không tuân giữ các cam kết cũng là một trong các thói xấu mà
người Việt mình mắc phải. Các chính trị gia thời chế độ
Cộng Hoà ở Miền Nam ưa thất hứa vì tình trạng bầu bán lúc
đó, tuy có dân chủ nhưng chưa dân chủ đúng mức, cho nên cử
tri khó có dịp để trừng phạt họ bằng lá phiếu. Chính
quyền Cộng sản bây giờ tại Việt Nam thì hoàn toàn không hề
bận tâm đến chuyện phải giũ lời hứa với ai, vì có cử tri
nào có thực quyền hạ bệ họ đâu mà họ phải ngán? Chuyện
nuốt lời hứa của Cộng Sản đã nổi bật ngay sau khi họ
"giải phóng" được Miền Nam và đưa hằng trăm ngàn quân nhân,
viên chức, thành viên các đảng phái đối nghịch với họ đi
"học tập cải tạo" từ 1 tháng tới 10 ngày. Các con số 1
tháng hay 10 ngày này sau cùng đã biến thành 5 năm, 10 năm, 15
năm hay lâu hơn nữa, bởi vì toàn thể Miền Nam Việt Nam đã
bị nhà cầm quyền Hà Nội trắng trợn lường gạt ngay trong
"cái thuở ban đầu lưu luyến ấy" (22) của cuộc "hoà hợp,
hoà giải dân tộc" mà họ đã không ngừng cổ võ và cam kết
để phía bên kia nhẹ dạ nghe theo mà buông súng đầu hàng cho
lẹ.
Trên đây mới chỉ là 18 trong vô số những thói xấu mà
người Việt ở trong cũng như ngoài nước hiện đang mắc
phải. Có thể một số quý vị sẽ cảm thấy bàng hoàng vì
không tin là cái dân tộc của chính mình mà lại mang nhiều
khuyết điểm trong đạo đức làm người đến như vậy. Ðể
quý vị có thêm cơ sở, người viết xin đưa ra một số nguyên
do đã đưa đẩy con người Việt Nam, bằng máu và thịt, ở
trong cũng như ngoài nước, đến cuộc khủng hoảng đạo đức
và xã hội như hiện nay: Vì nội chiến và ngoại xâm liên miên
trong suốt chiều dài của lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn
luôn phải đặt mình trong tình trạng nghi ngờ, giận dữ và
thù hằn. Cái đạo đức của một dân tộc hiếu hoà như bất
cứ dân tộc nhỏ bé nào đó trên một hải đảo Thái Bình
Dương nào đó thiệt khó có cơ hội phát triển trong dân tộc
mình. Ðiều này cũng tương tự như hoàn cảnh cuả một đứa
bé phải sống trong bối cảnh một gia đình đầy những sự
lạm dụng (abuse) và bạo lực (violence). Do lâm trận hoài trong
chiến tranh, người Việt Nam có thể là những chiến sĩ tài
giỏi nhứt thế giới, nhưng đồng thời cũng có thể là những
con người ít thuần tánh nhứt và dữ dằn nhứt. Cứ xem cung
cách quân ta hành xử với người Chàm trước đây hay người
Miên sau này (mà sử sách còn ghi lại) thì đủ biết. Ðiều
này cũng có thể giải thích phần nào sự tàn ác mà Cộng sản
vẫn thường dành cho các tù binh trong tay họ, cho dẫu đó là
người (Miền Nam) đồng chủng tộc với họ hay người Mỹ dị
chủng, mũi lỏ, mắt xanh.
a. Chiến tranh triền miên và tiêu hao, cộng thêm với những năm
tháng bị xích xiềng nô lệ vừa làm cho người Việt Nam bị
phân hoá (dân Bắc kỳ, dân Trung kỳ, dân Nam kỳ; Quảng Nam hay
cãi, Quảng Ngãi hay lo, Bình Ðịnh so đo, Thừa Thiên đớp
hết...) vừa làm cho quyền lực của chính quyền trung ương khó
tới được các địa phương và tạo ra tình trạng phép vua thua
lệ làng như đã nói, một tình trạng thiệt chẳng hay ho gì
nếu ta xét về mặt quyền lợi quốc gia, vì nó đẻ ra tệ
nạn sứ quân (thời tiền Ðinh) và tỉnh uỷ (thời Cộng Sản).
Ðiều này cũng giải thích tại sao dân tộc Việt Nam là một
trong các dân tộc ít được chính quyền (do họ bầu lên hoặc
không) chăm lo, phục vụ nhứt trong lịch sử nhân loại. Mối
quan hệ dễ thấy nhứt giữa nhà nước và nhân dân ở Việt
Nam là bên này chỉ chăm chú bắt bên kia phải đóng thuế và
đi lính cho mình, chớ bên này chẳng hề phải lo lắng, phục
vụ cho bên kia như quan hệ giữa chính quyền và dân chúng tại
các nước khác trên thế giới mà người Việt hải ngoại đã
may mắn có dịp nhìn thấy và học hỏi.
b. Chiến tranh và "đổi đời" liên tiếp cũng tạo nên trong tâm
lý người Việt Nam những điều thái quá không hay khác như
không cha không chúa, hoài nghi, lo lắng, tích luỹ, dễ bạo
động, không khoan nhượng và tha thứ, nhẫn tâm, chai đá, sống
cuồng sống vội, vá víu, cục bộ, tuỳ tiện, bội bạc, tham
lam, hỗn quân hỗn quan, vô luật pháp, vô đạo đức... Ðọc
lại lịch sử đất nước, các vua, chuá ta một khi đã chiến
thắng kẻ khác thường không mấy khi hành xử cho cao thượng
mà chỉ lo trả thù, đôi khi khá hèn hạ. Họ cứ làm như là
không hề biết tới cái đạo lý của các hiệp sĩ từ Ðông
sang Tây là ôkhông đánh kẻ ngã ngựa. Ðiều này giải thích
tại sao Cộng Sản Việt Nam đã công khai hành hạ và ngấm
ngầm giết hại hằng trăm ngàn tù nhân chính trị Việt Nam
Cộng Hoà qua chính sách giả nhân giả nghĩa "học tập cải
tạo" mà họ luôn mồm huênh hoang là "khoan hồng nhân đạo"
(nhứt thế giới!) Quý vị hẳn cũng thừa biết, về phiá dân
tộc Mỹ, với chỉ có 200 năm văn hiến, kẻ thắng (phe Miền
Bắc) đã đối xử ra sao với người bại (phe Miền Nam) sau
cuộc Nội Chiến 1861-1865.
c. Xét riêng về Miền Nam Việt Nam, nền đạo lý dân tộc cũng
đã suy sụp theo thời gian và tuỳ vận nước nổi trôi. Thời
Ðệ Nhứt Cộng Hoà, chính quyền của Tổng Thống Ngô Ðình
Diệm, tuy bị người đời (và nhứt là người Mỹ) gán cho là
gia đình trị và đàn áp tôn giáo, vẫn có cái thanh bình, an
lạc và kỷ cương của nó mà suốt quãng đời còn lại sau này
dân chúng Miền Nam Việt Nam không còn tìm thấy đâu nữa. Thời
Ðảo Chánh và Tướng Lãnh cầm quyền, đạo đức bắt đầu
đi xuống và hỗn loạn đã thấy ló mầm với hơn nưả triệu
binh lính Mỹ tràn vào các thành thị và thôn làng Việt Nam, (cho
dẫu với sứ mạng cứu viện đồng minh). Thời Ðệ Nhị Cộng
Hoà, khi mãnh lực cuả đồng đô-la Mỹ bắt đầu lấn áp nền
luân lý khắc kỷ á Ðông -vẫn còn đâu đó ở Nam Việt Nam sau
cơn hỗn quân, hỗn quan- các tệ nạn như tham tài bội nghĩa,
giàu bỏ bạn, sang bỏ vợ, vật giá leo thang, bợ đít quan
thầy, đĩ điếm, ăn cắp (đồ Mỹ trước, đồ bạn sau rồi
tới đồ nhà), ăn chơi đua đòi, sống thác loạn... bắt đầu
hoành hành, gây đổ vỡ cho gia đình và làm rạn nứt giềng
mối quốc gia. Với cường độ tham nhũng gia tăng theo đà
chiến tranh tàn khốc cộng với nạn khủng hoảng kinh tế
triền miên vì tiền viện trợ Mỹ, khi trồi, khi sụt (thời
Tổng Ngọc, thời Tiến sĩ Hảo, thời thuế trị giá gia tăng,
thời thuế kiệm ước...), luật pháp quốc gia và đạo đức
dân tộc coi như tụt giốc kinh hoàng. Nhưng cũng chưa đến
nỗi, vì vẫn còn có những gương sáng xa xa và lẻ loi như một
Thủ Tướng Trần Văn Hương liêm khiết, một nhà văn hoá Mai
Thọ Truyền tâm huyết cộng với nhứt Thắng, nhì Chinh, tam
Thanh, tứ Trưởng là bốn tướng sạch (và giỏi nữa) trong
Quân Ðội. Cho đến đời Cộng Sản thống trị thì vũ trụ
mới thiệt sự sụp đổ hoàn toàn trên đầu dân chúng Miền
Nam Việt Nam.
Ðể giải thích cho sự băng hoại và tan rã hoàn toàn cuả xã
hội Việt Nam hiện nay dưới ách thống trị mê muội và điên
cuồng của Cộng sản, chỉ cần xét tới các nguyên do sau:
Người bình dân Việt Nam, vốn không phải là những triết gia
có chiều sâu và những tín đồ có đức tin vững vàng, dễ có
khuynh hướng tin rằng Ông Trời không có thiệt hoặc không có
mắt, vì làm lành như Việt Nam Cộng Hoà lại bị Thế Giới
Tự Do và người bạn Ðồng minh Mỹ rủa sả và bỏ rơi, trong
khi làm ác như Cộng Sản vẫn không hề bị trừng phạt mà
lại còn được vinh thân phì da, thăng quan tiến chức, giàu có
bốn biển, năm thê bảy thiếp, kẻ hầu người hạ, tiền hô
hậu ủng, tiền rừng bạc biển, ăn trên ngồi trốc, miệng
hét ra lửa, tay chân nắm quyền, Việt kiều [vừa yêu nước
vừa] sợ sệt, tiền gởi Thụy Sĩ, con học Huê Kỳ... Hễ
Thượng Ðế (Ông Trời) đã chết thì con người được phép
làm mọi sự mà không sợ bị ai xét đoán, trừng phạt. (23)
Người Việt Nam ngày nay được tự do làm mọi điều thất
đức và đoản hậu vì, qua cuộc đổi đời vừa qua, lúc
người trung mắc nạn chẳng hề có tiên xuống phò gì cả. (24)
Hơn nữa, chủ trương cuả Cộng Sản là vô thần và bách hại
tôn giáo, nhưng, cho tới nay, chưa có vị thần thánh nào (mà
các tôn giáo vẫn cho là linh thiêng lắm) đủ quyền năng để
ra tay trừng phạt (bẻ cổ...) họ cho dân chúng mở mắt ra. Sự
thực thì chỉ có tôn giáo mới có thể cung ứng một thứ
luật pháp tối thượng và vĩnh cửu để chăn giữ người
đời làm lành, lánh dữ, cũng như chỉ có sự hiện hữu cuả
một Ðấng Chí Tôn mới củng cố được niềm tin cuả nhân
loại về tội ác và hình phạt và về ngày phán xét cuối
cùng. (25) Cứ xem cái gương của nước Mỹ: May mà tôn giáo (mà
đại diện là các nhà thờ) bên này vẫn còn mạnh chớ nếu
không thì luân thường đạo lý của dân Mỹ ngày nay đã đi
đong rồi (mặc dù hiện nay tiền bạc và tình dục đang ở
thế thượng phong, trên chưn đạo đức).
Tâm lý tuyệt vọng đã xô đẩy dân tộc Việt Nam tới chỗ
ngày càng xa rời đạo lý và tiến gần đến tội ác. Thông
thường, nếu một người có chút hy vọng vào cuộc sống thì
người đó, dẫu sao, vẫn e dè hay miễn cưỡng khi phải phạm
tội, vì họ vẫn còn hy vọng vào sự thưởng phạt trong đời.
Ngược lại, người tuyệt vọng có mọi lý do để biện minh
cho những hành động vô luân, ác đức của mình, bởi vì, theo
họ, trách nhiệm về mọi tội ác thuộc về kẻ khác, nhứt là
những kẻ đã làm cho đời hợ trở nên tuyệt vọng, mà trong
trường hợp này là những lãnh tụ Cộng sản bất tài và vô
đạo đức đang thống trị đất nước. Phần lớn dân chúng
Việt Nam hiện nay đều mang tâm lý tuyệt vọng, không hề tin
tưởng gì vào tương lai đất nước hay vào những mỹ từ như
tổ quốc, dân tộc, danh dự, trách nhiệm... mà mạnh ai nấy
tìm cách đưa gia đình, con cái mau mau chạy ra nước ngoài
(nhứt là sang Mỹ, dĩ nhiên rồi!) qua ngả chữa bệnh, du học,
hay theo các diện hôn phu, hôn thê, hôn phối... Và phần lớn
số người còn ở lại Việt Nam đều là những kẻ, hoặc
không có phương tiện hay cơ hội nào để bỏ nước ra đi,
hoặc là vì họ đang có thừa thế lực và tiền bạc để có
thể lợi dụng tình trạng tuyệt vọng của người khác mà
củng cố quyền hành và làm giàu thêm.
Nền giáo dục cuả Cộng Sản Việt Nam coi như sụp đổ hoàn
toàn vì tiền bạc cũng không để xây dựng trường, lớp và
nâng đỡ học sinh nghèo (vốn chiếm đại đa số trong tình
trạng kinh tế suy sụp hiện nay) mà tình nghĩa thầy trò cũng
mất rồi. Thiệt tình mà nói, hiện nay một số các tổ chức
tư nhân từ hải ngoại đang phải về Việt Nam lo xây dựng
trường, lớp cho con em đi học, bởi vì chính quyền Cộng sản
trong nước, có lẽ vì tham nhũng nhiều nên mập quá, tối ngày
chỉ biết nằm mà ăn thôi, chớ không sao đứng dậy nổi mà lo
cho dân nghèo (theo đúng đường lối mà Ðảng đã huênh hoang
từ năm 1932), cho dù dân nghèo đó lại chính là các em nhi
đồng cục cưng của "Bác Hồ kính yêu" thuở nào. Trong khi đó,
một số không nhỏ các giáo viên trong nước, nhân danh nghèo
đói, lại đang triển khai lề thói bắt học trò của mình
phải đóng tiền để học riêng tại nhà mình (viện cớ phải
kèm cặp thêm cho mau giỏi), nếu trò nào, nghèo quá, không đến
học nổi thì thường bị trù dập. Vả lại, các trường học
Cộng Sản không hề dạy cho trẻ em về đức dục, tức là
luân lý (như kiểu "luân lý giáo khoa thư" mà các cụ lưu vong
bên này vẫn ngày đêm nhớ thương, tiếc nuối) mà chỉ dạy
về chính trị, về lòng hận thù (giai cấp) và về lý thuyết
cộng sản, tức là một hình thức công dân giáo dục (civics)
nào đó. Ngay sau "giải phóng," một giáo viên Miền Bắc thuộc
loại con ông cháu cha vào dạy học ở các trường Miền Nam
Việt Nam đã phải thốt lên: Ôi! Sao mà học trò trong Nam này
lại lễ phép và học giỏi đến thế! Chả bù với học sinh
Miền Bắc (xã hội chủ nghĩa), vừa vô lễ lại vừa dốt như
bò! (26)
d. Chủ nghĩa vật chất, mãnh lực kim tiền và nếp sống thụ
hưởng kiểu Mỹ (mà Cộng Sản đã hoan hỉ rước vào như một
cứu tinh cho nền kinh tế thối rửa của họ) đang hoành hành
dữ dội tại Việt Nam nhờ có những đợt thăm viếng (điạ
đạo Củ Chi) của du khách ngoại quốc cùng với các chuyến
về thăm quê hương liên tiếp và gởi tiền về Việt Nam ồ
ạt của Việt kiều hải ngoại (mà số dách là Việt kiều từ
Mỹ, kế đến theo thứ tự là Ca-na-đa, Anh, Pháp, Bỉ, Hoà Lan,
Úc, ý, Ðức (bắt đầu hơi kẹo), Nhựt Bản (cũng hơi kẹo),
Nam Hàn (kẹo hơn chút nữa), rồi mới tới các lân bang, các
hải đảo Thái Bình Dương và Phi Châu). (27) Từ chỗ tranh
sống, những thành phần giàu có không mấy hợp pháp nhờ thời
thế hỗn mang hiện nay (như thành phần đảng viên, cán bộ
cộng sản, dân đầu cơ tích trữ, mánh mung...) lại đang tranh
sướng, tức là làm sao cho cuộc sống của cá nhân mình, gia
đình mình và phe đảng của mình ngày một tràn đầy khoái
lạc hơn, bất kể quốc gia hưng vong. Trong khi nội lực (đạo
đức làm người) thì không có, mà ngoại chưởng (đô-la và
nếp sống hưởng thụ) thì lại quá mạnh, hỏi làm sao dân
tộc Việt Nam chống nổi để khỏi bị trầm luân, băng hoại
và từ từ tiến đến chỗ diệt vong?
e. Sống gian lận, lừa đảo lâu thành quen, và thói xấu này
dần dần đi vào cõi vô thức của dân tộc, hay nói cách khác
là nhập tâm, tức là hội nhập vào tâm tình dân tộc. Tội
nghiệp cho dân Việt Nam thuộc thế hệ hiện nay ở chỗ là họ
không hề biết là mình đang ngày càng xa rời cỗi nguồn đạo
đức mà mới đời ông, đời cha của họ vẫn còn có đó. Hễ
vào làm việc nơi đâu thì phải lo ăn cắp thì giờ, nguyên
vật liệu và cả tiền bạc (khi có cơ hội thụt két) để
được no đủ, vì nhà nước hay xí nghiệp chỉ có thể cung
cấp cho họ đồng lương chết đói. Là dân buôn bán, cho dù là
bán thuốc Tây -trên nguyên tắc là để cứu nhân độ thế-
nhưng người ta vẫn phải áp dụng mọi thủ đoạn lường gạt
khách hàng mới mong giàu có. Câu chuyện ngụ ngôn về đạo
đức nhan đề Cái Cân Thuỷ Ngân mà ngày xưa vẫn thấy đem
giảng dạy tại các học đường để cảnh giác con người
phải làm ăn và sống cho lương thiện thì ngày nay không hề
được nhắc nhở đến. Ngày xưa thì chỉ có Hoa kiều Chợ
Lớn chuyên làm đồ giả mạo để tranh thương, ngày nay người
Việt mình dường như đã trở thành sư phụ trong những ngón
nghề làm đồ giả để lường gạt đồng bào mình. (Chớ đem
bán ra nước ngoài, ai mà thèm mua?)
Trong nước, vì có nạn Cộng sản, mới đành phải ra nông
nỗi. Nhưng tại sao bản chất của người Việt định cư tại
các nước văn minh ở hải ngoại lại cũng vẫn không khá hơn
"khúc ruột quê nhà"của mình về mặt đạo đức? Xin thưa:
Một học giả người Pháp mà người viết bài này không nhớ
rõ tên, khi viết về dân tộc Việt Nam, có ngỏ ý khen rằng
người Việt Nam có biệt tài hấp thụ và đồng hoá những cái
hay, cái đẹp của các nền văn minh thế giới do tình cờ lịch
sử được mang đến Việt Nam. Thiệt ra thì ông đã quá khen.
Người mình quả có tài đó, nhưng lại chỉ hấp thụ những
cái dở, cái xấu của nước người để làm thành sản phẩm
của mình, vì cái dở, cái xấu lúc nào cũng dễ nuốt hơn là
cái hay, cái đẹp vốn đòi hỏi nhiều hy sinh, khắc kỷ mà con
người nói chung khó có thể có được. (28) Ngoại trừ thế
hệ trẻ của người Việt hải ngoại được sinh ra, lớn lên
và được giáo dục y hệt như người bản xứ, các thế hệ
phụ huynh đi trước dễ có khuynh hướng hấp thụ những cái
xấu của nước người, mà trước hết là thói hưởng thụ.
Khi cái chủ trương hưởng thụ nơi người Việt từng bỏ
nước ra đi vì lý tưởng Tự do mà gia tăng thì phải biết
rằng họ đang ngày càng xa rời lý tưởng Tự do và cội nguồn
đạo đức cuả dân tộc, vì họ không còn tâm trí và thì giờ
đâu mà tranh đấu cho Tự do nữa! Rồi từ đó sinh ra bệnh
trục lợi (hay nhân danh một lý tưởng nào đó đặng lạc
quyên mà làm giàu cho mình), tranh giành, lường gạt và khoe
khoang thành tích là những tai họa đang liên tục giáng vào tình
đoàn kết trong các cộng đồng người Việt hải ngoại.
Mang nặng nhiều mặc cảm cuả kẻ chiến bại khi đặt chân
đến xứ người để tiếp tục cuộc sống lưu vong, những
người Việt Nam từng gắn bó với Việt Nam Cộng Hoà thuở
xưa, nhứt là những người có ít nhiều trách nhiệm trong
Chiến Tranh Việt Nam, dễ có khuynh hướng chạy tội bằng cách
đổ lỗi cho nhau, rõ nét nhất là qua hằng loạt hồi ký do các
cựu tướng lãnh viết về cuộc đảo chánh Tổng Thống Diệm,
về cuộc chiến đấu chống Cộng không thành sau đó, về vai
trò và trách nhiệm của họ, vân vân và vân vân. Rất ít
người có can đảm và đủ khẳng khái tự nhìn nhận là "tôi
làm tôi mất nước," (29) trong khi đó một số nhà lãnh đạo
trước đây của Miền Nam Việt Nam lại còn mơ hồ nghĩ tới
chuyện Cộng sản có thể triệu vời họ về cho một giải
pháp hậu hoà hợp hoà giải dân tộc nào đó! Những vị này
thường lợi dụng những cuộc họp mặt với bạn bè và thuộc
hạ xưa để nay thả ra một quả bóng, mai gióng lên một tiếng
chuông thăm dò đặng chào mời sự ủng hộ của đồng hương,
nhưng thường thì chỉ nhận được những lời phản đối,
chỉ trích, châm biếm chua cay, có khi còn có tính cách xúc phạm
nữa. (30) Ngược lại, một số không nhỏ khác lại trở nên
tiêu cực vì không còn được hưởng những đặc quyền, đặc
lợi, lên voi xuống chó như ngày xưa. Có khi, vì quá tiêu cực,
họ đâm ra phân biệt kẻ chạy trước với người chạy sau,
kẻ ở tù Cộng sản với người bỏ nhiệm sở chạy ra nước
ngoài sớm. Ðó cũng chính là mầm mống gây chia rẽ, bất an âm
ỉ khôn nguôi trong cộng đồng nguòi Việt tỵ nạn ở hải
ngoại hiện nay.
Nhờ được hưởng các quyền tự do rộng rãi nơi những đất
nước thiệt sự dân chủ, nhiều người Việt lưu vong đâm ra
quá trớn trong những lời chỉ trích và luận tội những
người không cùng ý kiến với mình mà, oái oăm thay, phần lớn
lại là các chiến hữu cũ của mình. Thông qua tự do báo chí
và nhờ vào chi phí in ấn khá rẻ tại hải ngoại, có tới
hằng ngàn tờ báo Việt ngữ đang lưu hành trên khắp thế
giới tự do. (ở đây không nói tới sách vở với hàng ngàn
hồi ký, truyện ngắn, truyện dài, khảo luận, diễn từ... mà
phần nhiều là được viết tuỳ hứng chớ không dựa theo một
phương pháp hẳn hoi.) Ðiều đáng buồn là chỉ có một số
rất ít trong các tờ báo này làm đúng thiên chức thông tin,
nghị luận hay văn hoá, còn phần nhiều chỉ chuyên chửi bới
nhau, có khi còn lôi cả tông chi, họ hàng đối thủ ra mà
chửi. (31) Bởi vì, như người ta thường nói, xem văn, biết
người, chúng ta chỉ cần xem cung cách người Việt Nam mình (dĩ
nhiên là người ở hải ngoại, chớ trong nước hiện nay thì
làm gì có tự do ngôn luận mà đòi cầm bút) viết lách ra làm
sao thì cũng có thể thấy được không những là trình độ
học vấn mà còn cả đạo đức làm người của họ nữa.
Kiến thức và đạo đức vẫn là hai điều kiện không thể
thiếu của một người cầm bút trong ý nghĩa là làm văn hoá,
dù ở bất cứ nơi đâu và trong bất cứ thời đại nào.
f. Một số đáng kể những người Việt lưu vong, do bất đắc
dĩ phải tiếp xúc lâu dài với môi trường mới đầy những
luận điệu tuyên truyền xảo trá tại quê nhà trước khi ra
hải ngoại, đã bị nhiễm những tánh xấu của Cộng sản hồi
nào không hay. Một trong các tánh đó là óc tự hào dân tộc
thái quá đến độ cuồng tín, bất chấp sự thực là khả
năng của mình không có là bao nhiêu. Chẳng hạn, khi có ai nêu
lên một sự thực (đau lòng) rằng trong cuộc chiến tranh vừa
qua, Miền Nam Việt Nam không có tài nguyên nào đáng kể để
đánh Cộng sản mà chỉ dựa vào viện trợ Mỹ cấp cho mình do
nhu cầu Chiến Tranh Việt Nam mà Mỹ là kẻ chủ chốt thì lập
tức thế nào cũng có một vài người giận dữ phản đối, cho
nhận xét đó là không ôyêu nướcọ và sai sự thực. Họ lý
luận rằng ta có nhân sự, và nhân sự đó chính là vốn quý
của ta. Nghe như âm hưởng đâu đây của một bài học chính
trị căn bản mà Cộng sản đã đem ra dạy cho dân chúng Miền
Nam Việt Nam sau ngày giải phóng: Ðất nước ta giàu đẹp, dân
tộc ta anh hùng... (32) Họ quên rằng nếu ta thiệt sự có khả
năng (vật chất) thì cho dù Mỹ có bỏ rơi ta bằng cách cúp
viện trợ thì cũng mặc xác họ, mắc mớ gì mà ta phải thua
chạy vất vả đến như vậy? Chỉ vì quá tự hào với tiềm
năng vu vơ của mình đến độ kiêu căng chưa từng thấy mà
Cộng sản đã xô đẩy dân tộc Việt Nam đến chỗ nghèo hèn
cùng cực như hiện nay.
g. Người ở hải ngoại, nhứt là những người đã lớn tuổi,
dẫu sao khi rời bỏ đất nước ra đi cũng đã mang theo một
số tánh xấu căn bản cuả dân tộc, để rồi khi sang đây cứ
thế mà phát huy: chia rẻ, khích bác lẫn nhau, thích làm lãnh
tụ, không lo viết lách cho ra hồn mà chỉ lo chửi bới, loè
bịp bạn bè nơi xứ lạ (bằng nhà lầu, xe hơi trả góp), loè
bịp người trong nước đang nghèo túng (bằng những chuyến áo
gấm về làng vung tiền qua cửa sổ)... Một số, nhờ vào lệnh
cấm vận kinh tế trước đây của Mỹ chống Cộng sản Việt
Nam, đã dùng những chuyến du lịch về thăm quê nhà của mình
để buôn bán hay chuyển tiền lậu, không ít thì nhiều cũng
làm giàu cho cán bộ, viên chức Cộng sản trong nước. Có
người, vì quá tha thiết với chuyện về Việt Nam, đã không
dám tỏ thái độ nào với những vi phạm nhân quyền hay bách
hại tôn giáo của Cộng sản trong nước, lơ là trong các sinh
hoạt chống Cộng ở hải ngoại, miễn sao khỏi bị Cộng sản
nằm vùng ghi sổ đen rồi trả thù khi họ lơn tơn xách gói về
Việt Nam mà thôi. Lại có kẻ ráng sức bình sanh làm ra các
sản phẩm văn nghệ sao cho thiệt hợp gu với Cộng sản bên
nhà, với hy vọng nới rộng thị trường làm ăn, buôn bán với
Cộng sản sau này, cho dù, để làm chuyện đó, họ đã phải
nhẫn tâm phản bội tình chiến hữu năm xưa và chà đạp lên
sự thực, trong đó có sự thực về cuộc Chiến Tranh Việt Nam
vừa qua. (33)
Sự hoành hành của các thói xấu kinh niên này tưởng cũng đủ
để giải thích tại sao Việt Nam ta ngày nay đang rơi vào hố
sâu của sự nghèo nàn lạc hậu, chia rẻ và nghi kỵ lẫn nhau
đời đời không nhạt phai, cho dù chúng ta có trốn chạy đến
góc biển, chân trời nào đi nữa. Và nếu đà nầy cứ thế
tiếp diễn, dân tộc Việt Nam sẽ tự mình đi vào chỗ diệt
vong bên cạnh ông láng giềng Trung Hoa khổng lồ đang ngày càng
bành trướng thế lực sang các lân bang nhỏ bé hơn như Hàn
Quốc, Việt Nam, Lào, Căm-Bốt, Thái Lan, Miến Ðiện và Nê-pan.
Khi cảnh giác mọi người về những thói hư, tật xấu này
của người Việt Nam, người viết không hề có ý định bôi
lọ dân tộc mình -như những thiên tài chụp mũ trong cộng
đồng mình vẫn nghĩ- mà chỉ muốn gióng lên một tiếng chuông
cảnh tĩnh cho tất cả những ai đang ngủ mê trong giấc mộng
vàng son rằng người Việt chúng ta quá tài hoa, quá đức độ,
để rồi lại uất ức, tức tưởi sao vận nước -mà Mặt
Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam trước đây thường ca cẩm
là "đã đến rồi" -(34) vẫn cứ còn lao đao ghê gớm, dân tộc
mình vẫn còn trầm luân, khổ ải như vậy. Sự thật thì
người mình cũng chẳng có tài cán là bao so với các dân tộc
bạn như Trung Hoa, Ðại Hàn, Ấn Ðộ, và nhứt là Nhựt Bản.
Vài ba cái thành công lẻ tẻ trên đường học vấn hay trong
kinh doanh nhỏ mà mình luôn hãnh diện kia không nói lên được
cái gì đáng chú ý. (35) Ðó là chưa nói tới sự kiện là hầu
hết những kẻ thành công này -hiện không còn mang quốc tịch
Việt Nam nữa cho dẫu khi về thăm quê hương họ có thiệt sự
được Cộng sản ban cho quy chế song tịch (Việt-Mỹ đề
huề)- sau cùng cũng chỉ dốc tâm phục vụ cho xứ sở mới
của họ chớ không mấy khi cho đất nước Việt Nam. Chỉ có
những thói hư, tật xấu có tính cách tổ tông truyền đó là
còn ở mãi trong ta như là một di sản dân tộc không thể tách
rời, và chính vì thế mà nó đã tác hại tới tương lai dân
tộc Việt Nam rất nhiều. (36) Dám xin các bậc thức giả và
quý vị có chút công tâm hãy giúp soi sáng đồng hương về
những gì tốt đẹp mình đáng nên hãnh diện và những gì
chẳng hay ho mình nên biết tự lấy làm xấu hổ mà sớm từ
bỏ. Thiết tưởng, bên cạnh lòng tự hào về dân tộc, chúng
ta cần phải nhìn ra những nhược điểm, những thói hư, tật
xấu của mình. Thái độ vô tư, khách quan trong việc phê phán,
đánh giá là cần thiết để nhận diện lại mình ngỏ hầu
đưa đến một phản tỉnh chân thành. Bởi vì có nhìn rõ
được mình và có tự biết mình chúng ta mới tự sửa đổi
được để tiến lên Chân, Thiện, Mỹ. Trên thực tế, phải tu
thân trước đã rồi mới mong tính tới chuyện tề gia, trị
quốc và bình thiên hạ. (37) Ðức Khổng Tử có nói: Người
quân tử hễ biết điều lỗi thì sửa đổi nhanh như gió.
Thiệt là xót xa khi toàn bộ vận mệnh đất nước Việt Nam
ngày nay lại tuỳ thuộc vào ý thức về câu nói trên, tức là
vào thành tâm, thiện chí sửa đổi bước đường sai trái mà,
vì bệnh ngoan cố kéo dài từ hơn nửa thế kỷ qua, những
người Cộng sản đã dùng bạo lực cưỡng ép dân tộc phải
đi theo. Người viết bài này ước mong rằng người Việt chúng
ta khắp nơi sẽ sớm tìm dịp thuận tiện để nhìn lại mình
trong gương, sửa đổi bớt những điều sai trái kia, bớt tự
hào xằng bậy đi, bớt kiêu căng đi, bớt nghi kỵ đi, bớt
chấp nhứt đi, bớt chửi bới nhau đi, để rồi cùng nhau bắt
tay tìm một lối ra hợp lý cho đất nước, ngỏ hầu đem lại
hạnh phúc, ấm no cho hằng triệu đồng bào giờ đây còn
"điêu linh nơi quê nhà đang chìm đắm." (38) Chỉ có lúc đó
Việt Nam mình mới có hy vọng tiến lên theo kịp đà tiến hoá
chung của nhân loại trong thiên niên kỷ tới.
Phan Nhật Nam
Ghi chú:
Nếu quả dân tộc Việt Nam ta có đầy đủ những đức tính
quí báu hơn hẳn người gấp bội như yêu nước, yêu người,
anh hùng bất khuất, trung hậu đảm đang, cần cù chịu khó
vượt bực, thông minh, tài trí, lanh lợi, kiên trì... thì sao
lịch sử lại lắm tang thương và đến nay tình trạng sa đọa,
phân hoá hầu như không thể nào chữa trị được? Và đối
chiếu với thế giới, thực trạng đất nước càng bi đát,
thua sút hẳn một đôi dân tộc mà lịch sử không lắm oai hùng
như Việt Nam. Nguyễn Thuỳ & Trần Minh Xuân, Tinh Thần Việt Nam,
Mekong-Tỵnạn, 1991.
(1) Nguyễn Gia Kiểng, một thành viên cuả Nhóm Thông Luận tại
Paris, Pháp Quốc, trong một bài báo nhan đề Phải chăng nhân
vật Nguyễn Huệ qua lịch sử đã được tôn vinh quá lố?
đăng trên Ngày Nay Minnesota ngày 31 tháng Mười, 1997, đã đặt
lại vấn đề công lao và thành tích của Vua Quang Trung trong
lịch sử, tỏ dấu hoài nghi rằng sử sách Việt Nam, nhứt là
Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, đã thổi phồng quá
lố uy danh và đảm lược cuả Quang Trung Ðại Ðế, một trong
những vị anh hùng dân tộc vĩ đại nhứt và được tôn thờ
nhứt qua bao triều đại và chế độ chính trị tại Việt Nam.
(2) Cựu Thiếu Tướng Ðỗ Mậu cuả Việt Nam Cộng Hoà, người
giúp phe quân nhân lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hồi
năm 1963, viết quyển Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, một
hồi ký cho hay tại sao ông phản bội vị đỡ đầu tinh thần
trước đây của mình là Tổng Thống Diệm để đứng về phe
đảo chánh do Tướng Dương Văn Minh cầm đầu. Phe đảo chánh
đã giết vị tổng thống và bào đệ của ông rồi lên cầm
quyền tại Miền Nam Việt Nam. Các Tướng Trần Văn Ðôn,
Nguyễn Chánh Thi và, gần đây nhứt, Tôn Thất Ðính cũng viết
hồi ký về cuộc đời binh nghiệp và những đóng góp của
mình vào đất nước mà các vị đó đã giúp cho bại trận.
(3) Nhiều người, sau khi từ Việt Nam trở về, đã giúp quảng
cáo cho du lịch Việt Nam. Có người đã viết cả những bài
báo dài khen ngợi những đổi mới tại Cộng Sản Việt Nam
ngày nay, với ngụ ý rằng Việt kiều hải ngoại nên thử về
thăm đất nước một phen. Tất cả những việc làm này đều
nhân danh tổ quốc và dân tộc.
(4) Xin xem Việt Nam Văn Hoá Sử Cương của Ðào Duy Anh và Việt
Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim.
(5) Ðối với người Mỹ, các công trình sau khi tốt nghiệp
đại học thiệt đáng kể, vì họ không dừng lại ở mảnh
bằng kiếm được mà đánh giá cao những phát minh, nghiên cứu
hoặc sáng tác cuả người mang bằng cấp đó. Sinh viên các
nước khác đến du học tại xứ này lấy được bằng cấp
xong thường về xứ làm quan to, và coi như thoả mãn với thành
tựu khoa bảng của mình.
(6) Tổng Giám Mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, trong một
bài giảng nhan đề Thập Ðại Bịnh đăng trên Tập san Dấn
Thân, tháng 5 & 6, 1999, gọi đó là bệnh phô trương chiến
thắng. Thập Ðại Bịnh là 10 thói hư tật xấu của người
Việt Nam mà theo tác giả thì nay đã biến thành những căn
bệnh hầu như hết thuốc chữa.
(7) Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận gọi đó là bệnh cá nhân
chủ nghĩa. (bđd).
(8) Theo Nguyễn Thuỳ & Trần Minh Xuân, Cộng Sản Việt Nam chủ
trương toàn dân phải kế thừa có phát triển nền văn minh
rực rỡ của Việt Nam mà tiền nhân đã để lại. Phê phán
chủ trương này, tác giả viết: Chủ trương rất đẹp, nhưng
họ [Cộng sản] lại tự hào chỉ có Ðảng và Nhà Nước Cộng
Sản, chỉ có nền văn học, văn nghệ ôhiện thực xã hội
chủ nghĩaọ mới phát triển được truyền thống dân tộc
một cách trung thực và tốt đẹp, ngoài ra không một ai khác.
(sđd).
(9) Cựu tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù cuả Quân Lực Việt Nam
Cộng Hoà, Tướng Lê Quang Lưỡng, trong một bài viết đăng
trên Ðặc san Hoa Dù Denver, 30 tháng Tư năm 1998, đặt nghi vấn
về ý đồ của vị tổng tư lệnh quân đội, Tổng Thống
Nguyễn Văn Thiệu, khi ông ra lệnh xé lẻ đại đơn vị vũ bão
hàng đầu này của quân lực ra từng lữ đoàn riêng rẻ trong
những ngày cuối cùng của cuộc chiến tại Việt Nam. Trước
đó, Ông Thiệu cũng đã ra lệnh buộc một đại đơn vị vũ
bão hàng đầu khác, Sư Ðoàn Thuỷ Quân Lục Chiến, phải cấp
tốc cùng với Biệt Ðộng Quân và bộ binh rút lui khỏi Vùng I
Chiến Thuật, làm cho sư đoàn này bị thiệt hại rất nặng vì
phải hứng chịu toàn bộ gánh nặng của một cuộc rút quân
không có chuẩn bị. Nhiều cấp chỉ huy TQLC từng vào sinh, ra
tử để tái chiếm và giữ vững từng tấc đất của vùng
giới tuyến khỏi tay Cộng sản trong Mùa Hè Ðỏ Lửa, 1972, đã
uất ức tự sát khi bị địch bao vây và phục kích.
(10) [Ðiều cần ghi nhận là Miền Nam Việt Nam đã không sụp
đổ chỉ vì những hành động có tính cách không ăn được
thì đạp đổ đó của cựu Tổng Thống Thiệu, mà vì chúng ta
đã bị đồng minh Mỹ bỏ rơi. Một khi Mỹ đã bỏ rơi rồi,
không ai -kể cả người anh hùng ôtận trung báo quốcọ Nguyễn
Khoa Nam- có thể giữ vững Miền Nam hay xoay chuyển tình thế
trong giờ phút đó, vì chúng ta đã quá tuỳ thuộc vào viện
trợ Mỹ. Vận nước đã đến hồi như vậy, cho nên mình cũng
khó trách cứ riêng ai được.]
(11) Nhiều người vẫn nghĩ rằng Tổng Thống Thiệu đã chơi
khăm Tướng Minh Lớn cho bỏ ghét, vì giữa khi cuộc chiến đang
khốc liệt và tinh thần quân dân Việt Nam Cộng Hoà có lúc
đang lên cao, vị cựu lãnh đạo cuộc đảo chánh lật đổ
Tổng Thống Diệm và cũng là lãnh tụ của cái gọi là thành
phần thứ ba tại Miền Nam Việt Nam (mà Cộng Sản ưa thích)
lại hô hào một giải pháp hoà bình, với chủ trương rằng
Việt Nam Cộng Hoà nên đơn phương ngưng chiến đấu mà tiếp
tục thương thuyết với Việt Cộng là phía luôn luôn áp dụng
chiến thuật vừa đánh vừa đàm trong suốt cuộc Chiến Tranh
Việt Nam. Dĩ nhiên là Tướng Minh đã quá tin vào phe Cộng Sản
nên mới chịu nhận trách nhiệm lãnh đạo Việt Nam Cộng Hoà
sau khi một trong những phòng tuyến cuối cùng của phe chính
phủ là Xuân Lộc, cách Sàigòn 70 cây số về hướng Ðông
Bắc, đã mất - hay nói cho đúng hơn là sau khi quân Cộng Sản,
mệt quá, đã bỏ không đánh Xuân Lộc nữa mà đi vòng về
phía Sàigòn.
(12) Xin xem When Hell Was In Session (Rớt Xuống Âm Ty) cuả Jeremiah
A. Denton, một Ðại tá Hải Quân Mỹ từng bị Cộng Sản Bắc
Việt bắt giam tại Nhà tù Hoả Lò Hà Nội sau khi phi cơ cuả
ông bị bắn rơi trên vùng trời Bắc Việt trong Chiến Tranh
Việt Nam. Nhà xuất bản Traditional Press, Alabama.
(13) Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận gọi đây là bệnh bè
phái chia rẽ. (bđd).
(14) Thành tựu lớn nhứt về kiến trúc của Việt Nam cổ xưa
là Thành Cổ Loa thời An Dương Vương Thục Phán mà nay đã bị
thời gian với bao lớp sóng phế hưng và binh lửa tàn phá. Các
tài liệu của Cộng Sản Việt Nam mô tả thành xây trên một
khu đất cao và rộng, diện tích 92 hec-ta, nằm trên tả ngạn
sông Hoàng Giang, gồm ba vòng thành theo hình xoáy trôn ốc. Chu vi
vòng ngoài 8km, vòng giữa 6,8km, vòng ba là 1,6km... Bề rộng chân
luỹ 20m, rộng 4m, cao 12m. Giữa hai vòng thành, nơi xa nhất 400m,
giữa các vòng thành có hào sâu có thể lưu thông bằng thuyền.
Mỗi luỹ có nhiều lối, nhiều ngõ thông nhau...
(15) Theo Trần Trọng Kim, người Việt Nam cũng có khi quỉ quyệt
và hay bài bác nhạo chế. (sđd).
(16) Trong Những Trận Ðánh Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt Nam,
1963-1975 (Nhà xuất bản Ðại Nam, Hoa Kỳ), tác giả Nguyễn
Ðức Phương, khi đề cập đến Trận An Lộc, đã không hề
nhắc nhở tới vai trò của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù là
một đơn vị vừa vô cùng thiện chiến vừa đầy tinh thần
cảm tử của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Nếu Biệt Cách Dù
không nhảy vào giải cứu An Lộc thì làm sao có được hai câu
thơ bất hủ vinh danh: An Lộc địa sử ghi chiến tích; Biệt
Cách Dù vị quốc vong thân? Nên nhớ là để soạn nên chương
này, tác giả đã tham khảo tất cả tới 32 quyển sách, báo
được liệt kê trong một thư mục dà ở cuối chương. Các
hồi ký hay tường thuật của phe ta về những trận đánh lớn
khác -như trận Quảng Trị chẳng hạn- cũng vấp phải lỗi
lầm tương tự tuỳ theo người viết thuộc màu áo, màu mũ
nào.
(17) Thiệt ra, từ lâu đã có Thuyết Việt Nho, một công trình
nghiên cứu hết sức khoa học và nghiêm túc do Giáo sư Kim
Ðịnh khởi xướng và thuyết minh qua 14 tác phẩm mà ông đã
viết. Ðại khái, tác giả cho rằng văn minh và văn hoá Việt
Nam có trước hay ít ra cũng đồng thời với văn minh và văn
hoá Trung Hoa, bởi vì giòng giống Việt (Bách Việt) từ phương
Bắc đã tiến vào Trung Hoa trước để lập nên các triều
đại cuả Vua Phục Hi, Thần Nông và Huỳnh Ðế. Sau đó Hoa
tộc (tức Hán tộc) tràn đến. Và sau trận đánh tại Trác
Lộc giữa Hoàng Ðế (lãnh đạo Hoa tộc) và Si Vưu (lãnh đạo
Viêm Việt tộc), Si Vưu chết nên giống Viêm Việt lùi bước
dần về phương Nam để trở thành người Việt Nam ngày nay.
Trong quyển Nguồn Gốc Văn Hoá Việt Nam, Giáo sư Kim Ðịnh
vạch rõ rằng Việt Nho chủ trương nhân chủ, dân quyền, bình
quyền, bình quyền nam nữ, quân bình tình lý hay là văn võ song
hành.
(18) Sử chép rằng đời Nhà Trần, sau những trận đánh Chiêm
Thành, quan quân Ðại Việt thường bắt đem về nước các cung
nga, vũ nữ cuả Chiêm Thành. Các đặc sứ văn hoá này đã
truyền bá nghệ thuật Chiêm Thành tại Việt Nam qua các vũ
điệu cung đình mà họ trình diễn, làm say mê ngây ngất triều
đình ta và làm cho ta phải lật đật bắt chước.
(19) Vào đúng lúc có Cuộc Ðấu Xảo Ba-lê, Phan Châu Trinh đã
gởi cho Vua Khải Ðịnh một bức thơ dài, đại khái ông hài
tội nhà vua là chỉ lo sống xa hoa, ưa xiểm nịnh và chuộng
sự quỳ lạy cho rõ mình là một đấng quân vương mà không
hề để ý đến phúc lợi của dân tộc Việt Nam lúc đó đang
nằm dưới ách đô hộ cuả thực dân Pháp. Bức thơ có tác
dụng như một gáo nước lạnh tạt vào mặt một vị hoàng
đế, mà vào thời đó nếu không phải là một nhà Tây học
được Hội Nhân Quyền Pháp hậu thuẫn triệt để như Phan
Châu Trinh thì không một sĩ phu Việt Nam đương thời nào dám
dỡn mặt.
(20) Nhiều người vẫn tin rằng dân tộc Việt Nam mình đặc
biệt có khả năng xâm thực và làm hư hỏng bất cứ học
thuyết đạo đức hay ý thức hệ chính trị nào được du
nhập vào Việt Nam, cho dù đó là đạo lý Khổng Mạnh, học
thuyết dân chủ Tây phương hay ý thức hệ Mác-xít Lê-nin-nít!
(21) Xin xem Vì sao tôi bỏ Quân Ðoàn I cuả cựu Tướng Ngô Quang
Trưởng, đăng trong Tạp chí Sóng Thần 1999, Kỷ Niệm 45 Năm
Thành Lập Thuỷ Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hoà.
(22) Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy, nghìn năm chưa dễ đã ai
quên. Thơ Thế Lữ.
(23) Hai triết gia vô thần Ðức của thế kỷ 19 là Feuerbach vả
Nietzsche lần lượt rao giảng tin dữ Thượng Ðế đã chết, và
mọi giá trị truyền thống của con người theo đó cũng chết
luôn. Hễ đã không có Thượng Ðế thì cuộc đời chẳng hề
có mục đích và ý nghĩa gì, và con người được phép làm
mọi sự mà y muốn.
(24) Ai cũng phải nhìn nhận rằng, qua cuộc xung đột tại Việt
Nam, Cộng Sản Việt Nam đã chứng tỏ họ thuộc loại tàn ác
nhứt, nhì thế giới, với thành tích thủ tiêu thiệt lẹ đối
thủ theo phương châm thà giết lầm hơn bỏ sót, pháo kích bừa
bãi vào các khu dân cư (chỉ vì các khu này tình cờ nằm gần
các căn cứ quân sự Mỹ hay Việt Nam Cộng Hoà), bắn giết dân
lành vô tội ngay trong lúc họ đang chạy trốn Thần Chiến Tranh
do chính họ thả ra, tạo nên những Ðại Lộ Kinh Hoàng và
Quốc Lộ Máu vang danh trong lịch sử. Nhưng vì sao Ông Trời
lại để cho họ chiến thắng? Tại sao Ông Trời lại bắt
những người cầm súng bảo vệ dân lành và tự do cho dân tộc
như các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà phải thua, phải
chết thảm? Nếu còn phải đợi tới "ngày phán xét cuối cùng"
lúc đó Ông Tròi mới chịu ra tay trừ bạo thì ai còn biết Ông
Trời ở đâu?
(25) Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu, nghĩa là Lưới Trời
lồng lộng, tuy thưa nhưng không ai có thể thoát ra được. ý
nói con người dù có thể thoát được luật pháp trần gian
(nhờ cướp được chính quyền nên khỏi bị thế gian trừng
trị) nhưng không thể thoát khỏi lưới Trời, bởi vì Thượng
Ðế chí công và đầy quyền năng sẽ trừng phạt những kẻ
gian ác, cho dù kẻ đó hiện đang cầm quyền sinh sát trong tay.
(26) Một giáo sư trường Cao Ðẳng Sư Phạm Sàigòn đã tâm sự
như vậy với các giáo sinh của mình về tình hình trường
trại và trình độ học vấn của học sinh Miền Bắc Việt Nam
từng là học sinh của bà trước đây.
(27) Người Việt Nam tại quê nhà hiện nay, có lẽ vì quá
thiếu thốn nhưng lại ham hưởng thụ vì cuộc đời tuyệt
vọng, luôn luôn đánh giá Việt kiều hải ngoại về thăm quê
hương qua cách chi tiền rộng hay hẹp của mấy người này.
Thương thay cho những Việt kiều nào tiền thì không có là bao
mà tình yêu quê hương đất nước thì dạt dào như biển
rộng, sông dài và đại dương bát ngát, chi tiền nhỏ giọt
như xê-rum phòng mổ nên mới bị người thương xỉa xói là
đồ Việt kiều kẹo kéo!
(28) Nguyễn Thuỳ & Trần Minh Xuân viết về khả năng hội nhập
các nền văn hoá nước ngoài của dân tộc Việt Nam như sau:
"Cái cốt tuỷ, tinh hoa cuả các thứ du nhập hầu như không có
đất tốt để thị hiện mà chỉ có cái phần đuôi cặn bã
của những thứ đó mới tung hoành ngang dọc trên mảnh đất
này [Việt Nam]. Tóm lại, chúng ta chạy theo cái đuôi cuả mọi
nền văn hoá bên ngoài mà không thực sự nắm bắt được cái
tinh lý ảo diệu của các luồng tư tưởng ngoại lai." (sđd).
(29) Tôi làm tôi mất nước, bút ký cuả Lê Văn Phúc. Nhà xuất
bản Ðại Nam, Hoa Kỳ.
(30) Cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ, trong một bài nói
chuyện trước các chiến hữu Không Quân của ông cách nay vài
năm tại Texas, đã hô hào một cuộc hợp tác chính trị với
Cộng Sản Việt Nam như là một cách thế để người Việt
trong và ngoài nước cùng nhau bắt tay kiến tạo quê hương.
Lời hô hào của vị cựu tướng Không Quân đã lập tức bị
những người Việt chống Cộng tại khắp nơi trên thế giới
phản đối kịch liệt, cho là đón gió trở cờ. Dường như
thời gian gần đây cựu Tướng Kỳ đã có những tiếp xúc
không chính thức với Hà Nội để mưu cầu một chỗ đứng
chính trị nào đó nơi quê nhà, vì vị cựu Tư Lệnh Không Quân
Việt Nam Cộng Hoà, người từng đem máy bay ra oanh tạc Bắc
Việt hồi 1965, coi như không làm nên được chuyện gì kể từ
khi qua sống lưu vong bên Mỹ. Có tin là một cựu tướng lãnh
khác cuả Miền Nam Việt Nam, Nguyễn Khánh, cũng đang thực hiện
những cuộc phiêu lưu chính trị tương tự. Cũng như ông Kỳ,
vị cựu tướng lãnh này vẫn tin rằng một ngày nào đó Cộng
Sản sẽ phải cần tới ông. Riêng cựu Tổng Thống Dương Văn
Minh thì đã công bố kế hoạch về sinh sống tại Việt Nam
với Cộng Sản. Vị cựu tướng bốn sao từng có công sát hại
một trong những địch thủ lợi hại nhứt của Cộng sản là
Tổng Thống Diệm của Miền Nam Việt Nam trong một cuộc đảo
chánh hồi năm 1963, nghĩ rằng mình đã lại có công đưa Việt
Nam Cộng Hoà vào chỗ đầu hàng không điều kiện quân Cộng
Sản Bắc Việt hồi tháng Tư năm 1975, tiết kiệm được nhiều
xương máu cho cả đôi bên trong cuộc chiến.
(31) Bà Hạnh Phước, Hoa Hậu Phu Nhơn Liệt Quốc Trong Vũ Trụ,
1995 (Mrs. All Nations Universal, 1995), Giám Ðốc Thẩm Mỹ Viện
Hạnh Phước tại Houston, Texas, vì lý do cạnh tranh nghề
nghiệp, đã bị một tờ báo Việt ngữ điạ phương chửi bới
liên tục. Vị chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ báo trịnh trọng
tuyên bố: "Chừng nào Bà Hạnh Phước còn thì tờ báo chúng
tôi vẫn còn," ý nói tờ báo này được sinh ra với sứ mạng
chửi Bà Hạnh Phước! Thiệt là: "Truyện Kiều còn thì tiếng
Việt hãy còn" (Phạm Quỳnh), và "Tôi chửi bới, vậy tôi hiện
hữu" (kiểu Descartes).
(32) Tất cả những trại "học tập cải tạo" tại Miền Nam
Việt Nam đều có một giáo trình 10 bài học chính trị cơ bản
cho sĩ quan, viên chức "ngụy" (tức chế độ Việt Nam Cộng Hoà
cũ), bắt đầu bằng Bài Số 1 "Ðất nước ta giàu đẹp, dân
tộc ta anh hùng". Các bài còn lại là về cuộc chiến đấu
chống Thực dân Pháp và Ðế quốc Mỹ, công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội, chính sách "khoan hồng nhân đạo" của Chính
phủ Cách mạng (Cộng sản) dành cho "nguỵ quân, nguỵ quyền"...
Trên lý thuyết, "cải tạo viên" học xong 10 bài này thì coi như
mãn khoá và được trả về nguyên quán. Nhưng vì 10 bài này có
xào tới, nấu lui cũng chỉ lâu khoảng hai tháng cho nên không
có ai được về, mà tất cả đều phải ở lại tiếp tục
"cải tạo lao động" cho đến khi "thật sự tiến bộ". "Cải
tạo lao động" tức là đi lao động khổ sai tại đồng ruộng
hay núi rừng. Muốn được coi là thật sự tiến bộ, cải tạo
viên phải ở lại trại tập trung từ ba đến năm hay mười
năm hay lâu hơn nữa, thường là tuỳ ở sức nặng của món
"nợ máu" đối với nhân dân (tức là Cộng sản) mà "cải tạo
viên" đã vay trong cuộc chiến.
(33) Xin xem Paris By Night 40, chủ đề Mẹ, cuả Nhà Thuý Nga Paris.
Giám đốc sản xuất là Tô Văn Lai; biên tập & giới thiệu
chương trình là Nguyễn Ngọc Ngạn.
(34) Ðoạn cuối bản quốc thiều nước Cộng Hoà Miền Nam
Việt Nam [Cộng Sản Nam Việt Nam] trước ngày bị chính đàn anh
Cộng Sản Bắc Việt yêu dấu của họ thủ tiêu: Vận nước
đã đến rồi, nguyện hy sinh đến cùng. Dựng xây non nước
sáng tươi muôn đời... Giải Phóng Miền Nam Hành Khúc.
(35) Nguyễn Thuỳ & Trần Minh Xuân: Chúng ta có thể có một đôi
cá nhân thông minh, xuất sắc, nhưng để tạo nên một cái
tiếng chứ trên thực tế không có một đóng góp nào đáng
giá. (sđd).
(36) Nguyễn Thuỳ & Trần Minh Xuân: "Kể không hết những thói
hư tật xấu của người Việt Nam. Ðến nay, những thói xấu
đó càng trở nên lộ liễu khiến cả thế giới phát sợ."
(sđd). Trên thực tế, tại hải ngoại đang có hiện tượng
chối phăng nguồn gốc Việt Nam khi nào có thể được, điễn
hình là một số người trong giới ca sĩ chuộng sĩ diện. Ca sĩ
hát tiếng Việt Nam gì mà hễ được hỏi tới nguồn gốc thì
cứ khai mình là người Tàu! Vì sao được sinh ra và lớn lên
tại Việt Nam, nói tiếng Việt Nam từ thuở mới lọt lòng mẹ,
và nhờ có người Việt Nam đổ máu ra trong chiến tranh mới
được quốc tế cho đi tỵ nạn mà lại không dám nhận mình
là người Việt Nam? Té ra là vì sợ. Mà điều gì làm cho mấy
người này phải sợ? Hỏi tức là trả lời.
(37) Khổng Tử: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.
Nghĩa là: Trước hết phải tu dưỡng tánh tình để trở thành
người có đạo đức. Sau đó mới tính tới chuyện quản lý
gia đình. Kế đó mới đem tài năng ra mà trị nước. Và sau
cùng, khi đất nước đã thịnh vượng, ta mới tính đến
chuyên mang lại an lạc, thanh bình cho tất cả mọi người trên
thế gìan.
(38) Lời nhạc trong Chuyến Ðò Vĩ Tuyến của Lam Phương.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10596), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét