Quỹ đạo cưỡng bức

Trung Quốc hiện mắc hội chứng theo đuổi quyết liệt các
mục tiêu phát triển kinh tế và chiến lược giống như nước
Đức thời Bismark trước đây. Biển Đông là một nơi để
Trung Quốc thể hiện rất rõ chiến lược của họ nhằm đạt
được các kết quả mong muốn trong tranh chấp tại khu vực
này.

Theo Tiến sĩ W Lawrence S Prabhakar, Bắc Kinh cho rằng họ buộc
phải giảm bớt điểm yếu của tuyến vận chuyển kéo dài
bằng cách thiết lập khả năng tiếp cận mạnh mẽ và tiên
tiến tuyến vận tải này dựa trên sức mạnh của mình và vô
hiệu hoá ý định của bất kỳ đối thủ nào.

Biết rõ yếu điểm của tuyến đường hàng hải qua eo biển
Malắcca, Trung Quốc quan tâm thiết lập các liên minh song phương
lâu dài ở khu vực và thường ủng hộ các dự án xây dựng
hạ tầng dân sự và quân sự cũng như trợ giúp rất lớn cho
các chương trình hiện đại hoá quân sự của các nước này.

Trung Quốc đang tăng cường an ninh cho các tuyến vận tải biển
cùng với các quan hệ đối tác lâu dài giúp làm tăng sự kiểm
soát đối với khu vực và khát vọng quyền lực của họ. Một
phần của chiến lược nổi lên và sự hung hăng của Trung
Quốc là do có các cơ hội "thay đổi quyền lực" ở châu Á
Thái Bình Dương, theo đó sức mạnh của Mỹ đang giảm sút và
sự nổi lên mạnh mẽ của Trung Quốc cho phép họ được
đứng ở "tâm chấn" của khu vực.

Nói một cách khác, Bắc Kinh nhận thấy rằng sau vài
thế kỷ họ hiện đang có vị thế chiếm lĩnh Trung tâm thế
giới (Middle Kingdom). Tuy nhiên, ở thời điểm này việc Trung
Quốc nổi lên một cách hoà bình hay nổi lên một cách hung
hăng sẽ thể hiện qua cách Bắc Kinh dàn xếp như thế nào về
sự nổi lên đó của họ với khu vực Đông Nam Á và Đông Á.

Lực lượng hải quân và không quân Trung Quốc đã liên tục
được tăng cường kể từ năm 2001 đến nay. Trong sự kiện
được công bố rộng rãi về vụ máy bay EP-3 US của Mỹ trinh
sát đảo Hải Nam tháng 4/2001, máy bay này đã va chạm với một
máy bay chiến đấu của Trung Quốc và buộc phải hạ cánh
khẩn cấp xuống căn cứ không quân Lingchui tại đảo Hải Nam
trong khi máy bay đánh chặn của Trung Quốc bị rơi.

Trong khi chiếc EP-3 vẫn tiến hành các chuyến bay do thám
thường xuyên, việc cố ý gây ra vụ va chạm cho thấy Bắc Kinh
lo ngại việc mở rộng các cơ sở hạ tầng của hải quân và
không quân của họ trên đảo Hải Nam, trong đó có căn cứ Tam
Á dành cho hải quân, bị phát hiện.

Một thập kỷ xây dựng lực lượng hải quân và không quân
tại Hải Nam đã biến đảo này thành một "tàu sân bay không
thể bị đánh chìm" để từ đó triển khai vào Biển Đông
những loại vũ khí có uy lực lớn từ trên đất liền, trên
biển và trên không. Từ năm 2003, hải quân Trung Quốc đã nổi
lên thành một quân chủng quan trọng của quân đội nước này
và sự phát triển mạnh mẽ của nó được thể hiện qua việc
nhiều căn cứ được xây dựng và hạm đội được mở rộng.
Sự thay đổi của quân chủng này có tính chất quyết định
đối với khả năng tác chiến của hải quân Trung Quốc ở khu
vực.

Sự nổi lên về quyền lực cứng của Trung Quốc dựa vào
việc hiện đại hoá quân đội được tiến hành thông qua các
chương trình ráo riết mua sắm trên quy mô lớn các loại vũ
khí từ Nga dành cho hải quân và liên doanh với Nga sản xuất
tại Trung Quốc các thiết bị dành cho không quân.

<h2>Thay đổi quy mô hoạt động</h2>

Kết quả của các chương trình trên đã tạo ra bước
đột phá trong việc làm mới các hệ thống vũ khí của Trung
Quốc để thay thế cho các thế hệ vũ khí lạc hậu mua từ
thời Liên Xô vào những năm 1950. Kết quả là quân đội Trung
Quốc đã sở hữu các hệ thống vũ khí mô phỏng theo các hệ
thống vũ khí Liên Xô/Nga và chú ý nhấn mạnh về mặt học
thuyết.

Từ năm 1990, hải quân Trung Quốc bổ sung thêm 8 loại tàu khu
trục gồm 26 chiếc mang tên lửa, trong đó có hai chiếc mua từ
Nga thuộc loại Sovrremenny (dự án 956 EM), số còn lại được
đóng trong nước, 49 tàu hộ vệ mang tên lửa thuộc 9 loại
khác nhau. Ngoài ra, lực lượng này cũng được trang bị thêm 27
tàu đổ bộ cỡ lớn, 31 tàu đổ bộ cỡ trung bình, 58 tàu
ngầm trong đó có 4 loại tàu ngầm tự đóng và hai loại EKM-656
và EKM-877 mua của Nga.

Hải quân Trung Quốc có lực lượng tàu ngầm chạy bằng năng
lượng hạt nhân lớn nhất ở khu vực, trong đó có hai loại
thuộc lực lượng tàu tấn công và tàu mang tên lửa đạn
đạo.

Hải quân Trung Quốc có hơn 200 máy bay và lực lượng lớn tên
lửa bao gồm các tên lửa hành trình tấn công trên bộ và tên
lửa chống tàu chiến gồm nhiều loại được sản xuất trong
nước hoặc mua từ Nga tạo ra sức mạnh áp đảo các lực
lượng hải quân và không quân ở khu vực.
Tuy nhiên, một diễn biến quan trọng trong năm 2011 là Trung Quốc
thúc đẩy việc xây dựng tàu sân bay để kết hợp với lực
lượng tàu khu trục – hộ vệ và tàu ngầm.

Sự thay đổi quy mô hoạt động được coi là có tầm quan
trọng thứ hai đối với sự nổi lên của hải quân và lực
lượng máy bay chiến đấu của Trung Quốc. Theo chiến lược
biển của Trung Quốc về 3 chuỗi đảo bao quanh, Trung Quốc sẽ
xây dựng lực lượng hải quân tập trung mạnh vào khả năng
tấn công trong chuỗi đảo thứ nhất và một phần ở chuỗi
đảo thứ hai.

Sự thay đổi hoạt động của Trung Quốc thể hiện qua việc
kết hợp giữa việc phát triển các khả năng hiệp lực quan
trọng với các biện pháp chống tiếp cận bằng các tên lửa
đạn đạo chống tàu chiến mà Bắc Kinh đặt tên là "vũ khí
tiêu diệt" tàu sân bay.

Với tầm bắn được quảng cáo là từ 1.500 tới 2.000 Km, tên
lửa đạn đạo chống tàu chiến CSS-DF-21D có thể kiềm chế,
giữ chân các lực lượng tấn công và đổ bộ Mỹ đứng
ngoài khu vực hoạt động của hải quân Trung Quốc ở chuỗi
đảo thứ nhất.

Sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng tên lửa (đất
đối không, đất đối đất cũng như tên lửa hành trình
chống tàu chiến và tấn công các mục tiêu trên bộ) với các
hoạt động tác chiến của lực lượng tàu ngầm tạo cho Bắc
Kinh khả năng vững chắc và tin cậy bên trong chuỗi đảo thứ
nhất của họ và khả năng đáng kể trong chuỗi đảo thứ hai.
Việc triển khai các tên lửa CSS-DF-21D sẽ tạo cho Trung Quốc
lợi thế to lớn trong việc lựa chọn các biện pháp đánh đòn
phủ đầu và gây sức ép trong một cuộc khủng hoảng ở khu
vực.

Tiến hành hoạt động quân sự phối hợp là một khả năng
khác của Trung Quốc trong tiến trình thay đổi phương cách
hoạt động có liên quan tới các khả năng kết hợp các lực
lượng ven biển, trên biển và vũ trụ bằng toàn bộ hệ
thống các khả năng tiến hành chiến tranh và Trung Quốc đã
hình thành quan niệm "Thông tin hoá" các khả năng bảo đảm
ý đồ chiến thuật và chiến lược và tính cơ động cho việc
thay đổi hoạt động của họ.

Các khả năng chiến lược mới đã được thể hiện trong
việc phát triển và triển khai năng lực đánh trả của hạm
đội các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo loại 094 lớp Tấn
được trang bị tên lửa IL-2-SLBM và một số loại tên lửa
hành trình mang đầu đạn hạt nhân trang bị trên tàu loại 093
lớp Thương.

Các loại tên lửa hành trình mang đầu đạn hạt nhân của
Trung Quốc tạo ra mối đe doạ hạt nhân thực sự trên chiến
trường. Tại căn cứ hải quân Tam Á, Trung Quốc triển khai
lực lượng tàu ngầm tấn công với khả năng hoạt động và
hoả lực tấn công rất nguy hiểm có thể ngăn chặn bất kỳ
sự phối hợp nào của hải quân các nước trong khu vực trừ
phi có sự can thiệp của các tàu ngầm hạt nhân Mỹ vào một
cuộc xung đột khu vực chống hải quân Trung Quốc.

<h2>Cán cân lực lượng khu vực</h2>

Để chống lại sức mạnh quyết đoán đang nổi lên của Trung
Quốc ở Biển Đông và tăng cường mạnh mẽ lực lượng hải
quân và không quân, các lực lượng hải quân và không quân các
nước khu vực đang phải đối mặt với một thách thức khổng
lồ.

Bắc Kinh sẽ thận trọng trong việc sử dụng vũ lực và triển
khai các loại vũ khí chiếm ưu thế của họ vì e ngại điều
đó sẽ kích động phản ứng từ phía Mỹ. Trung Quốc sẽ sử
dụng hiệu quả kép của đòn tấn công có sức hấp dẫn về
sự "nổi lên hoà bình", sức cuốn hút về kinh tế, sự
phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế của các nước ASEAN với Trung
Quốc – mọi thứ trong phạm vi ảnh hưởng của các hệ thống
phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế trong khu vực như Hội nghị
Cấp cao Đông Á (EAS) và diễn đàn hợp tác châu Á-Thái Bình
Dương (APEC) – để can dự cùng với tập thể các nước ASEAN.

Tuy nhiên, Bắc Kinh sẽ tìm cách giải quyết riêng rẽ các vấn
đề tranh chấp với từng nước ASEAN một. Họ cũng muốn sử
dụng một loạt công cụ như luật pháp nước họ và diễn
giải Công ước của Liên hợp quốc về luật biển (UNCLOC) năm
1982 theo cách của họ để có thể gạt bỏ những tuyên bố
chủ quyền riêng của các nước ASEAN.

Việc so sánh về các lực lượng tác chiến, khả năng cơ
động và thay đổi về học thuyết giữa Trung Quốc và các
nước Đông Nam Á cho thấy sự chênh lệch quá lớn mà phần
yếu thế thuộc về các nước ASEAN.

Trong khi các nước ASEAN có một khung kinh tế và chính trị khu
vực mạnh, thì khung hợp tác quốc phòng của khối này mờ
nhạt kể từ khi Tổ chức phòng thủ chung Đông Nam Á (SEATO)
bị lu mờ.

Nhìn chung, trong khi Mỹ cam kết đối với an ninh ở Đông Nam Á
trên cơ sở của sự phụ thuộc kinh tế lẫn nhau, thì việc
tổ chức khởi động lại hoạt động của hiệp ước phòng
thủ với Mỹ và các nước ngoài khu vực vẫn chưa được
định hình tại khu vực. Nói một cách khác, quyền lực nổi
lên của Trung Quốc trên thực tế đang kích động việc thảo
luận ở khu vực về sự cần thiết thành lập một NATO châu
Á.

Tuy nhiên, xu hướng này dường như không tiến triển do yếu
tố phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế. Mặc dù vậy, Mỹ đã
tăng cường sự hiện diện tại khu vực này về mặt kinh tế
và chiến lược. Mỹ đã tăng cường các hoạt động giao lưu
quân sự với quân đội các nước Đông Nam Á và đặt cược
vào sự dính líu của mình ở Biển Đông.

Rõ ràng là có sự thiếu cân bằng về các khả năng. Đông Nam
Á có một cấu trúc hải quân và không quân đa dạng về các
phương tiện cũng như về số lượng các phương tiện chiến
đấu.

Mức độ hoạt động, khả năng chiến đấu lâu dài, sự phù
hợp của học thuyết với các hoạt động tác chiến kéo dài,
sự đồng bộ của các loại vũ khí hạng nặng và cơ sở công
nghệ-chiến lược đảm bảo cho việc duy trì khả năng đối
phó với Trung Quốc hiện đang được xem xét tại các nước
như Việt Nam, từng nổi danh đã "dạy cho Trung Quốc một bài
học" khi Bắc Kinh xâm lược Việt Nam để "dạy Hà Nội
một bài học" hồi năm 1979.

Xinhgapo là một điển hình nữa về trình độ công nghệ-chiến
lược ở mức độ cao và nền tảng vững chắc trong học
thuyết chiến tranh phối hợp, hệ thống trung tâm điều hành
các chiến dịch và khả năng công nghệ tiến hành cuộc chiến
hiện đại.

Malaixia có các đơn vị chiến đấu gây ấn tượng, song có
rất ít kinh nghiệm chiến đấu và hoạt động cho các lược
lượng vũ trang của mình trừ qua một lần xung đột với
Inđônêxia.

Lực lượng vũ trang của Inđônêxia có số lượng đông song
trang bị lạc hậu. Philíppin có khả năng quân sự yếu nhất
không thể đương đầu với Trung Quốc ngay cả trong các hoạt
động phòng thủ.

Hồi tháng 3 và tháng 7 năm 2010, Hải quân Trung Quốc đã tiến
hành một trong những cuộc tập trận lớn nhất của họ, trong
đó có các vụ phóng tên lửa tại khu vực Đông Nam Á.

Nhằm vào từng đối thủ chính trong cuộc tranh chấp tại Biển
Đông, các cuộc tập trận này đã nhấn mạnh ý định cứng
rắn của Bắc Kinh trong việc kết hợp thực hiện các biện
pháp cứng và mềm nhằm tái khẳng định tuyên bố chủ quyền
của họ đối với Biển Đông.

Cuộc tập trận này đánh dấu một mốc xác định về sự đe
doạ ngày càng tăng của Trung Quốc đối với Đông Nam Á, trong
khi họ vẫn không ngớt lời nói về sự phụ thuộc lẫn nhau
về kinh tế với ASEAN.

<h2>Tạo sức ép chiến lược nhằm đạt kết quả trong tranh
chấp</h2>

Tiến trình tăng cường hiện đại hoá quân đội và khả năng
tác chiến của Trung Quốc đang gây tác động và làm phức tạp
tình hình an ninh khu vực. Bắc Kinh theo đuổi chiến lược
ngoại giao và quân sự mà họ gọi là "trỗi dậy hoà bình"
bằng cách đề xuất các cuộc trao đổi ý kiến như là các
vấn đề thử nghiệm, song đồng thời tiến hành các cuộc
tập trận hải quân, các hoạt động thuỷ văn hung hăng, trái
hẳn với Tuyên bố về cách ứng xử của các bên tại Biển
Đông (DOC) mà họ đã ký với ASEAN năm 2002.

Trên các diễn đàn ngoại giao tập thể, Trung Quốc luôn thể
hiện thái độ tham vấn thân tình, song lại leo thang căng thẳng
với những đối tượng chọn lọc như Việt Nam và Philíppin.

Việc Trung Quốc đã triển khai tên lửa CSS-5/DF-21D và tăng
cường các khả năng tiến hành chiến tranh phối hợp, hệ
thống trung tâm chỉ huy chiến tranh và tăng cường kho vũ khí
chiến lược đưa ra một thông điệp rõ ràng rằng Bắc Kinh
đang tăng cường vị thế tấn công-phòng thủ để ngăn chặn
sự can thiệp từ bên ngoài vào khu vực này.

Một khi khả năng ngăn chặn sự can thiệp vào khu vực tỏ ra
đáng tin cậy với việc sử dụng các loại tên lửa hành trình
chống tàu chiến và tên lửa đạn đạo chống tàu sân bay, khi
đó độ tin cậy về sức mạnh yểm trợ của hải quân và
không quân Mỹ đối với khu vực Đông Á và Đông Nam Á sẽ
bị tổn thất.

Tốc độ hiện đại hoá gia tăng nhanh chóng của quân
đội và hải quân Trung Quốc, chiến lược mới về phối hợp
giữa thông tin hoá với mức độ nguy hiểm của tên lửa hành
trình mang đầu đạn hạt nhân tạo ra mối đe doạ thực sự
mà Bắc Kinh có thể sử dụng để tạo ra sức ép chiến lược
nhằm đạt được các kết quả mong muốn trong tranh chấp tại
Biển Đông.

Điều đó đòi hỏi các nước Đông Nam Á phải có sự hợp
tác chiến lược lớn hơn và xây dựng kho vũ khí và khả năng
hoạt động cần thiết như một phương tiện răn đe nhằm ngăn
chặn sự hiếu chiến của Trung Quốc. Khả năng Trung Quốc
thách thức sự can thiệp của Mỹ nhằm bảo vệ lợi ích an
ninh khu vực là sự thay đổi trò chơi nghiêm trọng, trong đó
Trung Quốc tỏ ra như một "cường quốc bất mãn" có khuynh
hướng bá quyền bất chấp việc nước này luôn lớn tiếng
tuyên bố về "sự trỗi dậy hoà bình" mang đặc sắc Trung
Quốc.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10490), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét