Phạm Gia Minh - Mấy lời bàn về mô hình Trung Quốc: Thư ngỏ gửi GS Francis Fukuyama

Thưa Giáo sư,

1. Cuộc đối thoại mang tính luận chiến về mô hình Trung
quốc đề cập tới nhiều lĩnh vực như lịch sử, chính trị,
văn hóa, kinh tế, tôn giáo và minh triết giữa Giáo sư và ngài
Trương Duy Vi (Giáo sư Đại học Ngoại giao Geneva, đại học
Phúc Đán, Thượng Hải) được đăng tải trên tạp chí New
Perspective Quarterly, số mùa Thu 2011, quả thực đã thu hút
được sự quan tâm đặc biệt của công chúng tại Việt nam và
có lẽ trên toàn thế giới.

Không quan tâm sao được khi Trung Quốc đang trỗi dậy như một
thế lực toàn cầu còn Mỹ và Châu Âu thì đang phải chật
vật để vượt qua cơn khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh
tế. Đó đây đã có những giọng nói bi quan về mô hình tổ
chức xã hội đặt nền móng trên nhà nước pháp quyền, kinh
tế thị trường, xã hội dân sự mà Phương Tây vẫn hằng theo
đuổi và quảng bá. Đồng thời, mô hình Trung Quốc với nhiều
đặc trưng khác biệt với những giá trị Phương Tây đang
được một số quốc gia thế giới thứ ba tìm hiểu như một
định hướng phát triển thay thế.

Gíao sư đã công bằng khi nhận xét rằng "ở Phương Tây
người ta quen mô tả sự phát triển của các thể chế theo
những chuẩn mực của thực tiễn Châu Âu…". Và ngay cả Karl
Marx - người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản, do chưa có
nhiều dữ kiện về các nước Phương Đông nên trong tác phẩm
"Tư bản luận" của mình vẫn còn phải để ngỏ một
hướng tìm tòi quan trọng liên quan đến "phương thức sản
xuất kiểu Châu Á" (một số nhà nghiên cứu còn đặt tên là
"phương thức sản xuất nhà nước").

Hình thái xã hội này đã từng hiện hữu trên phần lớn lãnh
thổ của hành tinh chúng ta, nó trải dài từ Mỹ latinh (Inca,
Aztec, Maya), Bắc Phi (Ai Cập, Algerie), Trung Đông, Trung Á, Ấn
Độ, Trung Hoa và các quốc gia cận kề. Hình thái nêu trên có
những đặc điểm sau:

- Dạng sở hữu đặc biệt: không có tư hữu mà chỉ có
sở hữu công cộng. Sự thay đổi chính quyền đồng nghĩa với
sự thay đổi chủ sở hữu.

- Phương thức bóc lột đặc biệt: khác với chế độ
chiếm hữu nô lệ và chế độ nông nô, đây là chế độ nô
lệ toàn dân. Dân chúng bị bắt buộc lao động nặng nhọc
để xây dựng những công trình công cộng quy mô lớn (ví dụ
như đắp đê trị thủy sông Dương Tử, xây Vạn lý Trường
thành v.v…). Một hệ thống tự quản được thiết lập chặt
chẽ, đó là chế độ bạo hành của chính quyền được hỗ
trợ bởi quân đội, mật vụ và bộ máy hành chính cồng
kềnh.

- Vai trò đặc biệt của nhà nước: chủ sở hữu tối cao
về đất đai và là trung tâm của quyền lực toàn trị.

Nguyên nhân xuất hiện phương thức sản xuất kiểu Châu Á
nằm trong sự bảo toàn sở hữu kiểu công xã hay tập thể,
dạng này đã từng rất phổ biến ở nước Nga và nhiều
nước Châu Á v.v… trước đây. Cùng với thời gian, hình thức
sở hữu này không trở thành tư hữu, mà cuối cùng chuyển
biến sang sở hữu nhà nước với đại diện là bạo chúa
điều hành bằng bộ máy quyền lực. Dân chúng hoàn toàn lệ
thuộc vào nhà nước với tư cách là chủ sở hữu tối cao về
đất đai và đồng thời cũng là thể chế có chủ quyền chính
trị.[1]

Vì lẽ đó phương thức sản xuất kiểu Châu Á còn có tên
gọi là "phương thức sản xuất nhà nước" với đặc
trưng là: quyền lực chi phối xã hội chứ không phải là tư
liệu sản xuất như trong xã hội Phương Tây. Trong phương thức
sản xuất này, quyền lực đã biến những ai gắn liền với
nó, từ cấp thấp tới cấp cao thành những chủ nhân ông đích
thực đối với toàn bộ khối của cải xã hội.[2]

Cùng vào giai đoạn lịch sử đó trong lòng xã hội Hy-La cổ
đại ở Tây Âu dưới tác động hòa quyện (rất hiếm khi xảy
ra đồng thời) của những yếu tố văn hóa, địa lý, nhân
chủng, kinh tế và xã hội đã giúp hình thành nên một hình
thái phát triển kinh tế-xã hội và một nền hành chính rất
khác với Phương Đông. Trong hình thái này đã xuất hiện
quyền tư hữu được luật pháp bảo vệ và thị trường tự
do trao đổi hàng hóa không bị nhà nước chi phối. Cùng với
đó là các chủ sở hữu tài sản – những cá nhân có đủ
các quyền công dân mà Phương Đông chưa hề được biết
đến, dù chỉ là khái niệm.

Nguyên nhân của sự khác biệt giữa hai hình thái xã hội ở
Châu Âu và Châu Á có thể nằm trong những khác biệt về nhân
chủng (anthropology) và địa lý dẫn tới những nền kinh tế
khác nhau, những diễn tiến khác nhau về chính trị và tư
duy.[3] Người La Mã đã sớm biết tạo ra cho mình một nền
kinh tế đa dạng (nông nghiệp, thủ công nghiệp, khai thác
mỏ…) trong đó thương nghiệp nắm phần chủ chốt vì biết
lợi dụng sự giao thương giữa 3 châu lục Âu, Á, Phi. Nền kinh
tế đa dạng của La Mã luôn có những quyền lợi trái ngược
nhau, những tranh chấp đòi hỏi sự trọng tài của quyền lực
chính trị. Nhưng khi quyền lực chính trị trở thành trọng tài
thì đã mặc nhiên từ bỏ tính cách tuyệt đối của mình.
Muốn làm trọng tài phải đặt ra luật lệ phân minh. Luật La
Mã vẫn còn được áp dụng cho tới bây giờ và là nền móng
của mọi chế độ Pháp trị thời nay.

Địa Trung hải cũng là nơi giao lưu của mọi tư tưởng triết
học, khoa học, tôn giáo theo truyền thống đã có từ thời cổ
Hy Lạp. Trong số các tôn giáo có Ki Tô giáo từ Do Thái đến.
Ki Tô giáo đưa ra ý niệm chỉ có một đấng sáng tạo ra con
người và vạn vật vì vậy mọi chủng tộc, mọi con người
sinh ra đều bình đẳng. Ý tưởng về mọi người đều bình
đẳng trong mọi nền dân chủ Phương Tây cũng ở đạo này mà
ra.

Trái lại, người Hán trong 2000 năm chỉ biết bám chặt vào
nông nghiệp. Nông nghiệp cổ sơ cách đây 10.000 năm gọi là
nông nghiệp sinh nhai có mục đích là sản xuất đủ lương
thực cho chính gia đình của mỗi người nông dân. Nhờ sự
tiến bộ của công cụ lao động (ví dụ như lưỡi cày bằng
sắt) mà sản xuất nông nghiệp tăng trưởng tạo ra sản phẩm
dư thừa để trao đổi nên đã hình thành một nền kinh tế
nông nghiệp. Lúc đó quyền lực chính trị đã tự cho mình cái
quyền quản trị nền kinh tế đó. Đó là trường hợp của Ai
Cập cổ đại và Trung Hoa thời phong kiến nhà Chu.

Sau đó nhà Tần vẫn coi nông nghiệp là chủ chốt nhưng để
sự quản trị nông nghiệp được hữu hiệu hơn, một phần
cũng vì muốn nắm toàn quyền sở hữu đất đai ngày trước
nằm trong tay giới quý tộc, nhà Tần, và cả nhà Hán đã thay
thế chế độ phong kiến nhà Chu bằng chế độ trung ương tập
quyền.

Dưới chế độ này trong xã hội nông nghiệp Trung Quốc chỉ
có hai hạng người: <em>người làm ruộng</em> và <em>người cai
trị</em>. Người cai trị lại được tuyển lựa theo tiêu
chuẩn Khổng giáo đó là có năng lực điều hành nhất định
và phải tuyệt đối trung thành với quyền lực chính trị
(triều đình) để thay mặt triều đình chia ruộng đất, trị
thủy, thu thuế và duy trì trật tự.

Cũng vì trong xã hội chỉ có hai thành phần và người sản
xuất cũng là người tiêu thụ không có người trung gian, không
có sự mất cân bằng giữa sản xuất và phân phối nên xã
hội có vẻ ổn định.[3] Nhưng cũng vì vậy mà trong suốt hơn
hai nghìn năm xã hội Trung Quốc vẫn chỉ là một xã hội nông
nghiệp bất động, xơ cứng và thiếu hẳn động lực nội
tại cho sự "vượt rào" ra khỏi những cấu trúc đã quá
quen thuộc. Cho dù đã xảy ra bao lần thay đổi các triều đại
ở Trung Quốc nhưng kết cục, lại là sự tái hình thành những
cơ cấu và thể chế quản lý xã hội theo hình thái "phương
thức sản xuất nhà nước"- nơi mà quyền lực chi phối hết
thảy.

Trong lịch sử tồn tại của mình, Phương Đông không hề biết
đến một hình thái phát triển nào khác ngoài hình thái đã
nêu trên và cũng không thể dễ dàng chấp nhận con đường
của Phương Tây, ngoại trừ có sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ
bên ngoài.

Phải đợi cho tới khi chủ nghĩa tư bản Phương Tây với thể
chế nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường và xã hội
dân sự phát triển đến giai đoạn cần vươn ra chinh phục
thị trường thế giới cách đây 200-300 năm thì sự thâm nhập
của nó vào trong lòng xã hội Phương Đông mới thực sự là
khởi đầu cho một cuộc chuyển biến lớn lao trong cơ cấu xã
hội và hình thái nhà nước nơi đây. Quá trình này đối với
Phương Đông có ý nghĩa như một cuộc cách mạng xã hội vĩ
đại, nó đã diễn ra hàng trăm năm và gần như ngày nay vẫn
còn đang tiếp diễn. Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước công
nghiệp mới Á châu là những ví dụ thành công của quá trình
chuyển đổi này.[4]

Tuy nhiên tại nhiều quốc gia trên thế giới, ở những cấp
độ khác nhau, "phương thức sản xuất nhà nước" vẫn tồn
tại dưới những hình hài đã biến thể để thích ứng với
(hoặc chống đối lại) những thay đổi toàn cầu ngày càng
có xu hướng dân chủ và trí tuệ.

Nếu nói về vai trò của tôn giáo ở Trung Quốc thì có lẽ Will
Durant đã có nhận định tinh tế khi nói rằng: "đàn ông Trung
Hoa là con người có ít tinh thần tôn giáo nhất trong lịch sử
nhân loại; họ lo kiếm ăn trên cõi trần này, có khấn vái
thần thánh thì không phải để được lên thiên đường mà
để kiếm thêm tiền cho vợ con… Do đó người Trung Quốc
không cuồng nhiệt theo Hồi giáo, Ki Tô giáo hay Phật giáo vì
những tôn giáo ấy chỉ hứa cho họ lên thiên đường sau khi
chết, mà họ lại muốn được hạnh phúc ngay trên cõi trần
này… Sau 1000 năm Ki Tô giáo vào Trung Quốc cũng chỉ cải giáo
được có 1% dân chúng.[5] (Hiện nay ở Trung Quốc con số này
vào khoảng từ 1-4%, riêng ở Việt nam số người theo Ki Tô
giáo hiện nay vào khoảng từ 6-8 triệu người tức vào khoảng
7-9% dân số). Tuy nhiên đa số người Trung Quốc có tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên, Trời và các vị Thánh thần theo tinh thần
Khổng giáo.

Do ảnh hưởng sâu rộng và lâu đời của Khổng giáo – một
hệ thống những quy định về nghi lễ và chuẩn mực đạo
đức giúp điều chỉnh các mối quan hệ giữa người với
người trên trần thế, nhằm đạt được sự hài hòa, ổn
định trong xã hội nên các giá trị đạo đức luôn được
đề cao trong cuộc sống thường nhật và hệ thống chính trị
Trung Hoa. Đó là một đặc điểm nổi bật của nền văn hóa
các nước chịu ảnh hưởng Khổng giáo trong đó có Hàn Quốc,
Việt Nam, Singapore, Đài Loan và Nhật Bản.

2. Nhân đây xin có mấy ý kiến về những nhận định của GS
Trương Duy Vi (Zhang Weiwei ) về mô hình Trung Quốc.

Thứ nhất, đúng như GS Samuel Huntington đã nêu, giai đoạn có
tham nhũng cao thường trùng hợp với quá trình hiện đại hóa
nhanh chóng chủ yếu do chế độ điều hành và giám sát không
theo kịp sự tăng trưởng về tài sản và vốn. Tuy nhiên những
bất cập của chế độ điều hành và giám sát lại phát sinh
ra do hai loại nguyên nhân sau:

- Nguyên nhân "kỹ thuật" mang tính hiện tượng và
nhất thời, có tác động vô tình tạo ra những lỗ hổng về
pháp lý và cơ chế hoạt động. Đấu tranh với tham nhũng có
nguyên nhân "kỹ thuật" là khó khăn nhưng không phải là
không làm được nhờ nêu cao vai trò của truyền thông, xã hội
dân sự và hoàn thiện hệ thống luật pháp.

- Nguyên nhân "cấu trúc" mang tính bản chất của hệ
thống chính trị- kinh tế - xã hội, có xu hướng chủ động
sản sinh ra môi trường thuận lợi để tham nhũng phát triển.
Đấu tranh với tham nhũng có nguyên nhân này là vô cùng khó
khăn, ví như một câu ngạn ngữ của Việt nam là "bắt cóc
bỏ đĩa", đòi hỏi phải đại phẫu thuật cả hệ thống.

Trong một nền kinh tế dựa trên quyền lực thì tham nhũng là
hiện tượng phổ biến, nếu như không nói là bản chất của
hệ thống. Các quốc gia đi sau trong công nghiệp hóa, hiện
đại hóa mà lựa chọn mô hình dựa vào nhà nước đều phải
đối mặt với vấn nạn tham nhũng, tuy nhiên khả năng thoát
khỏi nạn tham nhũng sẽ phụ thuộc rất nhiều vào mức độ
xây dựng một nền kinh tế thị trường tự do lành mạnh trong
một xã hội dân sự với một nhà nước pháp quyền, có vị
thế độc lập và khách quan để làm trọng tài. Hiện tại,
có thể ở nhiều quốc gia nạn tham nhũng đang rất trầm trọng
(thậm chí hơn cả Trung Quốc) một phần do những nguyên nhân
"kỹ thuật" của hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện,
phần khác là do các khiếm khuyết mang tính "cấu trúc" của
các nền kinh tế dựa vào quyền lực. Tuy nhiên nếu nhìn về
trung và dài hạn thì rõ ràng Trung Quốc vẫn sẽ là một nền
kinh tế dựa vào nhà nước tức là dựa nhiều vào quyền lực
lớn nhất thế giới

Xin dẫn ra một vài ví dụ. Ở Trung Quốc, hệ thống thanh tra,
các ủy ban kiểm tra của đảng Cộng sản, tòa án vẫn điều
tra thường xuyên, cách chức và trừng phạt nghiêm khắc các
quan chức phạm tội một cách đều đặn nhưng việc chiếm
đoạt tài sản công vẫn diễn ra phổ biến vì hai lý do: <span
class="underlined-text">Một là</span>, theo mô hình cấp bậc hành
chính hiện nay thì chỉ có các quan chức chính quyền cấp cao
hơn mới có thể trừng phạt những người dưới quyền mà
không có chuyện ngược lại. Giải trình và chịu trách nhiệm
chỉ theo chiều từ dưới lên trên. Như thế hình phạt sẽ
phụ thuộc vào mối quan hệ cá nhân của người phạm tội
với quyền lực của người bảo hộ ở cấp cao hơn, thay vì
tính nghiêm trọng của tội phạm. Chính điều này đã làm
giảm mạnh hiệu quả của các biện pháp trừng phạt.

<span class="underlined-text">Hai là</span>, khó khăn thực sự bắt
nguồn từ việc không thể tách rời chính quyền với việc
quản lý các doanh nghiệp do di sản xã hội chủ nghĩa và cách
thức cải cách từng phần đã không cho chính quyền đóng vai
trò là một thực thể riêng rẽ để đạt được các mục
tiêu quản lý độc lập của mình.[7] Tình hình còn nguy ngập
hơn khi các doanh nghiệp cấu kết với quan chức trong chính
quyền để hình thành nên những "tập đoàn lợi ích" đã
và đang bắt làm con tin các chính sách quốc gia, và sau khi đã
bắt cóc chính sách công, lợi ích lớn thì bọn họ ôm lấy
còn cái giá phải trả thì chủ yếu do những người dân bình
thường gánh chịu. Ví dụ như tập đoàn lợi ích thủy điện,
bất động sản, sinh đẻ có kế hoạch, dầu khí, kinh tế
biển, sản xuất vũ khí...Các tập đoàn này không cần vận
tác trên tài nguyên kinh tế mà quan trọng hơn là dựa vào sự
bảo hộ về chính trị. Dự án đập thủy điện Tam Hiệp hay
đường sắt cao tốc vừa gây tai nạn là những minh họa
thuyết phục. Trong xã hội dân sự có hệ thống truyền thông
độc lập không bị chính quyền "uốn nắn" hay bịt miệng,
trả thù thì những mối liên kết kiểu "tập đoàn lợi
ích" này dễ trở thành đích ngắm của công luận và luật
pháp. Tóm lại, tham nhũng và tội phạm kinh tế ở Trung Quốc
phần lớn có nguyên nhân mang tính "cấu trúc".

Về vai trò của giai cấp trung lưu ở Trung Quốc có nhiều ý
kiến cho rằng tầng lớp này sẽ trở thành động lực thúc
đẩy tiến trình dân chủ hóa. Nhưng giai cấp trung lưu ở Trung
Quốc đã đủ lớn mạnh để làm sứ mạng đó chưa? Cuối năm
2010 tờ Japan Times đưa ra con số: giai cấp trung lưu chiếm 23%
dân số Trung Quốc, tức là khoảng 300 triệu người. Tại các
nước công nghiệp phát triển con số này chiếm khoảng 70%. Các
nhà nghiên cứu định nghĩa giai cấp trung lưu ở Trung Quốc là
những gia đình có thu nhập tính theo đầu người khoảng 1000
USD/ tháng. Với thu nhập đó thì họ đang sống rất vất vả
trong các thành phố như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, nơi
mà giá một căn hộ từ 200.000 tới 400.000 USD, tức là cao gấp
từ 30- 50 lần số lương một năm của một gia đình trung lưu.
Thị trường tiêu thụ ở Trung Quốc trong năm 2009 vào khoảng
2000 tỷ USD nhưng một nửa số đó được chi vào việc mua nhà.
Số tiền còn lại là rất nhỏ trong ngân sách gia đình. Japan
Times kết luận rằng giai cấp trung lưu ở Trung Quốc đang cố
gắng để sống chứ không phải là một động lực chủ yếu
trong xã hội Trung Quốc. Vậy tiền bạc của cải được tạo
ra nhờ cuộc cải cách kinh tế trong hơn 30 năm qua đi đâu ? Theo
Japan Times trong 10 năm qua đa số tiền tiêu thụ là do những
người rất giàu có, khoảng 17% dân số (gần 70 triệu người)
là đảng viên hoặc có quan hệ mật thiết với đảng Cộng
sản Trung Quốc. Họ chính là những người sẽ bảo vệ chế
độ chính trị hiện nay đến cùng bất chấp những nguyên tắc
phân phối công bằng trên lý thuyết của chủ nghĩa xã hội và
hệ số đánh giá phân chia giàu nghèo Gini của Trung Quốc thuộc
hàng cao nhất thế giới (xấp xỉ 1.0).

Trở lại với tranh luận về nguyên nhân và thủ phạm của
cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ phố Wall, có lẽ
giờ đây không ai có thể phủ nhận được những khiếm
khuyết mang tính "cấu trúc" của thị trường tài chính Mỹ
và Phương Tây nói riêng và quốc tế nói chung. Tuy nhiên bên
cạnh đó cũng có những nguyên nhân "kỹ thuật" không kém
phần quan trọng. Ngay từ năm 1998 nhà toán học Thụy Sĩ Paul
Embrests làm việc tại ETHZ (Zurich Technology University) đã cảnh
báo về những lỗ hổng lớn trong hệ thống quản lý rủi ro
tài chính thế giới – một điều ắt dẫn đến khủng hoảng
tài chính. Trên cơ sở lý thuyết "Extreme Value Theory" ông và
các cộng sự đã chỉ ra rằng chỉ số VAR (Value at Risk) dùng
trong công ước Basel 2 về quản lý rủi ro ngân hàng lại là
một thước đo tồi cho quản trị rủi ro, và cần được thay
thế, vì sao việc định giá các sản phẩm phái sinh như "CDO
Square" là không thể thực hiện được chính xác nên việc
buôn bán chúng với số lượng lớn trên thị trường tài chính
đã tạo nên rủi ro khủng hoảng tài chính toàn cầu v.v...

Đúng như câu ngạn ngữ Việt nam: "mất bò mới lo làm
chuồng", hiện nay Federal Reserve của Mỹ và IMF mới quan tâm
đến các công trình "mang tính hàn lâm" của Paul Embrechts.[6].

Về lâu dài, nền kinh tế dựa trên quyền lực có xu hướng
bóp méo nguyên tắc phân phối thu nhập của hệ thống kinh tế
dựa trên năng suất và hiệu quả. Nó hậu đãi một cách có
hệ thống những người có quyền lực trong chính quyền hoặc
có quan hệ gần gũi với trung tâm quyền lực, vì vậy tình
trạng này đã khuyến khích các hành vi tìm kiếm hối lộ hơn
là hoạt động sản xuất và sáng tạo công nghệ. Nền kinh tế
dựa vào quyền lực làm nảy nở nền kinh tế "quan hệ"
(Guanxi) nơi mà các luật chơi công bằng của nền kinh tế thị
trường tự do lành mạnh sẽ bị "uốn cong", hủy hoại
những nỗ lực kinh doanh trung thực và sáng tạo. Với những
hậu quả đã được báo trước như vậy, mô hình của nền
kinh tế dựa trên quyền lực quả là không có tương lai lâu
dài và sáng sủa trong thế giới văn minh và dân chủ của thế
kỷ XXI. (Cũng cần nhắc lại rằng nền kinh tế các quốc gia
Trung đông như Ai Cập, Libya, Tunisia...tuy không hoàn toàn, nhưng
phần lớn dựa vào quyền lực chính trị và quân sự của các
nhà độc tài.)

GS Trương Duy Vi có lý khi nói rằng "những gien di truyền lịch
sử" ngày hôm nay vẫn tồn tại trong xã hội Trung Quốc. Xét
theo một góc độ nào đó thì cuộc đấu tranh chống tham nhũng
ở Trung Quốc sẽ rất khó khăn, vì từ thời xa xưa các triều
đại phong kiến Trung Hoa đã bắt các nước nhỏ láng giềng
phải triều cống, còn chính Hán Văn Đế (179-157 trước Công
nguyên) đã đặt ra cái lệ đút lót các tướng địch để họ
lui binh([5], trang 117). Đó chẳng phải là những hình thức đưa
và nhận hối lộ tầm cỡ quốc gia đó sao?

Khái niệm "khí" mà GS Trương nói đến, đối với người
Phương Tây tuy có vẻ mang màu sắc huyền bí, siêu hình nhưng
nếu được hiểu là xu hướng chủ đạo của thời đại thì
nó phải là hòa bình, hợp tác bình đẳng trên cơ sở tôn
trọng luật pháp quốc tế,cùng có lợi và tự do, dân chủ cho
mọi người, mọi quốc gia. Nếu Trung Quốc tiếp tục trỗi
dậy theo xu hướng đó thì sẽ là một hạnh phúc và cơ hội
lớn lao cho toàn thế giới.

GS Trương đã sáng suốt khuyên Mỹ và Phương Tây đang trượt
dốc nên cần đại tu và cải cách. Hoa Kỳ cũng đã nhận thức
được điều này nên trong bài diễn văn quan trọng của Ngoại
trưởng Hillary Clinton gần đây nhan đề: "Thế kỷ Thái bình
dương của Hoa kỳ" Mỹ đã một lần nữa khẳng định lại
kế hoạch rút khỏi các chiến trường Afghanistan và Iraq sau khi
Bin Laden đã bị tiêu diệt gần Islamabad, Pakistan, để tập trung
cho sự trở lại và tiếp tục dẫn đầu ở khu vực Châu Á –
Thái bình dương. Mỹ sẽ chú trọng tới từng bước đi ngay
trong nước, đó là gia tăng tiết kiệm, cải cách hệ thống
tài chính, nhờ cậy ít hơn vào các khoản vay và khắc phục
sự chia rẽ giữa hai đảng. Xin trích dẫn lại một đoạn
diễn văn như sau: "Cứ mỗi lần nước Mỹ thất bại thì
chúng ta đều đã lại vượt qua bằng sự sáng tạo và đổi
mới. Năng lực trở lại cuộc chơi một cách mạnh mẽ hơn
của Hoa kỳ là không ai sánh kịp trong lịch sử đương đại.
Ngọn nguồn của sức mạnh đó được tuôn trào từ mô hình
xã hội tự do - dân chủ và tự do kinh doanh, đó là thứ mô
hình cho đến nay vẫn là cội nguồn của sự phồn vinh và
tiến bộ mãnh liệt nhất mà nhân loại biết đến."[8]

GS Trương có nêu một dẫn chứng về tính dân chủ trong xã
hội Trung Quốc là cứ 5 năm một lần người dân lại có cơ
hội đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế
quốc dân và các văn kiện quan trọng khác của đảng Cộng
sản và chính phủ. Thực sự, điều này thật là ấn tượng,
nhất là nó lại diễn ra trên một đất nước 1,3 tỷ dân.
Nếu GS Trương cung cấp được số liệu thống kê so sánh có
bao nhiêu % ý kiến đóng góp đã được xử lý, lắng nghe và
được đưa vào văn kiện cuối cùng thì sẽ rất thuyết phục.
Còn nếu không, hàng chục ngàn đợt góp ý dù có sôi nổi
diễn ra trên khắp đất nước sẽ chỉ là những màn biểu
diễn đông người về một nền dân chủ giả tạo (mass showbiz
of a fake democracy) không hơn không kém, và các tập đoàn lợi
ích được quyền lực chống lưng như đã nêu ở trên sẽ vẫn
tiếp tục tác yêu tác quái trên lưng người lao động lương
thiện.

Có một điểm quan trọng trong phát biểu của GS Trương đó là
truyền thống tuyển dụng nhân tài cho bộ máy chính quyền ở
Trung Quốc. Đây là một nét văn hóa Khổng giáo có nhiều mặt
tích cực. Ít nhất truyền thống này cũng nuôi dưỡng một tinh
thần hiếu học mạnh mẽ và thành tích học tập khá cao của
thanh thiếu niên trong xã hội các nước Đông Á. Tri thức phong
phú, sâu sắc và đạo đức cao cả là những tiêu chí rèn
luyện, tu thân của người quân tử đáng được ghi nhận như
một đóng góp của văn hóa Trung Hoa nói riêng và Phương Đông
nói chung vào văn hóa nhân loại. Tuy nhiên, trong thời đại của
toàn cầu hóa, nhân tài phải có tư duy độc lập, sáng tạo,
không giáo điều, rập khuôn và miễn dịch với tư tưởng dân
tộc hẹp hòi hay sôvanh nước lớn. Tuyển được nhân tài là
quan trọng nhưng phải có môi trường để người tài tự do tư
duy, tự do thử nghiệm, phản biện, đề xuất ý kiến táo bạo
thì mới tránh được tình trạng trong xã hội chỉ toàn những
kẻ phục tùng mẫn cán mà thiếu người lãnh đạo xuất chúng
dám nghĩ dám làm và có thể bứt phá thành công.

Nước Mỹ với thể chế tự do của mình đã sản sinh ra những
nhân tài đa dạng mà theo lối đánh giá khuôn mẫu truyền
thống của Phương Đông chắc sẽ bị loại bỏ tức thì. Đó
là một Bill Gates hay một Steve Jobs chưa hề tốt nghiệp đại
học. Khoa học ngày nay đã chứng minh được rằng con người ta
có ít nhất là 7 loại trí thông minh nên những cách sát hạch
cùng thang điểm áp dụng ở nhà trường từ trước tới nay
đã rất lạc hậu.[9] Có lẽ đã đến lúc cần có tư duy mới
tương xứng để chọn nhân tài cho xã hội.

GS Trương có đề cập tới một chủ đề thú vị, đang rất
"mốt" hiện nay đó là minh triết trong lịch sử. Theo thiển
nghĩ của tôi thì ngay như định nghĩa về minh triết giới học
giả trên thế giới còn chưa thống nhất được với nhau. GS
Trương cho rằng minh triết và tri thức là khác biệt, thế
nhưng nhiều học giả khác lại cho rằng minh triết chính là tri
thức được nhào nặn bởi kinh nghiệm. Vả chăng minh triết là
những gì được đúc rút ra từ trải nghiệm của từng cá
nhân và nhóm người nên khó có thể dự báo được . Ngoài ra
minh triết còn thiếu tính phổ quát, tính duy lý và thiên về
duy cảm nên khó có thể trở thành một yếu tố cơ bản của
một thể chế chính trị hiện đại, tuy rằng nó vẫn thấp
thoáng đâu đó trong phong cách lãnh đạo của những nhà chính
trị mang dấu ấn của nền văn hóa đã đào tạo nên họ.

Cuối cùng tôi cho rằng mô hình phát triển của Trung Quốc
phải do chính nhân dân Trung Quốc góp ý xây dựng theo cách dân
chủ và phù hợp nhất, bởi lẽ chỉ có nhân dân mới biết rõ
những chi phí xã hội như nạn ô nhiễm môi trường, gian lận
trong chế biến thực phẩm, thuốc men để đến nỗi nhiều căn
bệnh nan y như ung thư, trẻ sơ sinh quái thai v.v… phát sinh ra
từ đây, hay hạn hán, lũ lụt bất thường do những công trình
tàn phá môi sinh và cả những đội ngũ dân nghèo mất ruộng
phải thất thểu ra thành phố kiếm sống bằng đủ nghề đáng
xấu hổ... Trong khi đó có tới 46% các triệu phú ở Trung Quốc
(con số này theo một báo cáo của Bank of China – Hurun Report vào
khoảng 960.000 người) được phỏng vấn đều có ý định rời
Trung Quốc để sang sống ở một nước Phương Tây phát triển.
Với thế lực đang lên như hiện nay và trong tương lai, mô hình
đó phải thể hiện rõ những trách nhiệm toàn cầu mà Trung
Quốc sẽ gánh vác như giúp đỡ các nước nghèo, đối phó
với biến đổi khí hậu, gìn giữ hòa bình và phát triển kinh
tế toàn cầu, những dịch vụ công mà Trung Quốc sẵn sàng cung
ứng cho cộng đồng quốc tế - điều mà Hoa Kỳ và Phương
Tây đã có nhiều đóng góp từ hàng chục năm nay.

Xin kính chúc GS khỏe và hạnh phúc

Thăng long-Hà nội, 11/11/2011
Phạm Gia Minh

<em>Tác giả gửi viet-studies ngày 11-11-11</em>

_______________________

[1] Kovaliev.I.N. Lịch sử kinh tế và các học thuyết kinh tế.
NXB Fenix. Rostov on Don. Russia. 2008 (tiếng Nga )

[2] Pham Gia Minh. Okrut. Z. M. Mô hình phát triển kinh tế của Hàn
quốc. NXB " Tài chính và Thống kê" Moscow.1993 (tiếng Nga)

[3] Nguyên Phong.
http://vanhoanghean.com.vn/goc-nhin-van-hoa/nhin-ra-the-gioi/2849-su -
khac-biet-ve-dia-ly-va-nhan-van-giua-de-quoc-la-ma-va-de-quoc-trung-hoa-thoi-thuong-co/

[4] Phạm Gia Minh. " Thoát Á mới có thể thoát thân"
http://tuanvietnam.net/2010-01-08

[5] Will Durant. Lịch sử văn minh Trung hoa. NXB Văn hóa- Thông tin.
1997

[6]
http://Zung.zetamu.net/2011/11/nha-toan-hoc-da-canh-bao-khung-hoang-tai-chinh/

[7] ). Li Tan. Nghịch lý của chiến lược đuổi kịp.Tư duy lại
mô hình phát triển kinh tế dựa vào nhà nước. NXB Trẻ.2008

[8] Hillary Clinton. America's Pacific Century. Foreign Policy. November
2011

[9] Thomas Armstrong. 7 loại hình thông minh. Seven Kinds of Smart. NXB
Lao Động & Alpha books.2007


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10593), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét