Nguyễn Minh Tuấn - Hiến pháp 1946: Thể hiện cơ chế phân công và kiểm soát quyền lực

Ngày 12/12/2011, Tạp chí Tia sáng có đăng tải bài viết: "<a
href="http://danluan.org/node/10879">Học từ Hiến pháp 1946: Cần
nhìn nhận cả ưu điểm và hạn chế</a>" của tác giả Nguyễn
Thị Hường. Trong bài viết này, tác giả cho rằng "<em>hạn
chế của Hiến pháp 1946: tập quyền chứ không phải phân
quyền</em>" và đưa ra những căn cứ mà theo tôi không thuyết
phục.

1. Khi đọc bài viết, tôi không rõ tác giả bài viết hiểu
"phân quyền" và "tập quyền" là theo nghĩa nào.

Montesquieu cha đẻ học thuyết phân quyền trong tác phẩm "Tinh
thần pháp luật" hoàn toàn không dùng khái niệm "phân chia
quyền lực tuyệt đối" (Séperation des pouvois), mà là "phân
công quyền lực" (Distribution des pouvois)[1]. Ông cho rằng bản
chất khi có quyền lực là dễ dẫn tới tình trạng lạm
quyền, vì vậy cần phải phân công, kiểm soát và giới hạn
quyền lực để tránh lạm quyền và bảo vệ dân quyền[2].
Thực tế ngày nay ngay cả ở Mỹ, một nước theo chủ thuyết
"phân quyền cứng rắn" cũng không tồn tại một sự "phân
quyền tuyệt đối" giữa lập pháp và hành pháp, điều này
một phần do quan hệ ràng buộc của hai viện và Chính phủ
trong hoạt động lập pháp, một phần do tính chất quan hệ
giữa các đảng phái không tĩnh mà luôn động[3]. Đưa ra những
căn cứ lịch sử và thực tế như vậy để thấy rằng không
có sự phân quyền tuyệt đối, mà chỉ tồn tại sự phân công
tương đối, tồn tại song hành với việc kiểm soát và cân
bằng quyền lực.

Dùng khái niệm "tập quyền" để nói về Hiến pháp 1946 cũng
không có cơ sở pháp lý cũng như cơ sở thực tế lịch sử.
Cái gọi là "tập quyền", hay thậm chí nguyên tắc "tập
trung dân chủ" nếu có chỉ xuất hiện trong các Hiến pháp sau
này (cụ thể Điều 4 Hiến pháp 1959, Điều 6 Hiến pháp 1980,
Điều 6 Hiến pháp 1992), tuyệt nhiên không có qui định nào
trong Hiến pháp 1946 dùng đến khái niệm "tập quyền" hay
"tập trung dân chủ".


Điểm khác biệt và là nét độc đáo của Hiến pháp 1946 so
với các bản Hiến pháp sau này là bản Hiến pháp này không
theo bất kỳ một nguyên mẫu Hiến pháp nào có sẵn trong lịch
sử. Sau khi cách mạng Tháng mười Nga năm 1917 thành công, có
một bản Hiến pháp rất nổi tiếng và có hiệu lực ở Liên
xô thời điểm đó là Hiến pháp năm 1936, nhưng chủ tịch Hồ
Chí Minh - một người chịu ảnh hưởng sâu sắc của chủ
nghĩa Mác - Lênin cũng không lấy bản Hiến pháp này là khuôn
mẫu khi xây dựng Hiến pháp 1946.


2. Tác giả bài viết lấy qui định "<em>Nghị viện chỉ có
một viện. Nghị viện bầu ra Chủ tịch nước" (Điều 45),
Chủ tịch nước chọn Thủ tướng với sự chuẩn thuận của
Nghị viện (Điều 47) [...]</em>" rồi từ đó kết luận rằng:
"<em>Hiến pháp 1946 là tập quyền chứ không phải phân
quyền</em>" là thiếu cơ sở.


Nếu cho rằng Nghị viện bầu ra Chủ tịch nước (theo Hiến
pháp 1946 là người đứng đầu Chính phủ) và từ đó kết
luận oan uổng nhà nước đó là "tập quyền" là hoàn toàn
không đúng. Chẳng hạn, Hiến pháp nhiều nước hiện nay, đơn
cử như ở Đức, theo chính thể cộng hòa đại nghị, Luật cơ
bản qui định người đứng đầu Chính phủ là do Hạ viện
bầu (Điều 63 Khoản 1 Luật cơ bản) hay ở Anh theo chính thể
quân chủ lập hiến, Thủ tướng Anh theo truyền thống là do
Hạ viện bầu, Nữ Hoàng bổ nhiệm. Tuy nhiên không ai nói là
nhà nước Đức hay nhà nước Anh hiện nay là theo cơ chế
"tập quyền" cả.


Thực tế, Hiến pháp 1946 đã có những yếu tố nhất định
thể hiện cơ chế phân công quyền lực, kiểm soát và cân
bằng quyền lực (checks and balances):

<strong>Thứ nhất</strong>, <em>cho rằng Hiến pháp 1946 không có
sự "phân công quyền lực" là không đúng.</em>


Nghị viện nhân dân có quyền đặt ra pháp luật – quyền lập
pháp (Điều 23). Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của
toàn quốc – quyền hành pháp (Điều 43). Cơ quan tư pháp của
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà gồm có: a) Toà án tối cao;
b) Các toà án phúc thẩm; c) Các toà án đệ nhị cấp và sơ
cấp – quyền tư pháp (Điều 63).

<strong>Thứ hai</strong>, <em>cho rằng Hiến pháp 1946 không có sự
"cân bằng quyền lực" là không đúng.</em>


Mặc dù <em>Nghị viện bầu ra Chủ tịch nước</em> (Điều 45
Câu 1), nhưng <em>Chủ tịch nước không phải chịu một trách
nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc</em> (Điều 50). Mặc
dù, <em>các thẩm phán đều do Chính phủ bổ nhiệm</em> (Điều
64), <em>nhưng trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo
pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp</em> (Điều
69). Những qui định này đã phần nào biểu hiện sự "cân
bằng quyền lực" cần thiết giữa các thiết chế Nghị viện
nhân dân, Chính phủ và Tòa án.


Chính phủ lúc đó được xác định là <em>cơ quan hành chính
cao nhất</em> của toàn quốc (Điều 43). Điều này cho thấy
không có một cơ quan nào cao hơn Chính phủ trong việc thực thi
quyền hành chính. Theo Hiến pháp 1946, Chủ tịch nước không
chỉ là nguyên thủ quốc gia, người thay mặt cho nhà nước
(Điều 49 mục a), mà còn là người đứng đầu Chính phủ
(Điều 44). Việc Chủ tịch nước không phải chịu trách nhiệm
nào trừ tội phản quốc thể hiện rõ tính độc lập của
Chủ tịch nước, một tiêu chí để tạo nên sự "cân bằng
quyền lực".


Chính Phủ có thể bổ nhiệm thẩm phán, nhưng khi xét xử thẩm
phán chỉ tuân theo luật, không chịu sự can thiệp của bất
cứ cơ quan nào, kể cả cơ quan đã bổ nhiệm (Điều 69). Khi
xét xử thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật là đảm bảo cốt
lõi nhất thể hiện tính độc lập của thẩm phán, cũng như
sự độc lập của tòa án với các thiết chế khác.

<strong>Thứ ba</strong>, <em>cho rằng Hiến pháp 1946 không có sự
"kiểm soát quyền lực" là không đúng. </em>


Sự kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước thể
hiện rất rõ ở các qui định cụ thể sau:

– <span class="underlined-text">Chủ tịch nước có quyền phủ
quyết tương đối với các đạo luật của Nghị viện nhân
dân:</span> Những luật đã được Nghị viện biểu quyết,
Chủ tịch nước phải ban bố chậm nhất là 10 hôm sau khi nhận
được thông tri. Nhưng trong hạn ấy, Chủ tịch có quyền yêu
cầu Nghị viện thảo luận lại. Những luật đem ra thảo luận
lại, nếu vẫn được Nghị viện ưng chuẩn thì bắt buộc
Chủ tịch phải ban bố (Điều 31).

– <span class="underlined-text">Nội các có thể bị bất tín
nhiệm:</span> Trong hạn 24 giờ sau khi Nghị viện biểu quyết
không tín nhiệm Nội các thì Chủ tịch nước Việt Nam có
quyền đưa vấn đề tín nhiệm ra Nghị viện thảo luận lại.
Cuộc thảo luận lần thứ hai phải cách cuộc thảo luận lần
thứ nhất là 48 giờ. Sau cuộc biểu quyết này, Nội các mất
tín nhiệm phải từ chức (Điều 54 Câu 4).

– <span class="underlined-text">Nghị viện nhân dân có thể bị
giải tán:</span> Khi nào hai phần ba tổng số nghị viên đồng
ý, Nghị viện có thể tự giải tán. Ban thường vụ thay mặt
Nghị viện tuyên bố sự tự giải tán ấy (Điều 33). Khi Nghị
viện hết hạn hoặc tự giải tán, Nội các giữ chức quyền
cho đến khi họp Nghị viện mới (Điều 56).

– <span class="underlined-text">Nghị viện nhân dân có quyền biểu
quyết ngân sách:</span> Điều 23 đã qui định rất rõ thẩm
quyền này của Nghị viện nhân dân. Thẩm quyền này thể hiện
sự tác động trực tiếp của Nghị viện nhân dân đến Chính
phủ và Tòa án.

– <span class="underlined-text">Chính phủ có quyền tác động
trực tiếp đến hoạt động lập pháp của Nghị viện nhân
dân, cũng như hiệu quả thực tế của hoạt động này:</span>
Điều này thể hiện ở qui định Chính phủ có quyền đề
nghị những dự án luật ra trước Nghị viện (Điều 52 mục
b), đồng thời có quyền thi hành các đạo luật và quyết
nghị của Nghị viện (Điều 52 mục a).

– <span class="underlined-text">Vấn đề trách nhiệm cá nhân của
Bộ trưởng được qui định rất rõ trong Hiến pháp:</span>
Hiến pháp 1946 đặt ra vấn đề Bộ trưởng phải được Nghị
viện tín nhiệm, nếu không đuợc tín nhiệm thì phải từ
chức (Điều 54 Câu 1). Chưa hết, Thủ tướng phải chịu trách
nhiệm về con đường chính trị của Nội Các ((Điều 54 Câu
3). Tập thể Nội các không phải liên đới chịu trách nhiệm
về hành vi của Bộ trưởng, điều đó muốn nhấn mạnh vấn
đề cá nhân Bộ trưởng phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về
ngành, lĩnh vực mà mình phụ trách.

Với những cơ sở lập luận trên, sẽ rất khó hiểu nếu cho
rằng Hiến pháp 1946 là "tập quyền" chứ không phải "phân
quyền", thậm chí coi đây là một điểm hạn chế.

Lẽ dĩ nhiên, không có bản hiến pháp nào là tuyệt đối hoàn
thiện, Hiến pháp 1946 cũng không phải ngoại lệ. Khi đặt trong
hoàn cảnh chiến tranh và chính trị rất phức tạp lúc đó,
chắc chắn là rất khác so với thời điểm hiện nay, thời
buổi hội nhập toàn cầu. Việc chỉ ra những hạn chế của
các bản Hiến pháp, tăng cường trao đổi, lắng nghe các ý
kiến khác nhau, đặc biệt khi sửa đổi Hiến pháp thời gian
tới, theo quan điểm của tác giả là rất cần thiết và rất
đáng hoan nghênh. Tuy nhiên như đã phân tích ở trên, đứng
trên phương diện khoa học, kết luận Hiến pháp 1946 thể hiện
nguyên tắc tập quyền, không phải phân quyền như một hạn
chế của tác giả, theo quan điểm của tôi là chưa thuyết
phục.

[*] NCS Đại học Saarland, Cộng hòa liên bang Đức

<h2>Chú thích:</h2>

[1] Xem bản gốc Tiếng Pháp: Montesquieu (1748), De L'eprit des lois,
V/14, XI/6, XI/7, XI/14, XI/18, XI/20, XII/1.

[2] Montesquieu (1748), De L'eprit des lois, XI/18, XI/20, XII/1.

[3] Một bằng chứng rất rõ là ở Mỹ luôn tồn tại cơ chế
vận động hành lang (lobby) trong hoạt động lập pháp. Xem thêm:
Nguyễn Quốc Văn (2006), Các nhóm lợi ích và vận động hành
lang trong nền chính trị Mỹ, Nghiên cứu Lập pháp, số 1/2006;
Nguyễn Chí Dũng (2006), Vận động hành lang trong hoạt động
lập pháp các nước và xu hướng ở Việt Nam, Nghiên cứu Lập
pháp, số 9/2006.

<strong>Nguồn:</strong> Tạp chí Tia sáng, đăng ngày 14/12/2011, truy
cập <a
href="http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=4720">tại
đây</a>

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10913), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét