Trương Nhân Tuấn - Vài ý kiến nhân đọc bài nhận định "Vai trò của Đài Loan tại Biển Đông" trên RFA.

Bài này nhằm góp ý với các tác giả của bài nhận định <a
href="http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/taiwan-new-factor-east-sea-issue-11042011080019.html
">"Vai trò của Đài Loan tại Biển Đông"</a> đăng trên RFA ngày
4 tháng 11 năm 2011, về một số điều đã viết trong bài mang
tính lịch sử và có tầm chiến lược quan trọng.

Bài viết gồm hai phần: phần lịch sử chủ quyền và phần
nhận định.

<h2>Phần I: Lịch sử chủ quyền.</h2>

<strong>1/ Sơ lược địa lý Quần đảo Trường Sa – Spratleys
– Đảo Ba Bình</strong>

Còn được gọi qua nhiều tên khác nhau: Nansha Gunto, tức Nam a
Quần Ðảo (Trung Hoa), Kalayaan (Phi Luật Tân), Sinnan Gunto, tức
Tân Nam Quần Ðảo (Nhật-Bản)… Trường Sa cũng có một vài
tên gọi ít người biết là South Sandy islands, Freedomland, Kingdom
of Humanity. Những nhà nghiên cứu thềm lục địa gọi vùng nầy
là "The Reed bank Area".

Ðây là một tập hợp nhiều đảo (île), hòn (îlot), đá san hô
(récif), bãi ngầm (haut-fond), dải cát (banc de sable), bãi san hô
(caye)... trải dài từ vĩ tuyến 6° đến 12° vĩ độ Bắc và
từ kinh tuyến 111° đến 118° kinh độ Ðông. Số lượng chính
xác các bãi ngầm, bãi cạn, cồn nổi, cồn chìm, đá lớn, đá
nhỏ, dải cát… tại đây chưa được xác định rõ rệt. Tập
hợp địa chất này tọa lạc trên một vùng biển có diện
tích rất lớn, chiều Bắc Nam dài hơn 500 Km, chiều Ðông Tây
dài hơn 1.000 km, chiếm khoảng 160.000 km2. Khoảng cách giữa các
đảo đôi khi khá lớn. Tâm điểm của quần đảo cách đều
bờ biển hai nước Việt Nam và Phi Luật-Tân: cách Palawan 400 km,
cách Cam Ranh 450 km, cách Sabah 500 km, cách Yu-lin (Hải Nam) 1.100 km,
cách Hồng Kông 1.400 km, cách Tân Gia Ba 1.500 km và cách Cao Trung
(Ðài Loan) 1.700 km. Chỉ khoảng 15 đảo (iles) ở đây là có cây
cỏ và giếng nước ngọt, có thể cho loài người sinh sống.
Hầu hết các đảo nầy rất nhỏ, lớn nhất diện tích không
quá 43 hectares, phần lớn có diện tích vài trăm mét vuông đến
vài ngàn mét vuông, quần tụ theo nhiều nhóm khác nhau. Ðộ cao
trung bình so với mặt biển từ 2 đến 6 mét, đa số không có
cây lớn. Quần đảo nầy, cũng như quần đảo Hoàng Sa, đều
do san hô cấu tạo thành.

Ðảo Ba Bình, tức Itu Aba, có tọa độ 10° 23' Bắc, 114° 22'
Ðông, thuộc nhóm Tizard. Nhóm Tizard, trải dài 30 dặm từ Ðông
sang Tây và 8 dặm từ Bắc xuống Nam. Ðây là một bãi do san hô
(récif) kết tạo nên, gồm có nhiều đảo và cồn cát, có hình
vành, giữa là một đầm (lagon). Phần lớn những đảo chánh
(cao hơn mặt biển) của Trường Sa thì ở trên bãi nầy (như
đảo Ba Bình, đảo Nam Yết, đá Tizard, Cồn Sandy, Ðảo Petley,
Ðảo Eldad, hai đảo Gaven...). Ðảo Ba Bình ở phía tây bắc
của nhóm và là đảo lớn nhất ở Trường Sa. Ðảo có chu vi
2,8 km, diện tích 43,2 hectares và có một viền đá san hô bao
chung quanh. Chiều dài đảo là 1470m, chiều rộng 500m, có độ
cao trung bình 2,8m. Trên đảo có mọc các loại cây dừa, chuối,
đu đủ, cây cọ cao khoảng 7m và nhiều bụi rậm.

Trước kia, thời VN còn thuộc Pháp, trên đảo Ba Bình đã có
một sân bay nhỏ. Từ năm 2006, chính quyền Trần Thủy Biển cho
xây dựng một sân bay khá quan trọng, với mục đích, theo tuyên
bố của bộ trưởng bộ quốc phòng là Michael Tsai: <em>"Phi
đạo mà phía Đài Loan đang tiến hành xây dựng trên đảo Ba
Bình thuộc quần đảo Trường Sa có khả năng phục vụ cho
mục đích quân sự, có ý nghĩa chiến lược, có khả năng
cảnh báo trước bất kỳ sự tấn công nào từ phía Bắc
Kinh"</em>.

<strong>2/</strong> <em>Sơ lược lịch sử pháp lý:</em>

Trong khoảng thời gian Ðệ Nhị Thế Chiến, quân đội Nhật
chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, sát nhập hành chánh
vào Đài Loan. Sau khi Nhật đầu hàng, một khoảng trống pháp
lý thiết lập trên hai quần đảo. Theo luật của kẻ chiến
thắng, ở đây là các nước Đồng minh, tất cả các vùng lãnh
thổ của Nhật chiếm đóng trái phép của các nước khác, dĩ
nhiên liên quan đến các quần đảo HS và TS, sẽ được quyết
định qua các thỏa ước giữa các nước đồng minh. Các kết
ước đó là: Hòa ước San Francisco ngày 8 tháng 9 năm 1951, Hòa
ước Trung Nhật ký tại Đài Bắc ngày 28-4-1952. Tuy vậy, cũng
phải nhắc lại các tuyên bố hay thỏa ước đã ký kết
trước đó như Hội đàm tại Caire (Cairo) 23 đến 26 tháng 11
năm 1943, Mật ước Yalta 11-2-1945, tối hậu thư Potsdam gởi cho
Nhật Bản ngày 26 tháng 7 năm 1945 cũng như các điều kiện mà
Nhật Bản chấp nhận đầu hàng, Thỏa ước Pháp-Trung ký tại
Trùng Khánh ngày 28 tháng 2 năm 1946, v.v… vì các thỏa ước này
có quan hệ đến Hòa Ước San Francisco 1951 hoặc hai quần đáo
HS và TS.

<strong>2.1</strong> <em>Nội dung Hội đàm Caire</em> (Cairo) tháng 11
năm 1943, được công bố ngày 1 tháng 12 năm 1945, gọi là Tuyên
bố Caire (Cairo), giữa đại diện ba nước Hoa Kỳ, Anh và Trung
Hoa là Theodore Roosevelt, Winston L.S. Churchill và Tưởng Giới
Thạch. Hội đàm này xác định quyền lợi của Trung Hoa để
nước này đứng về phía Đồng minh tuyên bố chiến tranh với
Nhật. Các điều kiện để Trung Hoa đứng về phía Đồng minh
được xác định rõ rệt trong Tuyên bố.

Nội dung tóm lược những vùng lãnh thổ mà Nhật phải trả
lại là:

– Tất cả những đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật đã chiếm
từ sau Thế chiến I;

– Trả lại cho Trung Hoa những vùng mà Nhật đã cướp của
Trung Hoa như Mãn Châu, Đài Loan và quần đảo Bành Hồ;

– Tất cả các vùng lãnh thổ mà đế quốc Nhật đã chiếm
bằng vũ lực;

– Nhân dân Hàn Quốc lấy lại chủ quyền đất nước mình
trong một thời gian nhất định.

Tuyên bố cũng nhấn mạnh: <em>"Tam đại cường quốc đồng minh
có mục tiêu chấm dứt sự xâm lược của Nhật Bản mà không
nhằm vào việc bành trướng về lãnh thổ." </em>

Tức điều kiện để Trung Hoa đứng vào phe Đông minh là: Nhật
phải trả lại cho Trung Hoa lãnh thổ Mãn Châu, đảo Đài Loan
và quần đảo Bành Hồ (ở kế cận, phía bắc Đài Loan). Khi
phía TQ đòi hai quần đảo HS và TS cho họ tức là đã có khuynh
hướng "bành trướng lãnh thổ" mà việc này đi ngược với
tuyên bố Caire (Cairo).

<strong>2.2</strong> <em>Tối hậu thư Potsdam</em>: Sau khi Nhật đầu
hàng tháng 8 năm 1945, theo tinh thần của tối hậu thư Potsdam,
Trung Hoa đưa quân vào VN để giải giới quân Nhật, từ vĩ
tuyến 16 trở về bắc. Tuy nhiên, theo một điều khoản đính
kèm thỏa ước Trùng Khánh ký kết với Pháp ngày 28 tháng 2 năm
1946, quân Tưởng rút khỏi VN để cho quân Pháp vào thay thế.
Để đạt được việc này, Pháp phải tuyên bố hủy bỏ
nhiều quyền lợi của họ tại TQ, như các nhượng địa,
quyền sở hữu các hệ thống đường sắt cũng như dành cho
dân Trung Hoa nhiều sự dễ dàng về kinh tế tại đông Dương.
Việc giải giới quân Nhật vùng dưới vĩ tuyến 16 thì thuộc
quyền của Anh. Qua sự thỏa thuận của Anh, Pháp vào lại VN
thay Anh. Qua các việc này Pháp tái khẳng định quyền bảo hộ
của Pháp tại VN. Sẽ nói lại ở phần dưới.

<strong>2.3</strong> <em>Quốc hội lập hiến Trung Hoa Dân Quốc 1947
và đường chữ U</em>: Trong khi đó, tại lục địa, cuộc bầu
cử quốc hội được tổ chức từ ngày 21 đến 23 tháng 11 năm
1947, mỗi đại biểu đại diện cho 500.000 dân, tại 32 tỉnh
huyện trên tổng số 47 (vì các nơi khác đã bị hồng quân Mao
chiếm đóng). Quốc hội nhóm họp đầu tiên ngày 29 tháng 3 năm
1948, ngày kỹ niệm 72 liệt sĩ Hoàng Hoa Cương (Quảng Châu).
Buổi họp diễn ra với nhiều tố cáo (của các đảng khác)
tình trạng gian lận hay không hợp lệ, vì thế tính chính
thống của quốc hội này bị đặt lại. Tuy vậy quốc hội
vẫn không bị giải tán, được thành hình với quyền hạn nghe
giải trình các việc làm của hành pháp, tranh cãi trên các vấn
đề chính trị và đề nghị qua chính phủ kết quả các việc
này. Một số công việc được thông qua, đáng chú ý là việc
"xác nhận quyền bất khả thất hiệu" của Trung Hoa tại quần
đảo Hoàng Sa.

Việc này xảy ra sau khi quân Trung Hoa chiếm đóng đảo Phú Lâm
(l'ile Boisée) thuộc Hoàng Sa ngày 7 tháng 1 năm 1947. Như thế
hành động của quốc hội Trung Hoa là nhằm "hợp pháp hóa"
việc chiếm đóng này.

Hành động chiếm đảo Phú Lâm của chính phủ họ Tưởng đã
vi phạm các thỏa ước mà chính phủ này đã ký kết. Trước
hết là trái với tuyên bố Caire: <em>"không bành trướng lãnh
thổ"</em>. Thứ hai đi ngược với tinh thần của tối hậu thư
Potsdam, cũng như không tôn trọng thỏa ước Trùng Khánh ký kết
với Pháp, nhượng cho Pháp quyền tước vũ khí quân Nhật tại
VN, để đổi lấy quyền lợi kinh tế. Nhưng dầu thế nào,
nếu chiếu theo tinh thần Potsdam thì Trung Hoa chỉ có bổn phận
giải giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở lên, do đó không
liên quan đến quần đảo HS và TS.

(Trước hành động này chính phủ Pháp lên tiếng phản đối,
yêu cầu quân Tưởng rút về nhưng không thành công. Lo ngại
quân họ Tưởng chiếm đóng các đảo khác, Pháp gởi một
đạo quân hỗn hợp Việt Pháp lên đóng tại đảo Hoàng Sa
(Pattle). Việc này chính phủ Tưởng Giới Thạch phản đối
nhưng lại tiếp tục từ chối một trọng tài quốc tế để
giải quyết vấn đề do Pháp đề nghị.)

Khi chính phủ Tưởng Giới Thạch sụp đổ phải rút ra Đài
Loan, quân đội Trung Cộng thay thế tại các đảo trong nhóm An
Vĩnh thuộc Hoàng Sa vào tháng 4 năm 1950. Trong khi đó quân đội
Pháp Việt vẫn còn ở nhóm Nguyệt Thiềm. Ngày 14 tháng 10 cùng
năm thì Pháp chuyển thẩm quyền HS lại cho chính quyền Bảo
Đại.

Điều cần nhấn mạnh ở nơi đây là ý nghĩa của đường
chữ U. Theo các tài liệu của Pháp đã ghi lại ở trên, đến
tháng 11 năm 1947 thì quốc hội Trung Hoa Dân Quốc được thành
lập, tháng 3 năm 1948 thì có việc xác định quần đảo Hoàng
Sa thuộc Trung Hoa nhưng không hề nhắc đến quần đảo Trường
Sa. Do đó, chủ quyền Trường Sa và đường chữ U chín gạch
(như đã thấy hiện nay) chỉ là sản phẩm của các chính phủ
kế tiếp sau này (chứ không phải từ năm 1947 như có nhiều
nguồn tin đã nói).

<strong>2.4</strong> <em>Chủ quyền của VN tại Trường Sa</em>: Về
quần đảo Trường Sa, cũng như quần đảo Hoàng Sa, từ lâu
đã thuộc về Việt Nam, liên tục qua các thời kỳ chúa
Nguyễn, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn… và dân VN đã tổ chức
thành đội ngũ, qua nhiều thế kỷ, thường xuyên khai thác hải
sản cũng như thâu lượm các phế vật hay phẩm vật do các
thuyền bè các nước bị vướng đá chìm ở đó. Chủ quyền
của VN tại hai quần đảo này như thế đã được khẳng
định. Sau khi thuộc Pháp, nước này lại xem TS và vùng đất
vô chủ, từ năm 1930 đã cho thuyền ra thám hiểm, đến ngày 23
tháng 9 năm 1930 ra thông cáo đã thông báo cho các cường quốc
khác về sự chiếm đóng của Pháp trên quần đảo Trường Sa.
Ngày 21 tháng 12 năm 1933, Toàn Quyền M.J.Krautheimer ký nghị
định sát nhập những đảo Trường Sa, An Bang, Itu Aba (tức Ba
Bình), Sóng Tụ, Loại Ta, Thị Tứ vào tỉnh Bà Rịa.

Như vậy sự chiếm hữu của Pháp tại Trường Sa, dầu bằng
phương pháp nào, nhân danh nước bảo hộ thâu nhận Hoàng Sa hay
là khám phá và chiếm hữu đất vô chủ như Trường Sa, thì
những quần đảo này cũng thuộc về VN. Các đảo TS sát nhập
vào Bà Rịa, khi trả lại độc lập cho VN, nếu Pháp trả Bà
Rịa cho VN thì cũng giao TS lại cho VN. Vì đó là tính liên tục
của quốc gia về lãnh thổ.

Cũng dựa trên điểm này, tính liên tục của quốc gia về lãnh
thổ, phía Đài Loan cho rằng TS thuộc chủ quyền của họ. Bởi
vì, khi chiếm TS từ tay Pháp, Nhật đã cho sát nhập hành chánh
vào Đài Loan. Nhưng việc này không ổn, trước khi Nhật chiếm
TS thì nó thuộc VN, qua đại diện là Pháp. Nhật chiếm TS là
chiếm một lãnh thổ đã có chủ. TS không hề thuộc Đài Loan
trước đó. Theo Hòa ước San Francisco 1951 cũng như các thỏa
ước khác trước đó, Nhật phải trả lại các vùng đất mà
họ đã chiếm hữu trước đó, trong đó gồm có HS và TS. Theo
đó không hề nói TS và HS thuộc về Đài Loan.

<strong>2.5</strong> <em>Hòa ước San Francisco 1951</em>: được
thương thảo và ký kết giữa phe bại trận là Nhật Bản với
phe chiến thắng là các nước Đồng minh. Việt Nam là một
thành viên ký kết vào Hòa ước San Francisco.

Vào thời điểm đầu hàng, 14-8-1945, Nhật đã có tuyên chiến
với 46 nước, trong đó không có Việt Nam. Từ thời điểm này
đến ngày mở đầu Hội nghị San Francisco ngày 4 tháng 9 năm
1951 thì hội nghị đón nhận thêm 9 nước khác (tuyên bố
chiến tranh với Nhật). Các nước này đa phần là các nước
đã bị Nhật chiếm đóng lúc chiến tranh, nhưng vì các lý do
như đang ở tình trạng dưới quyền bảo hộ của một nước
khác, không tự chủ về ngoại giao, do đó đã không có phản
ứng đúng lúc. Một trong 9 nước đó là Việt Nam.

Như thế Nhật Bản phải ký hòa ước với tất cả các nước
mà họ đã gây chiến (hay tuyên bố chiến tranh), trong đó có
Việt Nam. Các điều khoản của hòa ước quan trọng vì nó đề
cập đến việc bồi thường chiến tranh mà Nhật đã gây ra cho
các nước liên hệ. Đối với Việt Nam, việc tham dự hội
nghị với tư cách một nước độc lập, có tuyên bố chiến
tranh với Nhật, thì tầm quan trọng không chỉ ở việc có
quyền đòi hỏi bồi thường, mà tiếng nói của Việt Nam về
số phận của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại hội
nghị cũng có giá trị quyết định nếu không gặp sự phản
đối.

Về các điều khoản liên hệ đến lãnh thổ của Hòa ước San
Francisco (điều 2), Nhật phải từ bỏ mọi đòi hỏi chủ
quyền tại: (a) Triều Tiên, và công nhận nền độc lập của
xứ này, (b) đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ, (c) quần
đảo Kouriles và phần đảo Sakhaline cũng như các đảo khác đã
nhượng cho Nhật qua Hiệp ước Portsmouth năm 1905, (d) tại các
đảo đã được giao cho Hội Quốc Liên quản lý và theo quyết
định của Hội đồng Bảo an ngày 2 tháng 4 năm 1947, e/ vùng
Bắc cực, (f) các quần đảo Spratly (Trường Sa) và quần đảo
Paracels (Hoàng Sa).

Như thế, ngoại trừ Triều Tiên và các đảo đã được Hội
Quốc Liên quản lý trước đó đã được xác định rõ số
phận, các đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ, quần đảo
Kouriles và phần đảo Sakhaline, vùng Bắc cực và các quần
đảo Trường Sa và Hoàng Sa thì không xác định là sẽ giao cho
nước nào quản lý.
Hòa ước San Francisco cũng không có sự hiện diện của hai phe
Trung Hoa, vì không thể mời bên này bỏ bên kia. Do đó, hội
nghị chấp nhận để Nhật có toàn quyền lựa chọn phe để
ký hòa ước. Rốt cục Nhật đã chọn phe Trung Hoa Dân quốc
để ký hòa ước.

Hòa ước Trung - Nhật được ký tại Đài Bắc ngày 28-4-1952,
trong đó khoản nói về lãnh thổ được lặp lại nguyên văn
nội dung điều (2) của Hòa ước San Francisco: Nhật từ bỏ
chủ quyền tại các đảo Đài Loan, Bành Hồ, Hoàng Sa, Trường
Sa nhưng cũng không xác định là trả cho phe nào.

Thực ra số phận của các vùng lãnh thổ đó đã được định
đoạt. Đề nghị của Pháp tại hội nghj đã được chấp
thuận. Theo đó phe lâm trận nào chiếm ở đâu thì sẽ tuyên
bố chủ quyền ở đó.

Ta thấy điều này xảy ra như thế ở Kouriles và phần đảo
Sakhaline (do Nga chiếm), Đài Loan và quần đảo Bành Hồ (do
chính phủ họ Tưởng quản lý).

Về phía Pháp, do đã toan tính trước, Pháp liền ký kết với
Trung Hoa Hiệp ước Trùng Khánh (Tchong Quing) ngày 28 tháng 2 năm
1946. Theo đó quân đội Trung Hoa sẽ rời Việt Nam từ ngày 1
đến ngày 15 tháng 3 năm 1946 để quân Pháp vào thay thế. Đổi
lại, Pháp tuyên bố hủy bỏ tất cả các quyền lợi và tô
giới của Pháp tại Trung Hoa đồng thời cam kết dành sự ưu
đãi về kinh tế cho Trung Hoa, như nhượng tuyến đường xe lửa
Vân Nam – Hải Phòng, dành ưu đãi về kinh tế, kiều dân Trung
Hoa sống tại Việt Nam được hưởng qui chế ưu đãi đặc
biệt.

Trong khi đó, phía nam vĩ tuyến 16, vì lý do chiến lược, Anh
cũng đồng ý nhượng quyền lại cho Pháp.

Về thái độ của Anh về chủ quyền của Pháp tại Trường Sa,
mặc dầu nước này đã có tuyên bố chủ quyền tại quần
đảo Trường Sa từ các năm 1877, nhưng đã tuyên bố không
giành chủ quyền với Pháp.

Sau khi quân Nhật đã rút khỏi quần đảo Hoàng Sa cũng như
Trường Sa năm 1946, Pháp đã gởi quân đến các đảo Hoàng Sa
và Trường Sa để khẳng định chủ quyền. Tại Hoàng Sa và
Trường Sa, quân đội Pháp-Việt đã có mặt từ tháng 5 năm
1946. Đến tháng 10-1946, quân Pháp ra đảo Ba Bình (Itu Aba) thuộc
Trường Sa, đóng mốc mới, khẳng định lại chủ quyền.

Như thế, hành động của Pháp phù hợp hoàn toàn ới tinh thần
Hòa ước San Francisco 1951 về việc giải quyết các vùng đất
do Nhật từ bỏ. Pháp đã khẳng định lại chủ quyền của
mình tại Hoàng Sa và Trường Sa, dưới sự mặc nhiên chấp
thuận của Hoa Kỳ và Anh.

Mặt khác, tại Hội nghị San Francisco, đại diện Quốc gia
Việt Nam là ông Trần Văn Hữu, đã tuyên bố chủ quyền của
Việt Nam tại hai quần đảo này và không bị một sự chống
đối nào. Việt Nam tham gia hội nghị với tư cách một nước
độc lập, có tuyên chiến với Nhật, do đó có tư cách pháp
nhân để đưa ra ý kiến của mình về số phận các vùng đất
mà Nhật Bản đã buộc bị từ bỏ. Việt Nam đã ký kết Hòa
ước, Nhật Bản cam kết bồi thường cho Việt Nam 39 triệu đô
la tương đương giá trị hàng hóa và công trình xây dựng. Nếu
việc bồi thường đã chấp thuận thì việc tuyên bố của
Việt Nam về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa đương nhiên là
có giá trị pháp lý. Nhưng vấn đề là lúc đó Việt Nam không
có khả năng tiếp thu hai quần đảo này từ tay Nhật. Vì thế
thái độ của Pháp - mặc dầu chỉ vì quyền lợi của Pháp -
vô tình cũng có lợi cho Việt Nam, vì Pháp đại diện cho Việt
Nam đã tiếp thu, tuyên bố chủ quyền và chiếm đóng thực sự
trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Như thế, sự chiếm đóng hiện nay của Đài Loan tại đảo Ba
Bình là một sự chiếm đóng bất hợp lệ, dân tộc VN vào
bất cứ lúc nào tiện lợi, đều có thể thâu hồi một cách
hợp pháp đảo này về với tổ quốc.

<h2>Phần II: Về các điểm trong bài viết <a
href="http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/taiwan-new-factor-east-sea-issue-11042011080019.html
">"Vai trò của Đài Loan tại Biển Đông"</a> đăng trên RFA ngày
4 tháng 11 năm 2011.</h2>

<strong>1/</strong> Về tuyên bố của "Thiếu tướng Doãn Thịnh
Tiên, lãnh đạo hải quân Đài Loan":

Trích: <em>"Nếu xảy ra xung đột bằng quân sự giữa Đại
lục và Philippines thì quân đội Đài Loan đóng ở Thái Bình
Dương sẽ ra tay trợ giúp quân đội của Đại lục"</em>.
Hết trích.

Theo các nguồn tin của VN trên internet, tin này phát đi khoảng
tháng 6 năm 2011. Nhưng trên các cơ quan chính thức của chính
phủ Đài Loan hay các báo chí nước ngoài, tìm khắp nơi không
thấy.

Về tranh chấp HS và TS (hay đảo Điếu Ngư), nhà nước Đài
Loan có lập trường hoàn toàn đối nghịch với tuyên bố trên:

Ngày 14 tháng 7 năm 2011, Bộ trưởng thông tin kiêm phát ngôn
nhân chính phủ Trung Hoa Dân Quốc, ông Philip Yang, cho biết Đài
Loan không hề có ý định đàm phán với Trung Quốc về tranh
chấp chủ quyền tại biển Đông.

Trong khi đó, Andrew Yang, bộ trưởng bộ Quốc Phòng Đài Loan,
tuyên bố ngày 20 tháng 7 năm 2011, Đài Loan sẽ không thuơng
lượng với Trung Quốc về vấn đề chủ quyền tại Trường
Sa.

Ta biết, trong cuộc chiến Trường Sa năm 1988, có tin tức cho
biết là quân đội Đài Loan đóng tại đảo Ba Bình giúp quân
TQ nước uống. Thái độ này có thể biểu hiện việc đồng
tình của Đài Loan về hành vi xâm lăng của TQ. Nhưng từ việc
giúp nước uống đến việc trợ giúp quân sự khác nhau rất
lớn. Lời tuyên bố ghi trên của một vị tướng chỉ huy hải
quân dĩ nhiên có tầm quan trọng rất lớn về chiến lược. Vì
nếu sự việc thật đúng như thế, HK sẽ đứng vào đâu để
vừa bảo vệ quyền lợi của mình tại biển Đông? và sẽ
đứng về nước nào, trong khi Phi và Đài Loan đều là đồng
minh thân cận? Điều ngạc nhiên là ta không hề thấy phản
ứng của Phi, VN hay các nước có liên quan (và có quyền lợi)
trong biển Đông về tuyên bố (nẩy lửa) này.

Quí vị đã kiểm chứng nguồn dẫn này chưa?

<strong>2/</strong> Trích: <em>"Philippines luôn được Mỹ lên tiếng
xác nhận sẽ bảo vệ Manila dựa vào một hiệp ước được
ký giữa hai nước từ năm 1951"</em>.

Việc này cũng nên tương đối hóa. Mỹ bảo vệ Phi Luận Tân
có điều kiện chứ không phải không điều kiện. Một trong
những điều cần biết là vùng Trường Sa của Phi thì không bao
gồm trong hiệp định an ninh hỗ tương Mỹ-Phi. Tức là, nếu
có tranh chấp với một nước nào khác về chủ quyền tại các
đảo TS, HK có thể đứng ngoài.

<strong>3/</strong> Trích: <em>"Đài Loan chiếm cứ đảo Ba Bình,
một hòn đảo lớn nhất nằm trong quần đảo Trường Sa của
Việt Nam vào năm 1946 sau khi người Nhật đầu hàng và thay vì
trả hòn đảo mà họ chiếm từ tay người Pháp lại đem trả
cho Đài Loan theo hiệp định Cairo vào năm 1943"</em>.

Điều này sai. Nhật không hề « trả » đảo Ba Bình cho Đài
Loan "theo hiệp định Cairo vào năm 1943". Xem phần lịch sử ở
trên.

<strong>4/</strong> Trích: <em>"Từ trước tới nay mức cao nhất là
Trung Quốc chỉ đe dọa thôi chứ chưa bao giờ sử dung vũ lực.
Người Trung Quốc không bao giờ đánh người Trung Quốc phải
khẳng định như thế"</em>.

Điều này không đúng. Trong lịch sử người TQ luôn đánh nhau
với người TQ. Thời Chiến Quốc, thời Tam Quốc, hay thời cận
đại chiến tranh Quốc-Cộng giữa Mao Trạch Đông và Tưởng
Giới Thạch trên lục địa là các thí dụ. Đối với Đài
Loan, từ năm 1949 đến nay đã đánh 3 lần đánh thật và một
lần suýt đánh lớn.

Lần thứ nhứt từ ngày 25 đến 27 tháng 10 năm 1949. Hồng quân
CS đổ bộ tiến đánh đảo Kim Môn. Phía CS thua do quân lực
yếu kém. Phía Đài loan có 1.267 lính tử thương, 1.982 bị
thương. Trung Quốc có 3.873 lính tử thương và 5.175 tù binh.

Lần thứ hai (1954-1955). Ngày 11 tháng 8 năm 1954, Châu Ân Lai
tuyên bố "giải phóng" Đài Loan, cho pháo binh pháo kích mạnh
vào hai đảo Kim môn và Mã tổ. Lúc đó Đài Loan có 58.000 quân
trên đảo Kim môn, 15.000 quân trên đảo Mã tổ. HK lên tiếng
cảnh cáo, TQ mở mặt trận ra đảo Tachen. HK đã nghĩ tới dội
bom nguyên tử để giải tỏa nếu tình hình bất lợi. Rốt
cục TQ rút quân sau khi mất khoảng 20.000 quân và một số lớn
tàu bè bị phá hủy.

Lần thứ ba xảy ra năm 1958. Ngày 23 tháng 8 hồng quân CS pháo
kích vào Kim Môn làm chết 400 quân Đài Loan. Chiến sự mở
rộng với mặt trận trên không, một bên do HK yểm trợ và bên
kia do Liên Xô yểm trợ. Cuộc xung đột chấm dứt ngày 1 tháng
1 năm 1959 gậy thiệt hai cho đôi bên khoảng 1000 người.

Lần thứ tư là cuộc khủng hoảng tại eo biển Đài Loan 1995. E
ngại Lý Đăng Huy tuyên bố độc lập, TQ cho bắn hỏa tiễn
vài hải phận Đài Loan để đe dọa. Trước ngày bầu cử, TQ
cho diễn tập đổ bộ (ba lần) để răn đe và hăm dọa nếu
dân Đài Loan bầu cho Lý Đăng Huy thì sẽ phát động chiến
tranh. Nhưng trò run cây nhát khỉ này này không làm cho dân Đài
Loan sợ hãi, rốt cục Lý Đăng Huy tái đắc cử (số phiếu
tăng thêm 5%). Điều này cho thấy dân Đài Loan không hề chịu
khuất phục TQ. Dầu vậy, HK cũng đã phái tới vùng eo biển hai
hạm đội hàng không mẫu hạm để phòng ngừa việc TQ làm
bậy.

<strong>4/ Về viễn ảnh Đài Loan ký kết hòa ước với Bắc
Kinh.</strong>

Theo tôi, sở dĩ ngày hôm nay có việc toan tính "ký kết hòa
ước với Bắc Kinh" là do hoàn cảnh lịch sử của hai bờ eo
biển Đài loan. Từ khi Tưởng Giới Thạch rút ra Đài Loan 1949
thì có tuyên bố tình trạng thiết quân luật trên toàn lãnh
thổ. Từ năm 1949 trở đi là "thời kỳ tổng động viên để
diệt trừ cộng phỉ". Thời kỳ này chỉ chấm dứt năm 1991,
sau khi tổng thống Lý Đăng Huy lên nắm quyền. Tức là, tình
trạng chiến tranh đã được phía Đài Loan đơn phương dẹp
bỏ, trong khi phía lục địa vẫn còn chĩa khoảng 2000 hỏa
tiễn đe dọa đảo này. Do đó việc ký kết hòa ước giữa hai
bên, trên phương diện bang giao quốc tế, là hợp lý. Trung
Quốc hiện nay đã ký hòa ước với Nhật (12-8-1978) trong khi
Đài Loan đã ký với Nhật từ năm 1951. TQ hiện nay, trên danh
nghĩa, không có thù nghịch với nước nào. Vì thế, việc ký
kết hòa ước sẽ có ý nghĩa chiến lược to lớn đối với
Đài Loan, nếu chính quyền tại đây giữ được thế "độc
lập về chính trị" với Bắc Kinh.

(Do sự chống đối của phe đối lập, TT Mã Anh Cửu tuyên bố
hòa ước không có mục đích tiến tới thống nhất giữa hai
bên mà chỉ nhằm mục đích xây dựng hòa bình, việc ký kết
hòa ước sẽ được thông qua bằng trưng cầu dân ý và nội
dung hòa ước sẽ dựa lên "đồng thuận 1992".)

Hiện nay, dưới mắt các chuyên gia quốc tế, TQ đã đủ sức
thống nhất Đài Loan bằng vũ lực. Vì vậy khi nói rằng Đài
loan ở thế yếu là hợp lý. Nhưng khi hiểu hoàn cảnh lịch
sử và ý đồ chính trị của các đảng phái tại Đài loan,
sẽ khó có thể chia sẻ được ý tưởng cho rằng: <em>"Tuy
nhiên nếu Trung Quốc chấp nhận ký hòa ước thì phải có cái
giá của nó và tôi nghĩ rằng cái giá đó không gì ngoài cái
đảo Ba Bình"</em> như ý kiến trong bài viết. Đài Loan dầu sao
cũng là một lãnh thổ có nền tảng chính trị dân chủ. Mọi
hành vi, toan tính của đảng này đều bị đảng kia kiểm soát.
Chính sách quốc phòng của Đài Loan đã được hoạch định,
trong đó việc phòng thủ là chính yếu, không thể phe này hay
phe kia lên là có thể thay đổi. Mặt khác, trình độ dân trí
Đài Loan rất cao. Do đó khi nói rằng: <em>"việc làm này chẳng
qua là một vở kịch mà thôi cho nên cái đảo Ba Bình này sớm
muộn gì cũng thuộc về Trung Quốc bằng một màn kịch"</em> là
rất chủ quan, nếu không nói là không có căn cứ. Không thể
ví Đài Loan - Trung Quốc với VN - TQ. Ở VN, mọi việc đều do
đảng quyết định và đảng bắt dân chúng phải tuân theo các
đồng thuận đã được ký kết giữa lãnh đạo hai đảng, cho
dầu đó là các thỏa thuận nhượng đất, biển của tổ
quốc. Không thể có "màn kịch" nào khi mà sinh hoạt chính trị
tại đảo quốc này vẫn là sinh hoạt dân chủ. Dân Đài Loan
không phải là dân VN, đảng nói sao thì nghe vậy. Đảo Ba Bình
sẽ chỉ thuộc kiểm soát của TQ chỉ khi nào TQ thống nhất
với Đài Loan. Mà việc Đài Loan thống nhất với lục địa
không chỉ liên quan đến nội bộ của hai bên mà liên quan
đến chiến lược Châu Á của Hoa Kỳ. Do đó là điều không
dễ.

<strong>5/ Đánh giá thế nào về vai trò của Đài Loan ở biển
Đông?</strong>

Có nhiều mặt cần xem xét.

<strong>5.1</strong> <em>Nội bộ Đài Loan</em>: Đài Loan vẫn tuyên
bố HS và TS thuộc về Trung Hoa, nhưng lập trường chính thức
của họ hiện nay về biển Đông, như tuyên bố mới đây của
bộ ngoại giao, là không thuơng lượng với TQ. Đó là lập
trường của Quốc Dân Đảng. Trong khi đó đảng Dân Tiến
(đối lập) có chủ trương "đa phương hóa" việc giải quyết
tranh chấp.

<strong>5.2</strong> <em>Đối với thế giới</em>: vì cả hai đảng
Cộng Sản và Quốc Dân Đảng đều chủ trương một nước
Trung Hoa, do đó hiện nay không còn mấy nước trên thế giới
công nhận chính phủ Đài Loan là đại diện cho dân tộc Trung
Hoa. Cái ghế đại diện LHQ thì chính phủ dân quốc đã mất
vào tay lục địa từ năm 1971. Do đó Đài Loan hiện đang cô
lập trên thế giới. Các nước trong vùng ASEAN đều xem Đài
Loan là một bộ phận của Trung Quốc. Nỗ lực của các chính
phủ Đài Loan hiện nay, dầu Quốc Dân Đảng hay đảng Dân
Tiến, đều cố gắng vận động để được quốc tế nhìn
nhận, nhất là các tổ chức thuộc LHQ (như các tổ chức Y Tế
quốc tế, Tổ chức Nhi đồng Quốc Tế, về văn hóa như UNESCO
v.v…). Vì thế, Đài Loan luôn tìm cách để các nước chú ý
đến mình. Các động thái của Đài Loan tại biển Đông không
ra ngoài mục đích đó. Nhưng các động thái tiến xa hơn việc
"gây chú ý" đều sẽ đem lại bất lợi cho Đài Loan.

<strong>5.3</strong> <em>Quan hệ Đài Loan - Hoa Kỳ</em>: HK vẫn xem
Đài Loan là một con cờ quan trọng trên bàn cờ chiến lược Á
Châu. Mặc dầu trong quá khứ, HK có hai lần thay đổi quan
điểm về Đài Loan, nhưng hiện nay chưa thấy dấu hiệu nào cho
thấy HK sẽ bỏ đảo này cho TQ, ít ra vì hai lẽ : a) vành đai
(chuổi đảo) chiến lược thứ nhứt nhằm bao vây TQ, không cho
hải quân nước này ra "biển xanh". b) ý nguyện của dân Đài
Loan đa số không muốn thống nhứt với lục địa. Hiện nay HK
vẫn bán vũ khí tự vệ cho Đài Loan, mặc dầu có nhiều sự
phản đối từ TQ. Cho dầu chất lượng vũ khí chuyển nhượng
không như yêu cầu của Đài Loan nhưng cũng cho thấy HK không
dễ dàng bỏ Đài Loan. Điều này hàm ý con đường thống nhất
Đài Loan với lục địa sẽ đi qua Washington.

<strong>5.4</strong>, <em>Thái độ của VN</em>: VN chủ trương "đa
phương hóa tranh chấp biển Đông". VN luôn xem Đài Loan là một
phần của TQ, do đó trên trường ngoại giao thì VN không quan
tâm đến các động thái của đảo này. Tuy vậy, nếu xét về
lợi hay hại, nếu phe đảng Dân Tiến thắng cử (so với Quốc
Dân Đảng) thì vẫn có lợi hơn cho VN, vì lập trường đảng
này và VN giống nhau (trong vấn đề giải quyết tranh chấp). Vì
thế, nếu được thì người Việt nên vận động để đảng
Dân Tiến thắng cử kỳ tới.

<strong>5.5</strong> <em>Vị trí chiến lược</em>: Đảo Ba Bình,
đối với HK hay các cường quốc lớn, chỉ là một đảo san
hô nhỏ, do đó không đóng một vai trò chiến lược lớn lao.
Đối với các nước nhỏ trong vùng, nó có thể có một tầm
quan trọng nhất định, nhưng không quá quan trọng để có thể
nắm phần thắng nếu cuộc chiến xảy ra (giữa các nước
nhỏ). Tuy nhiên, vùng biển chung quanh lại có tiềm năng kinh tế
quan trọng. Đó mới là giá trị thực hữu của các đảo TS
(và HS).

<strong>Kết luận</strong>: Về viễn ảnh một cuộc chiến sắp
tới (góp ý với các "bỉnh bút" về quân sự):

Dựa trên những gì tôi hiểu biết về khoa học kỹ thuật,
nếu một cuộc chiến toàn diện xảy ra và có mặt của HK trong
vùng biển Đông, cuộc chiến trước hết sẽ xảy ra trên không
gian, với các loại vũ khí năng lượng tập trung nhằm tiêu
diệt (có giới hạn) các vệ tinh, đồng thời với các cuộc
tấn công tin học nhằm mục đích triệt tiêu khả năng truyền
tin và thông tin của đối phương. Sau đó trên không trung với
các loại phi cơ "furtif – tàng hình" nhằm tấn công các dàn
ra-đa của đối phương trong lục địa. Phe nào tiêu diệt
được các hệ thống truyền tin và thông tin của địch thủ
trước tiên thì phe đó sẽ thắng. Các loại hỏa tiễn tinh
khôn sẽ trở nên "ngu dốt" vì không có bộ phận điều khiển
và định vị (từ các vệ tinh). Khi hệ thống ra đa bị phá
hủy thì hệ thống phòng không sẽ trở nên vô dụng. Các
chiến hạm không có phi cơ bảo vệ thì sẽ làm mồi ngon cho
thủy lôi v.v… Có thể lúc đó khả năng răn đe về nguyên tử
sẽ giới hạn sự thất bại ở các bên.

Điều cần nhớ là mục tiêu "hiện đại hóa quân đội" của
TQ được điều chỉnh lại sau khi cuộc chiến vùng Vịnh đầu
thập niên 90. Vào thời điểm đó, vũ khí của Iraq không thua
bất kỳ một nước nào trong vùng. Họ cũng có phi cơ của Nga
(và Pháp), hệ thống phòng không hiện đại nhất. Qua cú đánh
thần tốc của HK lên các dàn ra đa bằng các loại hỏa tiễn
điều khiển từ xa, tòan bộ hỏa lực phòng không trở nên vô
dụng, lực lượng không quân Iraq bất lực, làm mồi cho không
lực HK. Cuộc chiến nghiêng về đâu thì mọi người đã rõ.

Ý thức việc này, từ nhiều năm qua TQ đã đầu tư rất nhiều
trong các lãnh vực không gian, tin học, vũ khí năng lượng tập
trung (tia laser, tia hạt tử, tia vi ba v.v…), các loại phi cơ
"tàng hình", tàu ngầm, các hỏa tiễn tầm trung chống hạm…
Một số đã qua giai đoạn nghiên cứu và được đưa vào sản
xuất. TQ cũng đã có dàn máy "Super Computer", mà ngoài HK không
có nước nào có. Sự tiến triển của họ về các lãnh vực
khoa học (áp dụng cho quân sự) chưa được công bố, nhưng sự
thành công của họ qua các trạm không gian, các vệ tinh do thám,
các vệ tinh thuộc hệ thống định vị, hay việc thành công
tiêu diệt vệ tinh… làm cho HK lo ngại.

VN hiện nay, với lực lượng quân sự hạn chế, chắc chắn
phải dựa vào một cường quốc để không bị đánh "phủ
đầu" như Iraq. Các loại vũ khí đang có của VN sẽ vô dụng
nếu không có hệ thống thông tin đi kèm. Các cường quốc sẽ
giúp cho VN cái mà VN không có: bảo vệ thông tin và định vị
mục tiêu. Cường quốc đó hiện nay VN đã chọn, đó là Nga.
Các vũ khí của VN đều do Nga cung cấp. Nhưng sẽ khó lường
được thái độ của nước này khi cuộc chiến xảy ra. Vì
thế, điều cần thiết là VN phải "chơi" với HK.

Nhưng cái may của VN là, biển Đông không phải là biển Đen, VN
không phải là Georgia để TQ muốn làm gì thì làm. Sự lên
tiếng mạnh mẽ, đồng thời có những động tác răn đe hữu
hiệu, của các cường quốc HK, Nhật, Ấn Độ… về biển
Đông đã làm cho TQ chùn tay. Có nhiều nước có quyền lợi
tại biển Đông chứ không phải như tại biển Đen. Nhưng nếu
TQ tự tin với khả năng của mình, không điều gì có thể
không xảy ra.

Vì vậy, với tư duy "du kích" của chiến tranh VN thời 1975, sẽ
không thể áp dụng cho cuộc chiến sắp tới. Những bài viết
của các "bỉnh bút quân sự" VN thực ra chỉ làm trò cười cho
những người hiểu biết. Ta thấy, một cường quốc, như HK
tại VN và Nga tại Afghanistan, có thể thua một đạo quân yếu
hơn rất nhiều, vì chiến tranh du kích. HK hiện nay đang "thua"
tại Irak và Afghanistan vì chiến tranh du kích. Nếu Taliban đánh
thắng được Mỹ thì cũng không có gì để những người cộng
sản VN hiện nay hãnh diện về cuộc chiến 75.

Nhưng một trận thư hùng giữa hai lực lượng quân sự lớn,
nó sẽ xảy ra như sấm dội. Mọi người sẽ thấy sự hủy
diệt, ngoài ra không thấy gì cả.

<strong>Trương Nhân Tuấn</strong>

_________________________________

Mật ước Yalta, ký ngày 11 tháng 2 năm 1945 giữa đại diện
của Hoa Kỳ, Anh và Liên Xô tại Yalta. Theo đó Stalin chỉ chấp
nhận tuyên bố chiến tranh với Nhật Bản sau khi Đức thua
trận. Nội dung mật ước liên hệ đến các đòi hỏi của
Liên Xô để nước này tuyên bố chiến tranh với Nhật Bản.
Gồm có các khoản: giữ nguyên trạng xứ Ngoại Mông (Mông
Cổ); trả lại cho Liên Xô phần phía nam đảo Sakhaline; nhượng
cho Liên Xô quần đảo Kouriles. Tuy nhiên, việc thi hành Mật
ước Yalta gặp khó khăn vì có mâu thuẫn giữa Liên Xô và Hoa
Kỳ trong các buổi họp làm việc "tiền hội nghị" San Francisco
1951. Lập trường của Liên Xô là vấn đề chuyển nhượng
chủ quyền lãnh thổ đã được xác định qua nội dung của
Mật ước. Lập trường của Hoa Kỳ cho rằng Mật ước chỉ
có hiệu lực sau khi một hiệp ước chung cuộc chấm dứt cuộc
chiến được ký kết bởi tất cả các nước Đồng minh. Hoa
Kỳ chỉ cam kết ủng hộ đòi hỏi của Liên Xô theo tinh thần
Mật ước Yalta trong Hội nghị San Francisco. Nhưng Thuợng viện
Hoa Kỳ, lúc thông qua Hòa ước San Francisco, đã đính kèm một
tuyên bố xác định rằng toàn bộ nội dung Hòa ước không có
điều nào dẫn đến việc Hoa Kỳ phải nhìn nhận nội dung
Mật ước Yalta 11-2-1945.

Tối hậu thư Potsdam (Tuyên bố Potsdam) của các nước Đồng
minh là Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa gởi cho Nhật Bản ngày 26 tháng 6
năm 1945, một số điều bó buộc Nhật Bản phải chấp nhận
gồm có các việc: thi hành các điều đã xác định theo tuyên
bố Caire; lãnh thổ Nhật Bản sẽ chỉ giới hạn trên các
đảo Hondo, Hokkaido, Kiousiou và Si Kok cũng như trên một số
đảo nhỏ khác sẽ được xác định do các nước đồng minh;
Nhật sẽ bị hoàn toàn giải giới và các lực lượng quân
đội Nhật sẽ giải ngũ. Liên Xô ký nhận vào Tuyên bố Potsdam
ngày 8 tháng 8 năm 1945.

Ngày 10 tháng 8 chính phủ Nhật cho biết họ sẵn sàng chấp
nhận các điều kiện của Tối hậu thư Potsdam đòi hỏi vì
họ nghĩ rằng nội dung Tối hậu thư không có điều nào xúc
phạm đến đặc quyền của Nhật Hoàng. Ngày 11 tháng 8, Hoa
Kỳ, nhân danh các nước Đồng minh, xác định lại rằng thẩm
quyền của Nhật hoàng và chính phủ Nhật sẽ đặt dưới
quyền lãnh đạo tối cao của lực lượng Đồng minh.

Ngày 14-8-1945 Nhật tuyên bố đầu hàng. Ngày 31 tháng 8, tại
Yokohama, McArthur thành lập ban Chỉ huy Đồng minh Tối cao. Ngày 2
tháng 9 đại diện Nhật Hoàng ký vào văn bản tuyên bố đầu
hàng không điều kiện với tướng Douglas Mac Arthur tại vịnh
Tokyo. Mac Arthur đại diện các nước Đồng minh là Hoa Kỳ, Anh,
Trung Hoa và Liên Xô cũng như đại diện cho quyền lợi các
nước đã tuyên bố chiến tranh với Nhật. Văn kiện đầu hàng
không điều kiện được đại diện 9 nước sau đây ký nhận:
Hoa Kỳ, Trung Hoa, Anh, Liên Bang Xô-viết, Úc, Canada, Chính phủ
Lâm thời Cộng hòa Pháp, Hòa Lan và Tân Tây Lan. Sự kiện này
cần nhắc nhở vì sự hiện diện của Chính phủ Lâm thời
Cộng hòa Pháp trong văn bản đầu hàng của Nhật Bản là một
sự kiện quan trọng (cho việc khẳng định chủ quyền tại hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa).

Nguyên văn Tuyên bố Caire: President Roosevelt, Generalissimo Chiang
Kai-shek and Prime Minister Churchill, together with their respective
military and diplomatic advisors, have completed a conference in North
Africa. The following general statement was issued:

"The several military missions have agreed upon future military operations
against Japan. The three great Allies expressed their resolve to bring
unrelenting pressure against their brutal enemies by sea, land and air. This
pressure is already rising.

"The three great Allies are fighting this war to restrain and punish the
aggression of Japan. They covet no gain for themselves and have no thought of
territorial expansions. It is their purpose that Japan shall be stripped of
all the islands in the Pacific which she has seized or occupied since the
beginning of the first World War in 1914, and that all the territories Japan
has stolen from the Chinese, such as Manchuria, Formosa, and the Pescadores,
shall be restored to the Republic of China. Japan will also be expelled from
all other territories which she has taken by violence and greed. The
aforesaid three great powers, mindful of the enslavement of the people of
Korea, are determined that in due course Korea shall become free and
independent.

"With these objects in view, the three Allies, in harmony with those of the
United Nations at war with Japan, will continue to preservere in the serious
and prolonged operations necessary to procure the unconditional surrender of
Japan."

Keim Jean-A. Nankin 1948. In: Politique étrangère N°6 - 1949 - 14e
année pp. 553-564.

http://www.persee.fr/web/revues/home/prescript/article/polit_0032-342X_1949_num_14_6_2783

Xem "The French Annexation, and British Abandonment of Spratlies.
Abandonment of Territorial Claims: The cases of Bouvet and Spratly Islands",
by Geoffrey Marston. Trong The British Yearbook of International Law 1986,
LVII, các trang 337-356
http://fds.oup.com/www.oup.co.uk/pdf/0-19-826215-9.pdf


http://taiwaninfo.nat.gov.tw/ct.asp?xItem=171186&CtNode=458&htx_TRCategory=&mp=4


http://taiwaninfo.nat.gov.tw/ct.asp?xItem=172032&CtNode=458&htx_TRCategory=&mp=4


http://taiwaninfo.nat.gov.tw/ct.asp?xItem=172590&CtNode=458&htx_TRCategory=&mp=4


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10516), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét