gắn liền với sự kiện đất nước bị chia cắt, hình thành
các thể chế chính trị và các lực lượng xã hội khác nhau.
Theo đó, một cách đương nhiên, dòng chảy của đời sống báo
chí Việt Nam đã có một bước ngoặt quan trọng và rõ rệt
hơn các giai đoạn trước đó: nó có sự phân nhánh thích ứng
với một bối cảnh chính trị xã hội như vậy.
Nhìn đại thể, sẽ có hai khu vực báo chí của thời kỳ này:
<em><strong>Báo chí miền Bắc</strong></em> và <em><strong>Báo chí
miền Nam</strong></em>. Tuy nhiên, sự phân chia mang tính lịch sử
độc đáo và phức tạp lại thể hiện rõ nhất ở báo chí
miền Nam. Báo chí khu vực này tiếp tục phân nhánh thành hai khu
vực nhỏ hơn: Báo chí cách mạng miền Nam và Báo chí Sài Gòn.
Chưa hết, Báo chí Sài Gòn mới chỉ là một khái niệm chung
quen được sử dụng, trên thực tế nó được hiểu bao gồm
hai dòng báo chí cùng song song tồn tại trong các đô thị và
các vùng bị chiếm đóng ở miền Nam: Báo chí yêu nước, tiến
bộ và Báo chí của chính quyền. <span
class="underlined-text">Điều đáng lưu ý là các lực lượng báo
chí kể trên đều có tư cách pháp nhân để hoạt động công
khai, riêng báo chí tiến bộ ở Sài Gòn chỉ mang danh nghĩa là
của các lực lượng yêu nước, dân chủ, dân tộc với phương
thức hoạt động hết sức linh hoạt, uyển chuyển.</span>
<center><img src="http://danluan.org/files/u1/sub02/346b066861bfe4.jpg"
width="417" height="279" alt="346b066861bfe4.jpg" /></center>
Nhắc đến tư cách pháp nhân của các khu vực báo chí thời
kỳ này là để nói đến những mối quan hệ tương tác hoặc
đối đầu giữa chúng. Sẽ dễ dàng nhận thấy sự gắn bó
giữa báo chí miền Bắc XHCN và báo chí miền Nam (với tư cách
là tiếng nói của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam)-
một sự gắn bó sẻ chia trên mọi phương diện, chưa từng có
trong tiến trình lịch sử báo chí nước nhà, được manh nha
từ giai đoạn kháng chiến chống Pháp trước đó. Hai mảng báo
chí này khác nhau về tên gọi, về những nhiệm vụ cụ thể
trước mắt nhưng thống nhất về bản chất và mục đích. Báo
chí yêu nước tiến bộ, về cơ bản vẫn có sự chỉ đạo
của cách mạng thông qua bộ phận trí vận trong các đô thị
miền Nam, đặc biệt là ở Sài Gòn. Như vậy, nhìn một cách
chung nhất chỉ còn sự phân chiến tuyến giữa báo chí Cách
mạng và XHCN với báo chí chính quyền (ngụy) Sài Gòn. Đây là
cuộc đối đầu vô cùng quyết liệt mang đậm dấu ấn lịch
sử suốt 20 năm đất nước bị chia cắt, nó tác động dữ
dội đến toàn bộ đời sống báo chí Việt Nam giai đoạn này,
chi phối từ thái độ lựa chọn của các nhà báo đến những
phương cách hoạt động nghề nghiệp của họ… Hơn thế nữa,
những hoạt động báo chí ở Việt Nam lúc này còn có những
tác động rất đáng kể tới giới truyền thông quốc tế, thu
hút được sự chú ý của họ. Mức độ quyết liệt của
cuộc đối đầu lần này diễn ra chưa từng có. Nếu chúng ta
đã làm tất cả những gì có thể làm được trên mặt trận
báo chí - tư tưởng để góp phần vào sức mạnh tổng lực
của toàn dân tộc trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, thì
phía bên kia, chính quyền Sài Gòn với sự trợ giúp đắc lực
của Mỹ cũng không một ngày buông lơi thứ vũ khí này. Chẳng
hạn, Nha báo chí của họ luôn trực thuộc Phủ Tổng thống và
vào thời điểm ác liệt nhất của cuộc chiến tranh, họ đã
đổi tên Bộ thông tin thành Bộ chiến tranh tâm lý, công khai
đưa bộ máy truyền thông vào tham chiến. Chính CIA cũng đã
từng thú nhận, họ đã tạo ra các chiến dịch thông tin
"đen" ra sao để chống phá cách mạng Việt Nam…
Tất cả những ai quan tâm đến đời sống báo chí Việt Nam
thời kỳ 1954-1975 đều nhận thấy sự phức tạp của nó; với
các nhà nghiên cứu thì trước mắt họ còn là một sự ngổn
ngang, bề bộn về tư liệu, nhân chứng và cả những cách nhìn
nhận, đánh giá. Báo chí miền Bắc XHCN và báo chí cách mạng
miền Nam về cơ bản đã có sự đánh giá thống nhất, bởi
trước hết bản thân nó không quá phức tạp (ngoại trừ một
vài "sự cố" như báo chí của nhóm Nhân văn - Giai phẩm ở
miền Bắc những năm 1956-1958, hoặc một vài nhà báo chiêu hồi
ở chiến trường miền Nam như trường hợp Xuân Vũ…). Cách
đánh giá về báo chí chính quyền (ngụy) Sài Gòn cũng dễ đi
đến thống nhất, bởi bản chất của nó là đối lập với
báo chí Cách mạng và XHCN, nó là báo chí của "phía bên kia"
chiến tuyến. Tuy nhiên, để hiểu sâu sắc và toàn diện về
nhóm báo chí này thì lại không dễ, nó còn phụ thuộc vào tư
liệu và cách phân loại tư liệu, phụ thuộc vào sự hiểu
biết về tất cả những gì diễn ra sau những tờ báo đó,
được vận hành bởi một guồng máy có bàn tay của các chuyên
gia truyền thông và chuyên gia tâm lý chiến đến từ nước Mỹ
và một số quốc gia khác. Cách đánh giá về nhóm báo chí yêu
nước tiến bộ lại có những khó khăn khác. Bên cạnh một
số nhà báo cách mạng được "đánh" vào làm nòng cốt ở
Sài Gòn, lực lượng nhà báo của nhóm báo chí này còn được
hình thành từ nhiều nguồn do được vận động hoặc chỉ là
tự phát. Họ đa dạng về thành phần, quan điểm, chủ yếu
gặp nhau ở tinh thần dân tộc và ghét ngoại bang. Những tờ
báo do họ chủ trương hoặc góp mặt, vì thế, hơn hết cần
được nhìn nhận một cách điềm tĩnh, khoa học, khách quan và
cả sự thân thiện. Còn một khó khăn nữa ở đây là vấn
đề tư liệu. Những tờ báo như thế phần lớn đã thất
lạc. Rất nhiều tờ báo được quay ronéo của phong trào học
sinh - sinh viên, phật tử… đã biến mất, chỉ còn sống trong
ký ức của những người trong cuộc.
Xuyên suốt một quãng thời gian hai thập niên với hàng trăm
sự kiện báo chí đáng lưu ý, hàng ngàn tờ báo và cơ quan
truyền thông (đài phát thanh, truyền hình, trung tâm tin tức,
phim tư liệu chiến tranh…) cùng với sự tham gia của đông
đảo nhà báo hoạt động trong các dòng báo chí kể trên -
đời sống báo chí Việt Nam thời kỳ 1954-1975 quả thật đã
chứa đựng trong lòng nó bóng dáng của một giai đoạn lịch
sử dân tộc đặc biệt, chứa đựng những bài học kinh
nghiệm nhiều khi được đổi bằng xương máu cho công việc
làm báo và quản lý báo chí, những bài học vẫn chưa hết ý
nghĩa trong tiến trình phát triển của nền báo chí nước ta.
Việc phác họa một sơ đồ báo chí giai đoạn này là rất quan
trọng, đặc biệt đối với các sinh viên báo chí đang học
môn lịch sử báo chí Việt Nam, nó sẽ giúp họ tránh được
cảm giác bị ngợp khi tiếp cận với một thực tiễn báo chí
phức tạp, và có ngay một cái nhìn toàn cảnh để định
hướng nghiên cứu, tìm hiểu.
Dưới đây là phác thảo diện mạo báo chí Việt Nam 1954-1975,
ở những nét sơ bộ. Những đường liền là sự phân nhánh
các khu vực báo chí. Những đường đứt đoạn biểu thị mối
quan hệ tương tác giữa một số khu vực.
<center><img src="http://danluan.org/files/u1/sub02/346b0671ccafc7.jpg"
width="600" height="343" alt="346b0671ccafc7.jpg" /></center>
<h2>Chú giải 1: Về báo chí miền Bắc</h2>
Đội ngũ nhà báo được hình thành từ hai nguồn: những nhà
báo đã trải qua kháng chiến chống Pháp và những nhà báo thế
hệ mới. Có cơ sở đào tạo báo chí chuyên nghiệp. Từ những
năm 1960, đội ngũ này và các phương tiện làm báo còn được
chi viện cho báo chí cách mạng miền Nam. Hội nhà báo được
tổ chức lại, chính quy hơn và tiếp tục giữ vai trò một
thành viên của OIJ. Báo chí phát triển mạnh: các tờ báo từ
chiến khu đưa về xuất bản tại Hà Nội và vẫn giữ vai trò
chủ đạo, một số tờ báo tư nhân được cải tạo vào năm
1960, xuất hiện nhiều tờ báo mới đáp ứng nhu cầu của
đời sống và dân trí (khoảng 50 tờ báo và bản tin địa
phương; 50 tờ báo, tập san của các ngành; 24 tờ báo của các
tổ chức xã hội…- những con số này ngày càng tăng về sau).
Các cơ quan truyền thông khác đã có sẵn được phát triển
theo quy mô lớn và hiện đại hơn (đài TNVN và hệ thống đài
địa phương, khu vực. VNTTX và các phân xã ở khắp nước và
nước ngoài. Năm 1970, đài THVN ra đời). Quan hệ quốc tế
được mở rộng: có báo chí đối ngoại, các nhà báo và các
hãng thông tấn lớn trên thế giới có mặt tại Hà Nội… Báo
chí chuyển từ thời bình sang thời chiến từ 1964 và những
bài học kinh nghiệm của một nền báo chí chiến đấu và xây
dựng.
<h2>Chú giải 2: Về báo chí cách mạng miền Nam</h2>
Đội ngũ nhà báo được hình thành từ nhiều nguồn: các nhà
báo đã trải quan kháng chiến chống Pháp, các nhà báo được
đào tạo tại chỗ, lực lượng nhà báo được chi viện từ
miền Bắc và một số nhà báo từ các đô thị đi theo cách
mạng. Hoàn cảnh tác nghiệp của họ gian khổ như mọi nhà báo
chiến tranh. Báo chí nhanh chóng có mặt: từ những năm đầu
1960 đã có khoảng 40 tờ báo và tạp chí cấp miền của MTDTGP,
khoảng 40 bản tin của các địa phương in bằng bốn thứ
tiếng Pháp, Anh, Trung Quốc và Khơme. Xuất hiện các cơ quan
thông tin mới: Thông tấn xã giải phóng (L.P.A) ra đời 1961;
Đài phát thanh Giải phóng 1962 (một đài nữa đặt trên đất
bắc), ngoài ra còn có vai trò của Hãng phim Giải phóng. Báo chí
cách mạng miền Nam lúc này được xây dựng theo mô hình báo
chí miền Bắc (Nhân dân - Cờ Giải phóng, Quân đội nhân dân -
Quân giải phóng, Phụ nữ Việt Nam - Phụ nữ giải phóng…).
Thiết lập được mối quan hệ với báo chí quốc tế: tháng 1-
1962 Hội nhà báo yêu nước và dân chủ miền Nam ra đời, trở
thành thành viên của OIJ. Các nhà báo nước ngoài đã có mặt
tại căn cứ cách mạng; sự giúp đỡ phương tiện báo chí
của bạn bè XHCN… Một nền báo chí hình thành và phát triển
trong khói lửa chiến tranh; tư cách chiến sĩ của những người
làm báo; sự gắn bó khăng khít và độc đáo của nó với báo
chí miền Bắc- đó là những điểm nổi bật của báo chí cách
mạng miền Nam giai đoạn này.
<h2>Chú giải 3: Về báo chí yêu nước, tiến bộ trong lòng các
đô thị</h2>
Đội ngũ nhà báo đa dạng: một số "nằm vùng" từ thời
chống Pháp, một số được đưa vào Sài Gòn theo dạng hồi cư
(do cách mạng chỉ đạo), một số hình thành từ các phong trào
học sinh - sinh viên yêu nước, một số vốn có cảm tình với
cách mạng và kháng chiến… Cũng có trường hợp đi thẳng từ
Hà Nội (Nguyễn Văn Bổng và tờ Tin Văn, 1967). Nhiều tờ báo
mới được xuất bản nhưng chủ yếu là tranh thủ sử dụng
những tờ đã có sẵn. Phương thức hoạt động của nhà báo
cực kỳ linh hoạt, thích hợp với từng thời kỳ (kết hợp
văn - báo; mượn các danh nghĩa để hoạt động: các phong trào,
các tổ chức…). Nội dung báo chí luôn bám sát tình hình chính
trị và thời cuộc diễn ra sôi động trong lòng các đô thị,
gây thanh thế có lợi cho phong trào cách mạng. Khôn khéo tranh
thủ uy tín của các hãng thông tấn và cácc nhà báo nước
ngoài có mặt ở Sài Gòn trong việc đưa tin ra thế giới. Thành
công đáng ghi nhận là suốt 20 năm trong vùng chiếm đóng, luôn
luôn có một phong trào báo chí chống đối chế độ Mỹ ngụy
với một lối làm báo sắc sảo và hoàn toàn thích hợp với
hoàn cảnh sống của những người làm báo.
<h2>Chú giải 4: Về báo chí của chính quyền Sài Gòn</h2>
Lực lượng nhà báo nòng cốt lúc đầu là các nhà báo đã
từng làm việc cho chính quyền ngụy thời Pháp và một số cây
bút di cư từ miền Bắc. Về sau lực lượng này được bổ
sung các thế hệ nhà báo trẻ được đào tạo bài bản về
nghề nghiệp và quan điểm chống cộng, trong nước và từ
nước ngoài. Phương tiện và điều kiện làm báo đạt tới
mức tối ưu: hầu hết những phương tiện làm báo hiện đại
nhất lúc bấy giờ đều có mặt khá sớm ở Sài Gòn (chẳng
hạn, từ 1967 họ đã được trang bị máy in ốpsét nhiều màu,
trong khi báo chí miền bắc 7 năm sau mới có điều kiện thử
nghiệm phương tiện này). Người Mỹ, thông qua chính quyền Sài
Gòn, đã không tiếc tiền để tung ra hàng loạt tờ báo chống
cộng và lôi kéo các nhà báo, cải tổ hoặc cho ra đời những
cơ quan truyền thông mới: Việt tấn xã, Đài phát thanh Sài Gòn
và các đài tâm lý chiến, Truyền hình (1966)… Có cả một
chính sách với những hoạch định cụ thể nhằm đưa báo chí
vào guồng máy chiến tranh để chống phá cách mạng và đàn
áp, kiểm soát các khuynh hướng báo chí tiến bộ, yêu nước.
Báo chí là một bộ phận không tách rời của chiến tranh tâm
lý (các tờ báo và đài phát thanh ngụy dân tộc, các chiến
dịch "thông tin đen" do CIA khởi xướng, báo chí trở thành
tài liệu tuyên truyền cho các đoàn cán bộ bình định.v.v...).
<span class="underlined-text">Các hãng thông tấn và các nhà báo
nước ngoài thường xuyên có mặt tại Sài Gòn và trên các
mặt trận, tuy nhiên nhiều người trong số họ vẫn giữ
được thái độ trung thực và khách quan khi phản ánh bộ mặt
chiến tranh tàn bạo của Mỹ tại miền Nam Việt Nam (bộ ảnh
chiến tranh của phóng viên I. Bundô người Nhật là một ví
dụ)…</span> Tóm lại, đây là một dòng báo chí chống cộng
vừa quyết liệt vừa tinh vi theo phương thức chủ nghĩa thực
dân mới.
Trên đây mới chỉ là những nét phác thảo hết sức sơ lược
về bức tranh toàn cảnh báo chí Việt Nam giai đoạn 1954-1975.
Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có một công trình nghiên cứu
toàn diện nào về báo chí giai đoạn này. Một công trình
nghiên cứu quy mô như thế là hết sức cần thiết vì nó không
chỉ tái hiện diện mạo một chặng đường trong quá trình
lịch sử báo chí dân tộc, mà còn có thể rút ra từ đó
những bài học mang ý nghĩa nghề nghiệp quý giá đối với các
thế hệ nhà báo hôm nay và mai sau. Công trình ấy cần có sự
đóng góp trí tuệ của nhiều nhà nghiên cứu và các nhà báo
tâm huyết, là một việc làm không thể chậm trễ hơn nữa khi
mà cuộc chiến tranh khốc liệt nhất trong lịch sử dân tộc
đã lùi xa ba thập niên.
Nguồn: http://www.vanhoanghethuat.org.vn/2007.06/tranhoabinh.htm
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10842), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét