì đó là Chúa. Ngày mai tôi sẽ thiêu Chúa…
…
- Viên pháp quan của anh không tin Chúa Trời, tất cả bí mật
của ông ta chỉ có thế thôi!
- Cho dù là thế đi nữa! Rốt cuộc chú đã đoán ra…
…
- Tôi muốn kết thúc nó như sau: viên pháp quan tôn giáo im
tiếng một lát, chờ xem kẻ bị giam trả lời ra sao. Sự im
lặng của Chúa thật nặng nề đối với ông ta. Ông ta thấy
người này vẫn lắng lặng nghe ông ta với vẻ hết sức thấm
thía, và xem ra không muốn bác bỏ gì hết. Ông già muốn Chúa
nói với ông ta điều gì, dù là cay đắng, đáng sợ. Nhưng
Chúa bỗng lẳng lặng đến gần ông già và dịu dàng hôn lên
cặp môi tái nhợt của ông lão chín mươi. Đấy là tất cả
câu trả lời. Ông già rùng mình. Khóe môi ông rung động. Ông
ta mở cửa, nói với Chúa: "Chúa đi đi và đừng đến nữa…
đừng bao giờ đến nữa… đừng bao giờ, đừng bao giờ". Ông
ta thả cho Chúa đi vào "những phố phường tăm tối của đô
thành". Người bị giam ra đi…"</div>
<em>(lược trích chương 5 "Anh em nhà Karamazov" do Phạm Mạnh
Hùng dịch)</em>
Hơn 120 năm từ khi <em>"Anh em nhà Karamazov"</em> ra đời, có
hàng trăm học giả viết hàng trăm bài luận văn bình phẩm
đoạn <em>"Viên đại pháp quan tôn giáo"</em> về ý nghĩa
thần học, triết học, văn học, sử học, chính trị học,
luật học, mỹ học…, tranh luận ác liệt về các ý nghĩa
tương phản trong hình tượng văn học bất hủ và vĩ đại
này. Đến nỗi, S. Freud đã gọi đoạn trường ca "Viên đại
pháp quan tôn giáo" trên là áng văn hay nhất thế giới từ
xưa đến nay. Có lẽ, chính hứng khởi từ trường ca này, A.
Einstein đã ca tụng Dostoyevski hết lời, rằng: <em>"Dos đã cho
tôi nhiều hơn bất cứ nhà tư tưởng nào của nhân
loại"</em>. Có lẽ, chính vì hứng khởi từ trường ca này, F.
Nietzsche đã viết như sau trong đoạn "Người điên" trích
trong kiệt tác văn học-triết học của ông: <em>"Zarathustra
đã nói như thế"</em> rằng:
<em>"Chúa đã chết. Chúa vẫn chết. Và chúng ta đã giết
Ngài. Làm thế nào để tự an ủi chính chúng ta, những kẻ sát
nhân của tất cả những kẻ sát nhân? Kẻ linh thiêng và hùng
cường nhất mà thế giới hãy còn công nhận đã chảy máu
đến chết dưới những lưỡi dao của chúng ta: ai sẽ lau đi
vết máu này đây? Có thứ nước nào để ta tẩy rửa chính
mình không? Chúng ta còn có thể bày ra lễ hội sám hối nào,
những trò chơi linh thánh nào nữa đây? Liệu sự vĩ đại của
hành động này có quá vĩ đại đối với chúng ta chăng? Liệu
chúng ta có nên không trở thành chúa chỉ để tỏ ra xứng
đáng với việc đó?"</em>
Nietzsche từng coi kiệt tác <em>"Anh em nhà Karamazov"</em> là
cuốn sách gối đầu giường, là kinh thánh mới của ông, nên
ông đã thấm nhuần tư tưởng Dos trong lời nói nổi tiếng
trên của mình, khiến nhiều người hiểu nhầm rằng ông
nguyền rủa Thượng đế. Không, cả Dos và Nietzsche đều tôn
vinh Thượng Đế bằng cách làm ra vẻ báng bổ Ngài, theo kiểu
Huệ Năng tôn vinh Đức Phật.
Trong lời tựa cho tác phẩm <em>"Anh em nhà Karamazov"</em>,
dịch giả, nhà văn Phạm Mạnh Hùng, có đoạn viết: <em>"Trong
bản trường ca "Viên đại pháp quan", Dostoyevski lên án gay
gắt đạo Thiên Chúa mà ông căm ghét và đả kích quan niệm
chủ nghĩa xã hội trại lính (Dostoyevski coi quan niệm này là
chung cho mọi học thuyết về xã hội chủ nghĩa)"</em>
Người ta cần phải học phương pháp bóc vỏ hành trong khi
đọc sách Dos. Cái vỏ bên ngoài hình như đoạn văn trên Dos
lên án giáo hội Thiên Chúa giáo lợi dụng Chúa Jesus để mê
hoặc giáo dân, để làm chiêu bài nô lệ hóa con chiên ? Nhưng
càng đọc, càng tiếp nhận Dos ở nhiều chiều kích khác nhau,
mới thấy <em>"nói vậy không phải là vậy"</em>, rằng thực
ra đây là đoạn Dos ca ngợi Chúa Jesus nhất.
Viên đại pháp quan tôn giáo ngồi ra lệnh thiêu sống hàng
nghìn con người ngoại đạo hay báng đạo, vẫn nhân danh Chúa,
nhân danh điều răn cấm giết người của Chúa để giết
người không gớm tay, chính là ông ta (quan giáo hội) đang gián
tiếp muốn giết Chúa, hỏa thiêu Chúa một lần nữa. Ki-tô
chính là Cái Đẹp, là Chân Thiện Mỹ, là mục đích cao cả
của Thiên Chúa Giáo, là Chân Lý bỗng biến thành phương tiện
cai trị, thành công cụ hóa tước đoạt tự do các tín hữu.
Viên đại pháp quan tôn giáo kia chỉ là một biểu tượng cho
mọi kẻ thống trị trong các thời đại của loài người.
Bọn thống trị ấy hầu như đều nhân danh một mục đích cao
cả nào đó, ví như mục đích giải phóng, mục đích mang lại
tự do, hạnh phúc, mang lại thế giới đại đồng cho con
người để lừa đảo con người, để làm bình phong, làm
phương cách nô dịch hóa con người, bầy đàn hóa con người.
Chúng, bọn thống trị mang tinh thần Viên đại pháp quan kia
nhân danh Chúa để giết Chúa, nhân danh Cái Đẹp để xóa bỏ
chân thiện mỹ, nhân danh tự do để cầm tù con người, nhân
danh Chân lý để diệt Chân lý là thông điệp Dostoyevski cảnh
báo dân tộc Nga và thế giới không chỉ trong <em>"Anh em nhà
Karamazov"</em> mà trong hầu hết trong các tác phẩm khác của
ông.
Trong đoạn văn trên còn câu chuyện Viên đại pháp quan nói
với Chúa rằng, Chúa đã sai lầm khi không đổi tự do tuyệt
đối của mình lấy phép thuật của qủy Sa-tăng khi quỷ muốn
đổi tự do của Chúa lấy bí mật phép lạ biến đá thành
bánh mì, vì dân chúng chỉ cần bánh mì, không cần tự do. Ấy
là việc Kinh Thánh chép khi Jesus vào hoang mạc, ăn chay 40 ngày
đêm, quỷ hiện ra thứ thách Ngài ba điều: nếu là Chúa thật
sao ông không biến đá thành bánh mỳ ăn cho đỡ đói? Nếu là
Chúa thật sao ông không nhảy từ đền thờ xuống cho các thiên
thần đỡ lấy? Nếu ông quỳ lạy ta, ta sẽ ban cả thế gian
này cho ông cai trị? Viên đại pháp quan chê chúa dại dột,
không hành động theo lời quỷ xúi. Rằng vì cái lợi, vì bánh
mì, vì quyền lực, con người khác Chúa sẵn sàng đổi tự do
tuyệt đối để lấy các thứ lợi lộc do quỷ đề xuất kia.
Rằng Viên đại pháp quan thích theo qủy sướng hơn theo Chúa
để có quyền lực trên thế gian, hơn là sự bất tử trên
nước trời. Mục đích tối thượng của Viên đại pháp quan
và kẻ thống trị các xã hội trần gian cần là bánh mỳ, là
quyền lực chứ không phải chân lý. Chân lý, cái đẹp chỉ là
bánh vẽ bọn thống trị đưa ra để dụ dỗ con người; rằng
ta hứa cho nhân dân tự do, thì ngược lại, nhất định các
người sẽ nhận được nhà tù; rằng ta hứa cho các người
thiên đường đại đồng trên trái đất, nhất định nhân dân
chỉ có thể nhận được từ tay kẻ thống trị xảo ngôn
địa ngục mà thôi…
Không chỉ dịch giả Phạm Mạnh Hùng nhận thấy Dos căm ghét
đạo Thiên Chúa giáo mà rất nhiều người đọc Dos theo kiểu
mặt phẳng cũng có quan điểm trên; trong khi từng trang sách
của Dos chỉ mượn mặt phẳng giấy để trưng ra không gian
muôn chiều các ý nghĩa sâu sắc tột cùng của một triết gia
dùng xúc cảm trái tim gửi thông điệp tới nhân loại:
<em>"Cái đẹp (theo ý nghĩa rốt ráo là Chúa Jesus) sẽ cứu
vớt thế giới"</em>.
Hãy xem, Dos viết gì về tín ngưỡng Ki-tô giáo của mình:
<em>"Tôi tin rằng không có gì đẹp hơn, sâu sắc hơn, đáng
mến hơn, thông minh hơn, dũng cảm hơn và toàn bích hơn Đức
Chúa Ki-tô…Giả sử có ai chứng minh được cho tôi rằng Ki-tô
ở ngoài chân lý và quả thực chân lý ở ngoài Ki-tô, thì tôi
vẫn muốn ở lại với Ki-tô, chứ không với chân lý"</em>.
Dos còn tuyên bố nhiều lần xác tín niềm tin tuyệt đối vào
Thiên Chúa của ông. Những năm tháng bị tù, bị biệt giam trong
hầm tù tử hình, bị đi đày, bị làm lính thú tại Xibia, Dos
luôn mang theo vật bất li thân là cuốn Kinh Thánh Tân Ước.
Trước ngày chết ba tháng, Dos còn viết những dòng này trong
nhật ký: <em>"Bọn vô lại chế diễu tôi tin một cách cổ
hủ và vô học vào Thượng Đế…"</em>. Lúc lâm chung, Dos
nhờ người vợ tuyệt vời của ông là Anna Grigorievna Snitkina
đọc cho ông đoạn Kinh Thánh ngẫu hứng nào bà mở ra. Đoạn,
Dos trút hơi thở cuối cùng trong lời Kinh Thánh.
Niềm tin vào Chúa Ki-tô của Dos và các nhân vật của ông là
một hành trình thương khó, khổ ải vô bờ, tự mình đóng
đanh tâm hồn mình lên cây thánh giá của hoài nghi, của suy tư
triết học, của sự cật vấn, truy nguyên rất khó chịu của
bộ óc còn nguyên vẹn sự tò mò con trẻ trước các tín điều
về Chúa Ba Ngôi, về việc hiến tế thân mình cho Cái Đẹp
tuyệt đối, tha thứ tuyệt đối, hi sinh tuyệt đối của Jesus
lấy máu mình làm chứng sự vĩnh hằng…
Trước Ki-tô, cũng như loài người, Dos và các nhân vật của
ông hầu như đều được sinh ra và lớn lên trong tội lỗi,
trong vô minh, trong dục vọng thấp hèn, trong sự giãy giụa
muốn thoát khỏi Thượng Đế để tha hồ làm ác nơi thế
giới này đang bị quỷ ám.
Trước khi giác ngộ về CÁI ĐẸP của Chúa sẽ cứu vãn thế
giới, Dostoyevski từng đã có thời trai trẻ sống thác loạn
trong cờ bạc, rượu chè, trai giái, từng hoài nghi về Thiên
Chúa, từng khát vọng làm cách mạng thay đổi thế giới bằng
bạo lực. Sau tác phẩm đầu tay thành công: <em>"Những kẻ
bần hàn"</em> được Belinski tiên đoán Dos sẽ là nhà văn Nga
vĩ đại nhất. Nhưng rồi Dos rời bỏ nhóm Belinski vì bất
đồng nghệ thuật. Dos tham gia nhóm Petrashevsky theo trường phái
xã hội chủ nghĩa không tưởng của nhà triết học Pháp Fourier
(1772-1837), dùng bạo lực để lật đổ chế độ Nga hoàng.
Nhóm cách mạng này của Dos chủ trương, sau khi lật đổ chế
độ quân chủ, sẽ xây dựng một xã hội chủ nghĩa không còn
sở hữu cá nhân, chỉ có sở hữu nhà nước, nhân dân sẽ ở
chung, ăn chung, làm chung, tiến đến xã hội làm theo năng lực,
hưởng theo nhu cầu, đưa con người trở lại thời kỳ cộng
sản nguyên thủy khi chưa xuất hiện văn minh tư hữu. Nhóm này
theo học thuyết của Fourier (cùng với Saint Simon, Robert Owen)
chủ trương thành lập các công xã cho sản xuất nông nghiệp &
công nghiệp (phalansteries), xóa bỏ văn minh tư hữu, xây dựng
văn minh công hữu, xóa bỏ sở hữu cá nhân; rằng mọi tai họa
của xã hội đều do chế độ tư hữu gây ra, chỉ cần xóa
bỏ nó là có một thế giới tự do, bác ái, công bằng, đại
đồng, thiên đường trên mặt đất sẽ được thiết lập
trên toàn thế giới trong vòng ba mươi năm đến năm mươi năm
theo tính toán của Fuorier, Leroux, Cabet…Sau này, K. Marx, F.Engels
coi Fuorier và các đồng chí của ông là thủy tổ của chủ
nghĩa cộng sản, đặt cơ sở lý luận cho học thuyết của Marx
& Engels.
Năm 1847, Dos tham gia tổ chức bí mật xã hội chủ nghĩa này,
chủ trương dùng vũ lực lật đổ Nga hoàng, sau đó mới xây
dựng chế độ công xã toàn Nga và toàn thế giới. Nhưng năm
1849, nhóm cách mạng Petrashevsky chưa kịp manh động thì bị
bắt. Mười sáu người trong nhóm bị kết án tử hình, bị giam
trong hầm tối của pháo đài Petropavlovskaya suốt 09 tháng. Ngày
16-11-1849 Dostoyevski và 15 người trong nhóm bị tử hình trên
trường bắn của pháo đài. Trước khi 16 nhà cách mạng bị
bắn, linh mục Chính thống giáo đến đọc kinh cầu hồn cho
họ, cho phép họ được làm dấu thánh và đọc kinh cầu Chúa
lần cuối cùng.
Khi những viên đạn súng trường Nga nổ vang trường bắn, Dos
kêu tên Chúa lần cuối cùng, theo phản xạ, ông gục xuống
nhận lãnh cái chết vì tội dùng vũ lực toan lật đổ chính
quyền. Nhưng phép lạ đã xảy ra, sau loạt đạn giết chết
các tử tù, kỳ lạ thay, ông thấy mình không chết, không đau
đớn gì cả và ông nghi rằng mình đã chết hẳn về thân xác,
chỉ còn linh hồn mình phục sinh giúp mình nhận thức về sự
sống vĩnh hằng của linh hồn đang đến nước Chúa. Nhưng
không, Dos nhận ra không phải ông đang tồn tại trong cõi linh
hồn, mà thân xác ông chưa chết, không chết. Hay là ông đã
phục sinh sau khi chết để đến tòa Phán xét chung. Cũng chính
lúc ấy, tiếng loa của trường bắn ra lệnh của Nga hoàng ân
xá tội chết cho 16 tử tù, giảm án xuống thành tù khổ sai 10
năm. Khi được cởi trói và tháo bỏ băng bịt mặt, Dos mới
biết Nga hoàng chỉ thử thách 16 nhà cách mạng mà thôi, bằng
cách tổ chức một cuộc tử hình giả. Chỉ sau khi gần như
được sống lại trong sự ân xá nhân đạo của Nga hoàng, Dos
đã nhận ra bạo lực cách mạng không thể nào giải quyết
được những mâu thuẫn trong thế giới này. Chỉ có bằng tình
thương yêu của Thiên Chúa mới cải tạo được thế giới và
con người mà thôi.
Suốt những năm tháng bị giam cầm trong nhà hầm chờ án tử
hình, bị đày tại Xibia trong nhà tù Omsk suốt bốn năm trời,
bị trưng dụng làm lính thú ở Kazakhstan…Dos luôn mang cuốn
Kinh Thánh bên mình. Ra tù, thoát đời lính thú, năm 1860 Dos về
lại kinh đô Sankt Peterburg, làm người tự do, không hề bị
quản thúc hay theo dõi, được hoàn toàn tự do sáng tác, được
tự do sang du lịch châu Âu, được cùng với người anh trai
thành lập tờ báo tư để thông báo về sự nhận thức lại
của Dos, từ bỏ bạo lực cách mạng manh động, từ bỏ chủ
thuyết xã hội chủ nghĩa hoang tưởng rất ấu trĩ và phản
khoa học của Fuorier, lấy chủ nghĩa nhân văn Thiên Chúa giáo
Chính thống để mang lại tự do, bác ái, công bằng cho tất
cả mọi người làm thiên hướng cho ngòi bút.
Năm 1864, Dos công bố tiểu thuyết <em>"Bút ký từ nhà
hầm"</em> nhằm phê phán quyết liệt trào lưu hư vô chủ
nghĩa và trào lưu xã hội chủ nghĩa đang thịnh hành ở Nga và
châu Âu. Dos chế diễu xã hội công xã của Fuorier bằng cách
đưa ra ba cấu túc xã hội theo kiểu "tổ kiền", theo kiểu
"chuồng gà", theo kiểu "lâu đài pha lê"…Một xã hội
bị tước đoạt sở hữu cá nhân cũng là một xã hội tước
đoạt tự do của con người. Chúa Ki-tô chịu xuống thế và
tử nạn trên cây thánh giá nhằm giải phóng con người khỏi
chế độ nô lệ, mang lại tự do, hạnh phúc cho con người. Mô
hình xã hội công xã "tổ kiến", "chuồng gà", "nhà pha
lê" là mô hình cầm tù hóa, nhà hầm hóa con người, tước
đoạt tự do và mọi cái riêng tư của con người, đưa con
người trở thành chế độ bầy đàn của loài thú là tội ác
không thể tha thứ.
<em>"Bút ký từ nhà hầm"</em> là tiểu thuyết chính luận
của Dostoyevski nhằm tranh luận với nhà văn, nhà cách mạng dân
túy, cách mạng xã hội chủ nghĩa Chernyshevski (1828-1889).
Chernyshevski kêu gọi nông dân Nga dùng rìu để chặt đổ chế
độ Nga hoàng rồi toàn dân tiến lên xã hội công xã nhân dân:
ăn chung, ở chung, làm chung, hưởng hạnh phúc chung. Tiểu
thuyết "Làm gì?" của Chernyshevski gửi từ trong tù ra in và
phát hành rộng rãi, như một quả bom cách mạng khuynh tả kích
động dân Nga nổi dậy "đấu tranh giai cấp", mặc dù năm
1861, chế độ nông nô ở Nga đã bị hủy bỏ (mới hay chế
độ tự do báo chí, tự do xuất bản, tự do ngôn luận của
chế độ Nga hoàng quá tuyệt vời). Karl Marx từng hết lời ca
ngợi Chernyshevski: "<em>Ông là một học giả Nga vĩ đại, một
nhà phê bình bậc thầy đã triệt để phê phán sự phá sản
của kinh tế học tư sản"</em>. Tiểu thuyết <em>"Làm gì"
</em>của Chernyshevski xây dựng hàng loạt nhân vật và hình ảnh
về xã hội tương lai của Nga, một xã hội xã hội chủ nghĩa
tuyệt vời hoàn hảo, không còn giai cấp, mọi người tự nhiên
trở nên thánh thiện vì không còn hình thức tư hữu, cả xã
hội như lâu đài pha lê trong suốt, mọi người đều nhìn nhìn
thấy nhau cười nói múa hát vui tươi phấn khởi như hoa mùa
xuân.
V. Lenin đã nhiệt liệt hoan nghênh cuốn "Làm gì", gọi
Chernyshevski là người thầy của cách mạng Nga. Đến nỗi Lenin
đã mượn tiêu đề của Chernyshevski viết một luận cương
cách mạng vô sản nổi tiếng "Làm gì?"
<em>"Bút ký từ nhà hầm"</em> của Dostoyevski viết nhằm mục
đích phản bác, chế diễu quan điểm xã hội chủ nghĩa ảo
tưởng và phản nhân tính của Chernyshevski, có ý ví "lâu đài
pha lê- xã hội chủ nghĩa" của Chernyshevski là ngôi nhà hầm,
tức một nhà tù thực sự . Dos gọi mô hình xã hội chủ nghĩa
công xã kia là <em>"còn đáng ghét, khủng khiếp hơn nhà tù
khổ sai"</em>. Qua tiểu thuyết này, chúng ta thấy thiên tài
của Dos đã tiên tri rất chính xác, đã báo trước về cái nhà
tù khổ sai có tên xã hội lâu đài pha lê, xã hội chủ nghĩa
trại lính, xã hội chủ nghĩa bầy đàn man rợ đã tước
đoạt tự do của con người sẽ xảy ra sau này ở nước Nga
suốt 74 năm sau ngày Dos chết (1917-1991)
Hầu hết các nhân vật trong nhiều cuốn tiểu thuyết của
Dostoyevski theo <em>"ý thức hệ ác"</em>, theo thuyết duy ác
đều là những nhà trí thức, những con người muốn nhảy ra
cứu đời, cứu thế, trang bị cho mình một hệ tư tưởng
thiên tả, thiên ác, coi cái ác là phương cách duy nhất cải
tạo thế giới, đưa con người đến thế giới đại đồng.
Thậm chí, những nhân vật này đôi lúc cũng lên <em>"cơn
động kinh yêu thương con người"</em>, dùng thuyết siêu nhân
để biện hộ cho mình: rằng mục đích tốt đẹp cho phép ta
dùng bất kể phương pháp, dù giết hàng trăm triệu người
để xã hội tiến tới đại đồng thì vẫn cứ là tốt đẹp,
là cao cả. Quan niệm nguy hiểm nhất của các phả hệ ác, các
hệ tư tưởng của các nhân vật theo thuyết siêu nhân, dùng
<em>"Cái ác sẽ cứu vãn thế giới"</em> nơi các tiểu
thuyết của Dostoyevski là chúng núp dưới bóng đen của thuyết
vô thần; rằng khi không có Thượng đế, khi Thượng đế đã
cút khỏi thế giới thì ta muốn làm gì thì làm, muốn giết ai
thì giết, chẳng lo bị trừng phạt. Rằng, không có thượng
đế, các đồng chí vô thần chúng ta hoàn toàn tự do, tuyệt
đối tự do làm ác, nhưng phát ngôn thì mới thánh thiện làm
sao. Các nhân vật duy ác của Dos phải nói là đông như quân
Nguyên, chúng vứt bỏ ám ảnh thượng đế để tìm tự do
tuyệt đối mà thực thi học thuyết duy ác vô luân của chúng.
Những nhân vật bị Dostoyevski lôi ra từ "dưới nhà hầm"
tội ác, trưng ra cho thế giới thấy nhân diện của chúng muốn
dùng " cái ác cứu thế giới" kinh tởm xiết bao, đốn mạt
và vô luân xiết bao. Những nhà ác học này muốn dùng phương
pháp địa ngục để xây dựng một thiên đường đường
dưới thế. Đấy mới chính là thông điệp sâu sắc nhất,
nhân văn nhất, Ki-tô nhất của Dostoyevski . Thiên tài tiểu
thuyết này đã thông báo trước hàng ba, bốn chục năm với
thế giới về đại họa của nhân loại mà thực tế lịch sử
bi thảm của thế kỷ XX đã chứng minh những lời tiên tri,
những hồi chuông báo động của Dos là hoàn toàn chính xác.
Rằng các qủy vương của "lâu đài pha lê" đã đến để
địa ngục hóa thế giới bằng thứ thiên đường phi cá nhân,
phi sở hữu nồng nặc mùi thú dữ.
<em>"Lũ người qủy ám"</em> của Dostoyevski (tiêu đề này
lấy từ Kinh thánh) là một tiểu thuyết tôn vinh cái đẹp, tôn
vinh tự do, tôn vinh công bằng bác ái, phản bác lại học
thuyết duy ác của những kẻ siêu nhân cho mình có quyền giải
phóng con người bằng cách giết người, xóa bỏ các tầng lớp
người khác không cùng với con người trong quan niệm của học
thuyết duy ác. Dostoyevski, một tín đồ trung thành theo chân
Chúa, dùng học thuyết Duy -Thiện để đáp lại học thuyết duy
ác của các tín đồ Fuorier, Chernyshevski… Các nhân vật siêu
nhân, những nhà cách mạng hoành tráng trong "Lũ người qủy
ám" như Piotr Verkhovenski và Sihigaliov từng tuyên bố:
<em>"Xuất phát từ tự do vô giới hạn, chúng tôi chủ trương
đi đến một nền độc tài vô giới hạn"</em>. Nhân vật
trong " Lũ người qủy ám" diễn thuyết về cái đẹp đồng
nhất với cái cao cả, đồng nhất với chân lý Ki-tô trước
một đám người hầu như đã bị qủy ám, thờ ơ, vô cảm
đang lừ lừ trôi theo dòng cuồng lưu ngầm của cái ác, như
sau: <em>"Không có người Anh nhân loại vẫn sống được,
không có người Đức cũng thế, không có người Nga sống
được quá đi chứ, không có khoa học cũng được, không có
bánh mỳ cũng được, chỉ không có CÁI ĐẸP là không sống
được, bởi vì sẽ không còn gì trên đời để làm nữa. Toàn
bộ bí mật là ở đây, toàn bộ lịch sử ở
đây"</em>…<em>"Toàn bộ quy luật của sự tồn tại nhân
loại chỉ là để sao cho con người luôn luôn có một cái gì
lớn lao vô hạn để tôn thờ. Nếu bị tước đoạt cái lớn
lao vô hạn này, con người sẽ không còn muốn sống và sẽ
chết trong tuyệt vọng"</em>…
Thông qua bề mặt của đề tái tội ác, qua cái thế giới bị
qủy thôi miên làm xã hội con người đánh mất nhân tính,
đánh mất tình thương yêu, Dostoyevski muốn phục sinh lại tự
do cho con người, với một thông điệp luôn luôn mới, luôn
luôn cần thiết cho mọi thời đại: tự do quý hơn bánh mỳ,
tự do quý hơn hạnh phúc, tự do đồng nhất với nhân tính.
Tiểu thuyết "Chàng ngốc" của Dostoyevski viết về con
người trí thức theo chủ thuyết duy thiện Mưskhin vốn được
Chúa tạo nên từ bùn đất của cái đẹp, như Sa mạc trong Kinh
Thánh xứ Canaan sinh ra những chùm nho ngon ngọt đến nỗi hai
người khiêng nặng. Mưskhin hiện thân của cái đẹp, của sự
ngây thơ trong trắng. Mưskhin cả tin, thương người hơn bản
thân mình, muốn thế giới hoàn mỹ bằng tình yêu mến. Anh dù
học hành nhiều, tri thức hơn người nhưng anh ngốc, anh khờ
trước một thế giới dối trá, lừa đảo. Anh đi một mình và
rủ người tình Natasia Philippovna theo con đường của Chúa đến
Golgotha làm cuốc cách mạng dễ thương của cái đẹp. Nhưng
khát vọng đẹp, khát vọng cao cả, khát vọng chân lý của
đôi trai tài giái sắc này bị cái ác trần thế vùi dập.
"Chàng ngốc" chính là thông điệp của Dostoyevski về việc
cái đẹp đã , đang và sẽ còn bị cái ác đánh bại, cái
đẹp đã bị đóng đinh trên câu rút như Ki-tô xưa. Làm sao,
làm gì để phục sinh cái đẹp, như Chúa đã phục sinh?
Nhân vật Raskolnikov nơi kiệt tác <em>"Tội ác và trừng
phạt"</em> của Dostoyevski dường như dùng để nhà văn trả
lời thao thức ấy. Dos đưa ra một lý giải thiên khải: khi nào
kẻ ác còn khả năng sám hối, Cái Đẹp nhất định sẽ phục
sinh. Raskolnikov là một nhân vật trí thức, đọc rất nhiều
sách, muốn nhảy ra lập lại trật tự cho thế giới lộn tùng
phèo này bằng học thuyết siêu nhân. Anh ta đi đến một kết
luận mang đầy vẻ triết học: muốn cứu thế giới phải
giết người. Anh ta cũng đưa ra một triết thuyết khác làm cơ
sở cho thuyết duy ác sẽ cứu thế giới của mình là cần
phải xua đuổi kẻ rách việc, kẻ rình mò tâm hồn anh ta suốt
ngày đêm, kẻ canh giữ thế giới như cú vọ canh tổ ra khỏi
tâm hồn anh ta và tâm hồn nhân loại là Chúa Jesus. Bởi anh ta
biết mang Jesus trong mình, có Jesus bên cạnh, anh ta không được
tự do tuyệt đối, không được tự do giết hết kẻ nghèo hèn
trên đời để có một nhân loại khác hung ác hơn vì cái ác
chính là cái mạnh. Raskolnikov đã giết người một cách có ý
thức, giết người một cách triết học, giết người có
định hướng xã hội chủ nghĩa. Bằng hệ tư tưởng ác,
Raskolnikov đã trở thành một nhà ác học nổi tiếng nhất trong
toàn bộ các nhân vật ác của văn học thế giới, một cái ác
có chủ nghĩa, chủ thuyết, một cái ác mà nếu đem qủy Satăng
so với anh ta, qủy vương kia mới chỉ là hội viên hội từ
thiện mà thôi.
Nhưng Dostoyevski là một nhà văn nhân đạo chủ nghĩa lớn
nhất thế giời đã không để tên Cain mới này xuống địa
ngục của cái ác, khi hắn đã đi hết chặng đường của chủ
nghĩa ác và phải vào tù. Chúa Trời, hay chính là tinh thần
nhân đạo cao cả của Dostoyevski đã sai một nhân vật nữ
thánh thiện xuống tận đáy của vũng lầy tội ác mà gieo vào
linh hồn rắn độc Raskolnikov một tia sáng của hi vọng phục
sinh: ấy là sự tự sám hối. Nhân vật nữ thánh thiện ấy có
tên là Sonia Manmeladova đã đến, bằng tình yêu cải tử hoàn
sinh cho tâm hồn Raskolnikov, khiến hắn còn cơ hội làm người
và tự sám hối ăn năn suốt cả cuộc đời mình. Chính
Kaskolnikov đã bị cái ác dày vò cả đời, đấy chính là đòn
trừng phạt ghê gớm hơn lửa địa ngục mà hắn phải nhận
lấy để rửa hết tội lỗi trần gian.
Thông điệp vĩ đại của Dostoyevski nằm ở đây: hỡi cái ác,
hởi kẻ ác, hỡi chủ nghĩa ác, hỡi chế độ ác, hỡi xã
hội ác, các người sẽ vẫn còn có cơ hội hoàn lương nếu
các người còn biết sám hối, biết ăn năn tội lỗi mà quay
đầu trở lại với chân thiện mỹ. Đấy phải chăng là tinh
thần nhân đạo cao cả nhất của Chúa Ki-tô thổi vào ngòi bút
thiên sứ Dostoyevski?
Sau thành công vang dội thế giới của kiệt tác <em>"Tội ác
và trừng phạt"</em>, Dostoyevski đã được Chúa ban cho một
nàng thánh nữ khác, không phải là thánh nữ Sonia hư cấu đến
cứu linh hồn Raskolnikov, mà là một thánh nữ trần gian rất
thật tên là Anna Grigorievna Snitkina mới vừa 20 tuổi. Trong cơn
bĩ cực nhất của cuộc đời, Dostoyevski vào những năm 1865,
1866, 1867 hầu như đã bị con quái vật cờ bạc nuốt sống.
Cùng vời đam mê cờ bạc đến gần như mất trí, là đam mê
trác táng rượu chè, trai giái sa đọa, làm Dos khánh kiệt đến
nỗi có thể chết đói.
Nhưng Chúa đã phái nữ thiên thần Anna Skitkina đến cứu ông
trong một cuộc kiếm tìm người thư ký đánh máy. Sau này, Anna
thành vợ hiền của Dostoyevski, vừa làm vợ vừa làm người
giúp việc, người quản lý tác phẩm và tiền mạc, người sinh
cho ông mấy đứa con dễ thương, người đóng vai trò bảo mẫu
cho chú bé con của Chúa Trời là Dostoyevski với bộ râu dài
của các thầy tu Chính thống giáo, lúc nào cũng đăm chiêu trong
bộ áo choàng thùng thình như đang cùng ba môn đệ chờ Chúa
Jesus cầu nguyện toát mồ hôi máu vì sợ hãi quân dữ sẽ tới
bắt bằng nụ hôn Juda trong vườn Gietsimani xưa.
Trước người vợ cuối cùng Anna - một người vợ vĩ đại -
Dos đã từng kết hôn với với người đàn bà đã từng có
một đời chồng và có con riêng là Maria Dmitrieva Isaeva do ông
quen từ nơi đi đầy tại vùng tây Xiberi. Trong đêm tân hôn
với người đàn bà tuy đẹp mà hơi bị rỗ hoa này, trong phút
động phòng hoa chúc, Dostoyevski đã xúc động đến nỗi lên
cơn động kinh, miệng xùi bọt mép như bong bóng xà phòng, giãy
đành đạch như con trạch trong rổ, khiến vị hôn thê kinh hãi
khóc như mưa gió than rằng: Chúa ơi, sao Ngài lại chơi xỏ con
đến thế, Chúa lại ban cho con một con cua râu dài này làm
chồng, khiến nó xùi bọt mép ra như dân Do Thái xưa ăn phải
bả của Pharaông. Lạy Chúa tôi, sau một tuần lấy nhầm phải
con cua xùi bọt mép vì động kinh làm chồng, con mới biết mình
may mắn lấy được một chàng trai còn tân, một chàng trai chưa
từng biết mùi đàn bà…Maria dù sao cũng phải tạ ơn Chúa đã
ban cho nàng một thày tu trinh tiết làm chồng đang nằm kia run
lẩy bẩy sau phút hoan lạc ái ân. Nhưng đời sống vợ chồng
của Dostoyevski không hạnh phúc vì vợ hay ghen, vì ông không có
nhiều tiền khiến hai người phải vay nợ để khỏi chết
đói.
Sau khi người vợ chết vì bệnh lao phổi, Dostoyevski tự do theo
qủy dâm dục chui vào giải phóng các nhà thổ sau những cơn
rượu chè cờ bạc be bét. Ông cặp bồ với một cô gái có
học, chịu chơi, có thể gây ba bốn trận bão trên giường
trong một ngày, đẹp một cách lõa thể, có cặp bồng đảo
khiếu khích cả thày tu tên là Apollinari Suslova. Cuộc tình ăn
chơi hưởng lạc xảy ra sau những canh bạc này của Dos không
bền, cô gái phóng đãng kia cuối cùng đã chia tay ông, đẩy
nhà văn xuống các trang giấy trắng mà đem sức tàn dùng ngòi
bút đào huyệt giấy để chôn mình: <em>"Bút đào huyệt giấy
mà chôn mình dần"</em> (thơ TMH)
Chính người vợ do Chúa sai đến là Anna Snitkina kém Dos 25 tuổi
đã cứu ông thoát chết khỏi các huyệt giấy đêm đêm ông
mòn mỏi đào kiếm chữ để lấy tiền trả nợ món vay trước
từ các ông chủ xuất bản ki bo như sâu đo kia. Cũng chính
nhờ sự phục vụ chồng vô điều kiện của bà, mà Dos có
thời gian, có hứng khởi thực hiện thiên mệnh cao cả nhất
đời mình là viết nên đại kiệt tác như một nước Nga thu
nhỏ, một thế giới thu nhỏ có tên là " Anh em nhà Karamazov"
Dos có ngẫu hứng sáng tác rất đặc biệt là hát lên, đọc
lên, diễn lên các lời mới của cuốn tiểu thuyết để bà
vợ Anna ghi chép lại. Ông có một giọng nói rất truyền cảm,
rất Nga, âm vang ấm áp như giọng các thánh tu rừng xưa đứng
một mình trên núi giảng lời Chúa cho chim muông suối rừng nghe
. Có lần Dostoyevski đọc bài thơ "Nhà tiên tri" của đại
thi hào Puskin khiến cho một bà qúy tộc sướng quá, xúc động
quá mà ngất đi, tí chết.
Dos mặc bộ áo choàng thày tu thùng thình, lưng thắt dây gai,
đeo tượng thánh giá Chúa trễ xuống ngực toòng teng, có khi tay
cầm cuốn Kinh Thánh bé, có khi không, rồi ông đi lại nhập
đồng đọc to từng lời cho bà vợ thư ký đi theo ghi từng con
chữ, hòa tan bản thân mình mà đóng vở kịch độc diễn, lúc
là Fiodor Karamazov cha, lúc là người con trưởng Dmitri Karamazov,
lúc Dos lại là người con thứ Ivan Karamazov, lúc Dos hóa thành
người con rơi, nửa kẻ hầu nửa con trong nhà là Smerdiakov, lúc
Dos hóa thành người con thiên sứ trong nhà Aliosa…Bằng hình
thức viết văn diễn kịch nhập đồng, một mình Dos đóng vai
cả thế giới, đóng vai thiện vai ác, rồi trộn thiện vào ác,
trộn qủy sứ vào thiên thần thành món cocktail của Chúa, với
những nhân vật bi kịch muôn mặt con người, với vô vàn
chiều kích đôi khi trái ngược nhau. Nhiều khi sự độc diễn
của ông nhanh kinh khủng, khiến bà vợ thư ký chép mỏi tay,
chữ trên giấy dù chạy như ngựa không đuổi kịp cái thế
giới tiểu thuyết đang diễn ra với tốc độ thiên sứ của
kịch sĩ thiên tài diễn kịch trên mặt phẳng giấy là
Dostoyevski.
Mỗi lần viết xong một trường đoạn của "Anh em nhà
Karamazov" Dos ngã vật xuống giường, đôi khi co giật động
kinh, đôi khi phờ người như xác chết, lại đôi khi mắt sáng
rỡ, hân hoan như vừa được thánh Pier rước lên thiên
đường…Đôi khi như bị qủy ám, ông làm dấu đọc kinh rất
lâu, rồi suy niệm nhờ Chúa dẫn đát ông hoàn tất con đường
thương khó của các nhân vật trong cuốn tiểu thuyết cuối
cùng. Hình như Chúa bảo ông: hôm nay ngươi nên tha tôi tớ gái
của ta là Anna để nó cho con bú, để nó dọn dẹp căn nhà như
đống rác của nguơi, để nó nấu món bò hầm Nga la tư cho
ngươi khỏi chết đói, mà đi hết con đường vác đỡ thánh
giá cho ta. Thế là Dos lại ngồi một mình, cắm mặt xuống
trang giấy, thả cho ngòi bút phi nước đại, tứa ra một thứ
máu xanh gọi là chữ, trước bình mực tổ bố như pháo đài
từng cầm tù ông thu nhỏ, để những sợi râu dài Chính thống
giáo quét lên trang giấy, như bọn râu dê này muốn trói nghiến
lấy từng chữ ông vừa viết, quyết không cho chúng bỏ chạy
như người Nga bỏ chạy khi quân Thổ xông đến…
Sau huyền thoại Cain giết em trai mình trong kinh Cựu ước mà
dân gian có thành ngữ "Anh em nhà Cain", đến lượt mình,
Dostoyevski đã cống hiến cho nhân loại một huyền thoại khác:
"Anh em nhà Karamzov", nâng cao hơn tội ác mà Cain con ông Adam &
Eva đã giết em trai ruột mình, bằng tội ác con giết cha.
Chính là đứa con rơi Smerdiakov đã ra tay giết cha ruột của
mình, theo cái triết lý của người anh trí thức, nhà tư
tưởng Ivan Karamazov: Chúa đi vắng rồi, Chúa trốn khỏi trần
gian rồi, không có Chúa mày mới có tự do tuyệt đối, mày
muốn làm gì thì làm, giết người ư, vô tư, cứ giết đi,
nếu mày thích. Mấy anh em nhà Karamazov, trừ vị con của Chúa
đi lạc vào gia đình Karamazov là Aliosa Karamazov, tất cả đều
gốc có đạo, đều chịu phép rửa tội ở nhà thờ; nhưng
tất cả, cả Fiodor cha và ba người con kia, đều muốn tìm một
góc khuất vô thần của thế giới để cư trú, để che mắt
Chúa và để tự do tuyệt đối muốn hãm hiếp, muốn giết
người xin tùy thích.
Fiodor Karamazov cha, do cơn dục vọng của qủy sứ mà sinh ra, sợ
Chúa hơn sợ cọp, nhưng liên tục tìm những căn hầm trú ẩn
đào sâu như hang chuột, như huyệt mộ trong tâm hồn tội lỗi
của mình để trú ngụ, hòng thoát khỏi sự canh chừng của
Chúa để dâm ô trụy lạc thỏa thích, để hãm hiếp cả một
cô gái tật nguyền mà sinh ra quái thai nửa người nửa ngợm
Smerdiakov. Và quỷ vương đã đến làm mối cho hai cha con Fiodor
và Dmitri chơi chung một con qủy cái đánh son môi với bộ ngực
to ngang núi Sọ, vừa liếc mắt đưa tình vừa phun mật ngọt
dâm dục lên nhà Karamazov như rồng phun mưa. Sự loạn luân
thống trị gia đình Karamzov, như từng thống trị thành Sodome
bị Chúa hủy diệt vì loạn luân, vì tội lỗi ngút trời xưa
trong Kinh Thánh.
Triết gia vô thần, nhà tư tưởng Ivan Karamazov đã nổi loạn
chống lại trật tự an bài của Chúa đã cung cấp cho Smerdiacov
vũ khí để biện minh, châm mồi lửa anh hùng rơm khao khát sự
trả thù, tiêm chất ma túy tham lam để hắn giết chết cha mình
mà cướp của. Sau cái chết của người cha Feodor dâm ô trụy
lạc, tham lam bủn xỉn, nghiệp ngập bê tha, kẻ nô lệ của
dục vọng thấp hèn, kẻ trốn Chúa để hành lạc với tình
nhân của con trai Dmitri Karamazov, khiến Dmitri bị đi tù oan…
Hình như sau cái chết của người cha, Dostoyevski đã cho cái ác
tận cùng trong gia đình này cơ hội tỉnh ngộ là chút lương
tâm còn sót lại lên tiếng sám hối. Dmitri biết mình bị bắt
vì oan, bị vu cho tội giết cha mà y vẫn cúi đầu nhận thay cho
các em mình. Đầy là dấu hiệu của cái ác thức tỉnh. Dos đã
thay mặt Chúa Ki-tô mà cứu gia đình Karamazov bằng cách cho tên
giết cha Smerdiacov hối hận quá mức, dày vò quá mức mà thắt
cổ chết theo đường của Juda bán Chúa. Cả Ivan, cả Dmitri,
cả Aliosa con út dù là thiên thần đức hạnh bay nhảy trong khu
vườn đầy rắn rết nhà Kamarazov, cũng đều bị dày vò, đều
hối hận vì tất cả cùng là can phạm giết cha.
Và lạ thay, người đọc kiệt tác này dường như cũng biến
thành một nhân vật của cuốn sách, cũng hối hận vì cảm
thấy mình đã góp phần gián tiếp gây ra vụ giết cha của anh
em nhà Karamazov. Nhân loại sau Dos tuồng như dân tộc nào, nước
nào, chế độ nào cũng là xã hội của những gia đình anh em
nhà Karamazov. Thông điệp của Cái đẹp sẽ cứu thế giới ở
chỗ nơi tột cùng của cái ác, nơi đáy hỏa ngục của nhà
Karamazov, Dos đã để ngỏ một tia hi vọng là sự sám hối giúp
con người có cơ quay lại với chân thiện mỹ, với đức tin
vào tự do công bằng bác ác mà Ki-tô đã dùng dùng máu của
mình để ký khế ước mới với nhân loại (Tân Ước).
Buồn thay cho những anh em nhà Karamazov của dân tộc Việt Nam ta
hôm nay, nơi cái ác, cái xấu, cái dối trá đang thống trị mà
kẻ cai trị hình như không còn khả năng sám hối, không còn
khả năng xấu hổ, không còn khả năng hướng thiện trong hội
chứng nói dối muôn năm, muôn năm nói dối. Dostoyevski, đức
thánh nhân của chủ nghĩa hiện thực nhân đạo ơi, Ngài hãy
giúp nền văn học của chúng tôi, nền chính trị của nước
chúng tôi một que diêm hi vọng mang tên khả năng sám hối nơi
bóng đêm trường cửu đang bao phủ trái tim kẻ vô thần, từng
ra tay đập phá đình chùa, nhà thờ, miếu mạo …còn có cơ
hội tỉnh ngộ.
Nhân mùa giáng sinh, đọc lại kiệt tác "Anh em nhà Karamazov"
của ngòi bút thiên sứ Dostoyevski, người mà chính ra phải
được giáo hội Chính Thống giáo Nga phong thánh, nghe đâu đây
lời thiên thần hát mừng Chúa ra đời bằng tiếng nói thầm
vang vang trong gió: hỡi con người, hãy nhận lấy tự do và mặc
vào mình như áo giáp của cái đẹp mà mang công bằng bác ái
đến cho anh em các người. Hỡi người, người lấy quyền gì
để đàn áp anh em ngươi, để tước quyền tự do dân chủ
của dân chúng đất nước người, để bắt người yêu nước
vào tù, để cướp đất nhà Chúa…? Hỡi tự do, hãy thổi lên
cơn gió của Chúa Trời để giải thoát anh em ta khỏi mọi sự
áp bức, thoát khỏi mọi nhà tù trá hình đang núp trong những
xảo ngôn mật ngọt rắn rết.
Ơn Chúa, gấp kiệt tác của thiên tài Dostoyevski, người từng
bị cấm nhắc đến, bị đốt sách suốt 74 năm trên đất
nước của Ngài, vang vang đâu đây lời văn hào Nga từng
được giải Nobel Alexander Solzhenitsyn đọc trong buổi nhận
giải thưởng Templeton vì những đóng góp của ông cho sự thăng
tiến tôn giáo trên toàn thế giới năm 1983, rằng: <em>"Chính
con người quên lãng Thượng Đế nên đại thảm kịch nước
Nga đã xảy ra"</em> .
Sài Gòn ngày 17-12-2011
T.M.H.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10945), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét