thấm đẫm nhân văn sau đây của một nhà toán học:
<div class="special_quote"><h2>Nhớ về một người thầy thanh cao mà
bình dị</h2>
Đầu năm 1953, tôi vào học phổ thông cấp 3 của trường Phan
Đình Phùng, tỉnh Hà Tĩnh. Năm học này, trường đã dời địa
điểm về xã Ngu Lâm ở phía nam huyên Đức Thọ. Là một học
sinh nhà quê từ vùng nông thôn Can Lộc lên học <em>"Trường
tỉnh"</em> ở huyên Đức Thọ vào thời đó đối với tôi là
một sự kiện lớn, một niềm vinh dự. Nếu Hà Tĩnh được xem
là một tỉnh có truyền thống hiếu học, thì Đức Thọ (cùng
với Hương Sơn) là vùng văn hóa tập trung của tỉnh, với
biết bao tấm gương về những con người tài năng mà suốt
thời tuổi nhỏ tôi vẫn thường được nghe các bậc cha anh
nhắc đến với niềm cảm phục, ngưỡng mộ. Trường Trung
học Phan Đình Phùng là trường học lớn nhất tỉnh, nơi có
nhiều thầy giáo đã từng dạy học trước Cách mạng tháng
Tám, hoặc là các nhà văn, nhà khoa học, nhà hoạt động xã
hội, do thời cuộc đưa đẩy đã tụ hội về trường cùng
làm cái nghề dạy học vốn được xem là thanh bạch và cao
quý. Bọn học trò nhỏ mới được vào trường như chúng tôi
trong những buổi đầu nhìn lên các thầy với một niềm tôn
kính và ngưỡng mộ, nhưng không khỏi có ít nhiều mặc cảm
của sự cách biệt.
Thời gian êm ả trôi qua, và tôi quen dần với cuộc sống chật
vật nghèo nàn của một học sinh xa nhà ỏ trọ và với những
buổi học ban đêm đèn dầu không đủ ánh sáng nhưng đầy
hấp dẫn bởi những bài giảng nhiệt tình của các thầy mở
ra cho chúng tôi niềm đam mê đến với những miền kiến thức
mới mẻ về toán học, văn học, địa lý, lịch sử. Những
mặc cảm cách biệt qua đi lúc nào không biết, thầy trò, bè
bạn dần trở nên gắn bó thân thiết như trong một gia đình.
Tôi nhớ, vào một chiều mùa thu năm 1953, đang ngồi học một
mình trong nhà trọ thi chợt nghe tiếng chó sủa, nhìn ra cổng
thấy một ông khách cao lớn đội chiếc mũ lá đi vào. Ngỡ
ngàng một chút rồi nhận ra ông khách là thầy Trần Quốc
Nghệ, tôi vui mừng và lúng túng mời thầy vào nhà như được
đón nhận một vinh dự bất ngờ. Trong mắt tôi và theo những
gì mà tôi được biết, thầy Nghệ là một người đa tài,
từng trải, một người am hiểu cả Nho học và Tây học, một
thầy dạy Văn rất <em>"uyên bác"</em>, còn tôi là học trò
binh thường, chưa biểu lộ được một chút đặc sắc gì về
môn học của thầy và vẫn nghĩ rằng mình chẳng có gì đáng
được thầy để ý. Vậy mà bỗng nhiên được thầy đến
chơi. Nhìn quanh trong nhà thấy không có gì đáng đem ra mời
thầy, tôi chỉ vào bếp rót bát nước chè xanh đưa lên bàn
rồi ngồi nghe thầy nói. Thầy ân cần hỏi thăm về tình hình
sinh hoạt, học hành, khuyến khích phải chăm học, đừng để
uổng phí tuổi trẻ. Trời bỗng nhiên nhiều mây, rồi lất
phất mưa bụi. Tôi mừng vì lưu giữ được thầy ở lại lâu
hơn, nhưng thật băn khoăn vì tiếp thầy quá ư đạm bạc.
Bỗng thầy nhìn ra ngoài vườn rồi bảo tôi: <em>"Cậu ra hái
quả khế chua vào đây"</em>. Trời ơi! Chẳng lẽ tiếp thầy
bằng mấy quả khế chua sao? Hái khế xong, tôi đang lúng túng
vì không tìm ra được thứ gì có thể ăn với khế (chút
đường ngọt cũng không có), thì lại nghe thầy bảo: <em>"Tìm
trong nhà có cái bình vôi đưa ra đây"</em>. Tôi tìm được
bình vôi (ăn trầu) đưa ra, thầy điềm nhiên cầm chìa vôi
quệt một ít vôi trong bình ra đĩa rồi cắt khế ra từng
miếng, chấm vào vôi và đưa lên miệng. <em>"Cậu có biết ăn
cách này không?"</em> – Thầy hỏi. Tôi xúc động nghẹn ngào
<em>"Có ạ"</em>, rồi hai thầy trò cùng ngồi nhấm nháp bữa
tiệc <em>"khế chấm vôi"</em> và nghe thầy kể bao nhiêu
chuyện thú vị về văn hóa sinh hoạt ẩm thực của quê hương.
Cho đến nay đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng kỷ niệm về
<em>"bữa tiệc"</em> độc đáo đó vẫn không bao giờ phai
mờ trong ký ức tôi, với hình ảnh thân thiết bình dị của
thầy và bữa tiệc <em>"khế"</em> như của hai cha con nông
dân nghèo trong mái nhà tranh của tuổi thơ quê hương.
Giai đoạn 1953 – 1954 là một giai đoạn nhiều xáo trộn bi
thương trên mảnh đất quê hương Nghệ Tĩnh của chúng tôi.
Bên cạnh những niềm vui lớn về những chiến thắng của
cuộc kháng chiến đang dần đi đến hồi kết, thì những màn
đấu tố từ các phong trào <em>"chống phản động"</em> rồi
<em>"giảm tô", "cải cách ruộng đất"</em> càng ngày càng
gay gắt, đưa cả một vùng quê vào cảnh xáo trộn. Thầy giáo
và cả các anh chị học sinh lớn tuổi của trường tôi không
hiểu vì sao cũng trở thành đối tượng của cuộc đấu tố
đó.
Tôi thấy thầy Nghệ vắng mặt ở trường một thời gian. Cho
đến một buổi sáng trời mưa phùn vảo khoảng giữa năm 1954,
tôi đang đi bộ một mình trên đường từ Lạc Thiện lên thị
trấn Đức Thọ thì bổng gặp thầy trong một hoàn cảnh thật
trở trêu. Đường xa mỏi mệt, đang lủi thủi một mình thì
thấy từ xa đi theo hướng ngược lại một tốp ba người,
người đi giữa dáng cao lớn, mang một chiếc tơi lá, hai
người đi kèm sau là hai dân quân, một người cầm súng, một
người cầm gậy. Đi gần thêm một chút, tôi bỗng rụng rời
nhân ra người đi giữa là thầy Nghệ kính yêu của mình. Tôi
không khóc được. Tôi có cảm tưởng thầy cũng nhìn thấy tôi
vì thấy thầy chững lại một bước chân. Rồi tất cả lại
tiếp tục đi. Tôi hét lên một tiếng <em>"Thầy ơi!"</em> và
nghe tiếng quát lại của anh dân quân <em>"Đi đi"</em> và
thế là hết. Tôi nhìn vuốt theo bóng thầy đi cao đạo điềm
đạm giữa trời mù sương mãi cho đến khi khuất bóng.
Một năm sau, giữa đường phố Tràng Tiền của Hà Nội sau
ngày giải phóng, tôi tình cờ lại gặp được thầy. Tôi đã
qua cái thời thơ bé và thầy đã có thể nói chuyện với tôi
ít nhiều về thời cuộc, về thế thái nhân tình. Hai thầy trò
cùng đi dạo mát một lát, ôn lại những câu chuyện học hành
của tôi, còn tôi, vẫn với niềm ngưỡng mộ đối với thầy
như xưa, tôi không dám hỏi những chuyện mà tôi e là thầy
cũng không muốn trả lời. Đó là vào khoảng thời gian mà báo
<em>"Nhân văn"</em> mới bị đình bản, và vụ <em>"Nhân
văn, Giai phẩm"</em> đang bắt đầu bị lên án gắt gao, và
theo lời đồn đại, thì thầy cũng không phải hoàn toàn bàng
quan với những xu hướng đó.
Bẵng đi mấy chục năm, đất nước và quê hương đã đi qua
một cuộc chiến tranh khốc liệt, những năm tháng hòa bình
nhưng còn đói nghèo vất vả. Cho đến đầu thập niên 1990,
tôi mới được gặp thầy. Thầy đã già, nhưng vẫn quắc
thước như xưa. Một lần đến thăm thầy, trước khi ra về,
bỗng thầy cầm tay tôi và hỏi: <em>"Nghe nói gần đây cậu
có một số bài viết được nhiều người quan tâm, lần sau có
đến đưa cho mình xem nhé!"</em>. Tôi vâng dạ, nhưng tiếc là
chưa tìm lại được những bài mà thầy yêu cầu thì được
biết thầy đã về Hà Tĩnh. Và với lần về quê đó thầy đã
mãi mãi không ra Hà Nội nữa. Theo lời nhắn của thầy qua bạn
Nguyễn Quang Thân, tôi có kịp nói chuyện qua điện thoại với
thầy một lần, chúc thầy mạnh khỏe để còn hy vọng gặp
lại thầy. Nhưng rồi, thầy đã ra đi. Hôm đến viếng thầy
ở nhà cô Lành (Con gái thầy) tôi được xem mấy tấm ảnh về
phần mộ của thầy, nơi yên nghỉ của thầy đặt ở lưng
chừng núi, nhìn ra một vùng non xanh nước biếc của mây trời
Hương Sơn, tôi thầm cầu chúc cho hương hồn của thầy được
mãi thanh thản cùng đất trời non nước.
Thầy, một con người thanh cao mà bình dị.
Tháng 8 năm 2004</div>
Tác giả áng văn trên là Phan Đình Diệu.
<div class="boxright200"><img
src="http://danluan.org/files/u23/DANLUAN0100094.jpg" /><div
class="textholder">Giáo sư Phan Đình Diệu/ảnh sưu tầm trên
mạng</div></div>
Ông cùng tuổi Bính Tý với tôi, sinh năm 1936, nhưng là một
trong những người con sáng giá của đất quê Hà Tĩnh địa linh
nhân kiệt: Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn, Lê Văn Thiêm,
Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Huệ Chi …, hậu duệ của Phan Huy
Ích, Phan Huy Chú, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ …
Giáo sư - tiến sỹ Phan Đình Diệu là chuyên gia trong các lĩnh
vực: toán học kiến thiết, lôgíc toán, lý thuyết thuật toán,
ôtômat và ngôn ngữ hình thức, lý thuyết mật mã và an toàn
thông tin và được ghi nhận là một trong những người có công
đầu trong kế hoạch đào tạo và phát triển ngành tin học
Việt Nam.
Lần đầu tôi đến tìm ông với mục đích cậy nhờ chiếc
máy tính điện tử đầu tiên ở Việt Nam đặt tại cơ quan
ông để giải bài toán xác xuất thống kê nhằm tìm kiếm quy
luật phân bố cường độ phóng xạ trong mối tương quan với
một số loại đất đá trên lãnh thổ Miền Bắc Việt Nam.
Chiếc máy chỉ có tính năng tương đương với một chiếc
laptop bỏ trong cặp sách bây giờ, nhưng lúc ấy nó chiếm cả
một căn phòng. Nó chạy ầm ầm, tỏa hơi nóng vã mồ hôi nên
ngoài quạt gió phải có cả một hệ thống làm lạnh gồm
những ống dẫn nước to bự. Nó quan trọng đến mức phải có
lính gác. Bây giờ người ta nhập số liệu bằng bàn phím, lúc
ấy chúng tôi phải dùng phiếu đục lỗ. Phiếu đục lỗ là
những mảnh bìa bằng nửa bàn tay. Tôi đã phải lưu giữ mấy
hòm phiếu đục lỗ khá lâu, nhưng khi biết là không cần nữa,
tôi đã đem đun bếp thay củi được đến ba bốn bữa nấu
ăn.
Hơn hai chục năm sau, lần đầu tiên PĐD mới đến nhà tôi.
Đấy là những ngày tôi đang bị uy hiếp hết sức ghê gớm:
bị đưa ra Phường đấu tố, bị trẻ con ném hàng chục kg
gạch đá vào nhà … Hôm ấy vợ tôi mới đi công tác ở Ixrael
về, còn ông, vừa tham gia Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Không biết do tác động của
chuyện vợ tôi kể về cảnh khám xét ngặt nghèo và cảnh lính
tráng, cảnh sát đầy đường ở Ixrael hay do ông chủ định
làm công tác tư tưởng cho tôi khi ông nói như trần tình:
<em>"Chúng mình nói thì cứ nói chứ thật ra cùng ngồi họp
mới thấy người ta cũng trăn trở lắm với bất công xã hội,
với xóa đói giảm nghèo đấy ông ạ"</em>.
Thế là tôi cứ dùng dắng mãi ý định viết đôi dòng tôn vinh
ông mặc tôi rất nể phục ông qua giai thoại kể rằng ông đã
dám công khai trực diện nói sau đại thắng 30 tháng 4 năm 1975:
<em>"Đồng chí Lê Duẩn thật là vĩ đại, nhưng sẽ vĩ đại
hơn nếu bây giờ từ chức"</em>. Giai thoại ấy nếu là sự
thật thì PĐD đã rất đúng. Trong 1975 nếu Lê Duẩn từ chức
thì cách mạng Việt Nam có thể đã không tiếp tục những
bước sai lầm còn tệ hại hơn từ những ngày ĐCSVN được
thành lập.
Vậy mà, sau đó PĐD cứ mặc nhiên rơi thẻ Đại biểu Quốc
hội, rời khỏi chức vụ Phó Viện trưởng Viện Khoa học
Việt Nam ….
Tuy nhiên, tôi vẫn chưa đủ nhiệt tình đặt bút viết.
Bài viết này được thôi thúc chỉ khi tôi tình cờ được
đọc áng văn trên.
Hơn một nhà toán học tài danh, Phan Đình Diệu đáng được
tôn vinh còn là vì ông đã dám đánh giá lại lịch sử cận
hiện đại Việt Nam, dám dấn thân vào công cuộc đấu tranh cho
tự do, dân chủ, nhân quyền Việt Nam ở tốp đầu kể từ sau
1975: Dương Thu Hương, Hà Sỹ Phu, Bùi Minh Quốc …
Được mời phát biểu trong chương trình KX.10 về <em>"Tiếp
tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế"</em>, trong thư đề
ngày 18/8/2004 gửi lãnh đạo ông đã thẳng thắn trình bày:
<div class="special_quote">"Về phát triển kinh tế, sự níu kéo
giữa hai xu hướng – xu hướng hoàn thiện dần cơ chế thị
trường theo thông lệ quốc tế để hội nhập và xu hướng
bảo vệ cái gọi là "định hướng xã hội chủ nghĩa" –
đang tiếp tục gây những cản trở và khó khăn cho việc phát
triển và hoàn thiện nền kinh tế thị trường, làm cho nền
kinh tế của ta tuy đã có nhiều nét khởi sắc, nhưng vốn còn
non yếu, sẽ càng dễ bị sụt giảm về chất lượng tăng
trưởng và năng lực cạnh tranh, như kết quả của một cuộc
điều tra quốc tế vừa qua đã chứng tỏ. Việc nền kinh tế
nước ta chưa được công nhận là nền kinh tế thị trường
cũng tiếp tục gây trở ngại cho sự phát triển và hội nhập.
Về đời sống chính trị - xã hội, các quyền tự do dân chủ
cơ bản của người dân vẫn chỉ được "tôn trọng" trên
văn bản giấy tờ, chứ chưa được tôn trọng trên thực tế,
quyền tự do ứng cử và bầu cử được thực hiện một cách
hình thức, những điều này trong xã hội người dân không
phải là không biết, chỉ có điều là do sợ mà chưa dám nói
ra đó thôi. Cũng không phải ngẫu nhiên mà nước ta được
xếp hạng gần chót bảng trên thế giới về tự do báo chí
(61/68), và cũng ở loại kém về minh bạch (102/146), (tức tham
nhũng nặng), theo kết quả điều tra của tổ chức Nhà báo
không biên giới và tổ chức Minh bạch quốc tế, tôi nghĩ ta
cũng cần chú ý đến những đánh giá đó để mà suy ngẫm
nghiêm túc về chất lượng nền dân chủ của chúng ta. Ai cũng
biết sự yếu kém về dân chủ đó là hệ quả tất yếu của
chế độ một đảng độc quyền lãnh đạo (toàn diện và
tuyệt đối) với sự thống trị chính thức của một ý thức
hệ tư tưởng (chủ nghĩa Mác-Lênin). Nếu ta tiếp tục duy trì
một thể chế chính trị như vậy thì vẫn sẽ không có tự do
tư tưởng, tự do bày tỏ ý kiến và phê phán, do đó không
thể phát huy tiềm năng trí tuệ của đất nước trong một giai
đoạn mà ta thường nói trí tuệ là nguồn lực chủ yếu nhất
của phát triển".</div>
Trong tiểu luận <em>"Khoa học hệ thống và một số vấn đề
về quản lý kinh tế của nước ta hiện nay"</em> ông cũng đã
viết:
<div class="special_quote">"Xu thế rệu rã trong quan hệ của hệ
thống càng ngày càng tăng, thậm chí các mối quan hệ kinh tế
trong hệ thống Nhà nước bị biến chất, xu thế này rất nguy
hiểm, nó phá vỡ từ bên trong cấu trúc hệ thống của nền
kinh tế và xã hội. Biểu hiện của xu thế này là các hiện
tượng tiêu cực với quy mô ngày càng lớn, đặc biệt là
hiện tượng mang tính chất tập thể, bộ phận chủ không chỉ
là cá nhân, cá biệt. Một hệ thống giữ một vẻ ngoài thống
nhất nhưng bị mục ruỗng và hỗn loạn bên trong, tạo nên cái
dối trá, cái không thật trong kinh tế và từ đó trong các lĩnh
vực khác của xã hội. Sự điều khiển tập trung không có
hiệu lực và xu thế là giải thoát bằng mọi mánh lới ra
ngoài sự điều khiển đó là cơ sở vật chất của sự dối
trá, từ sự dối trá trong làm ăn đến sự dối trá trong đời
sống luân lý của xã hội. Sự sa sút về đạo lý này đang là
sự cản trở hết sức to lớn cho quá trình khôi phục trật
tự của xã hội. Mặc dù có những nguyên nhân từ bên ngoài
nhưng về cơ bản các yếu tố phá vỡ tính hệ thống nằm
trong bản thân hệ thống đó. Nên rõ ràng để khắc phục
được tinh hình cần có những biện pháp mạnh để tự thay
đổi tổ chức của hệ thống và tiến lên xây dựng được
một kiểu hệ thống mà tự tổ chức, tự chọn lọc và loại
bỏ những yếu tố cản trở sự phát triển của mình". </div>
Ông từng chua xót kể với các nhà báo:
<div class="special_quote">"Có lần trên diễn đàn Quốc hội năm
1978, tôi đã phát biểu về một thực tế là liên tục 5, 6 năm
liền kế hoạch nhà nước không bao giờ thực hiện được
cả, thường chỉ đạt 50 - 60%, nhưng có ngành nào, tỉnh nào
mà không báo cáo thành tích là vượt mức kế hoạch đâu. Thế
nên tôi nói, nước ta có một thứ toán học kỳ lạ: tổng các
số dương bằng một số âm. Nhưng thực ra điều lạ đó tôi
cũng có được chứng kiến ở Liên Xô từ đầu những năm 1960
khi tôi học ở đó. Lúc đầu đọc báo Sự thật và nghe đài,
tôi ngạc nhiên và thán phục lắm, năm nào ngành nào cũng báo
cáo đạt 102 - 103% kế hoạch, không có ngành nào là không đạt
kế hoạch. Tôi có hỏi một ông Giáo sư Viện sĩ Viện Hàn lâm
về kinh tế: Một nước rộng lớn như Liên Xô, nhiều ngành
nghề, nhiều lĩnh vực kinh tế, làm thế nào để lập kế
hoạch sản xuất chi tiết cho từng nhà máy, từng công trường
một cách sát với thực tế đến thế? Ông ấy cười bảo: Anh
có biết cách làm của chúng tôi như thế nào không? Chúng tôi
thống kê ngược. Tức là muốn đạt được 100% hay 105% thì
tôi lấy chỉ tiêu đạt kế hoạch ấy rồi tính ngược lại
và biết được từng nhà máy "phải" làm bao nhiêu để đạt
được chỉ tiêu chung đó.
Những năm 1970 - 1980, tôi tham gia thực hiện việc đưa khoa học
vào quản lý xí nghiệp. Có lần cùng một đoàn anh em đi thực
tế. Kế toán trưởng trong xí nghiệp đó làm việc với bọn
tôi một ngày rồi trốn. Tôi tìm và gặng hỏi anh ta. Anh ta
bảo: Em làm kế toán nhưng có bao giờ làm từ thực tế đâu
mà là do người ta chỉ thị cho em. Cách làm của em là tính
ngược. Muốn cho xí nghiệp hoàn thành vượt mức kế hoạch 5%
hay 10% thì cứ lấy số đó tính ngược lên sẽ biết bộ phận
này "cần" làm bao nhiêu, bộ phận kia "cần" làm bao nhiêu. Mà
cái cách đó thì không thể báo cáo cho các anh được.
…… Khi đi vào phân tích tình hình kinh tế của Việt Nam theo
quan điểm hệ thống, kết quả phân tích cũng làm chính tôi
ngạc nhiên. Tôi phát hiện ra rằng, đó không chỉ là sự dối
trá trong các báo cáo, mà tệ hại hơn, sự dối trá đã trở
thành một thứ "đạo lý" trong xã hội ta, mọi người phải
dối trá với nhau, với chính mình mà sống, mà thăng tiến...
Đó chính là cái khó khăn và cản trở lớn nhất cho sự phát
triển thật sự của nước ta. Một xã hội không được thể
hiện thật, không được nhận thức thật, thì khó mà điều
khiển thật để phát triển thật được. Mà khuyết điểm đó
không chỉ của riêng ta, cả ở các nước "anh em" cũng vậy,
tức là của cả hệ thống "xã hội chủ nghĩa"!".
"Đến nay, các tệ nạn trong xã hội càng trầm trọng thêm.
Có lần trả lời phỏng vấn của một phóng viên Thụy Điển,
tôi có nói: Tham nhũng là hiện tượng ở đâu cũng có, chỗ
nào có quyền lực là có tham nhũng. Bởi thực chất tham nhũng
là bán chác quyền lực Nếu không có quyền thì lấy gì mà tham
nhũng. Nếu có một xã hội cộng sản chủ nghĩa thật sự, thì
với nền chuyên chính theo đúng lý thuyết về chủ nghĩa cộng
sản sẽ khó có tham nhũng. Lúc đó, quyền lực có, thậm chí
rất cao, nhưng thị trường thì không. Không có chỗ bán, ở xã
hội tư bản chủ nghĩa thì có thị trướng, có hàng hóa, nhưng
thị trướng có tính minh bạch nhất định và có cơ chế hạn
chế việc buôn bán quyền lực bằng các quyền tự do dân chủ
như tự do ngôn luận, tự do báo chí... Đó là thị trướng có
luật lệ. Còn trong xã hội vừa có quyền lực, và có những
người độc quyền thứ hàng hóa quyền lực đó, lại vừa có
thị trướng mà không có luật lệ gì thì tha hồ buôn bán...
Tham nhũng là một sự bán chác quyền lực, vừa có hàng độc
quyền lại vừa có chợ thì tha hồ mà bán chác thứ hàng độc
quyền đó".
"Nếu đó xem là lỗi của hệ thống thì cũng cần tìm giải
pháp từ việc sửa đổi hệ thống. Có hai loại việc cần
làm: một là, cần kiểm soát nghiêm ngặt việc sử dụng quyền
lực, bao gồm việc xử phạt thật nghiêm việc lạm dụng
quyền lực, bất kể kẻ lạm dụng là ai và hai là, tăng
cường luật lệ cho thị trường, nghiêm cấm mọi hình thức
mua bán quyền lực, từ những quyền nhỏ như để đi xe trái
luật hay cho điểm cao, cho đến những quyền lớn như cho lên
chức lên quan... Đồng thời tăng cường sự minh bạch trong xã
hội về việc thực hiện hai loại việc đó bằng cách phát huy
các quyền dân chủ của nhân dân".</div>
Với niềm ưu tư quốc sự, ông tư duy xã hội qua khoa học tính
toán:
<div class="special_quote">"Từ nửa sau của thế kỷ 20 đến nay,
chúng ta đang được chứng kiến một cuộc cách mạng mới trong
khoa học, đưa đến cho loài người một cách nhìn mới, một
cách hiểu mới về nhiều vấn đề của tự nhiên, của sự
sống, cũng như của sự phát triển kinh tế xã hội. Đối
tượng nhận thức của chúng ta là những hệ thống vô cùng
phức tạp, trước đây ta chỉ có thể tìm hiểu qua những mô
hình đơn giản với một số ít quan hệ đã được quy giản
cho thích hợp với tư duy cơ giới, nên chỉ mới hiểu được
chúng một cách sơ lược. Ngày nay, với tư duy hệ thống và
với nhiều phương pháp, công cụ của khoa học hiện đại, ta
đã có thể nghiên cứu các đối tượng đó với những mô
hình gần với thực tế hơn ; một trong những mô hình như vậy
là các hệ thống thích nghi phức tạp, đó là những hệ thống
gồm nhiều tác tử tương tác với nhau qua các quan hệ thường
là phi tuyến, hình thành nên nhiều vòng phản hồi bên trong hệ
thống cũng như với môi trường, có cả phản hồi âm và phản
hồi dương, có tác động duy trì hoặc phá vỡ trật tự hiện
có. Sự phát triển của hệ thống, tức là việc tăng trình
độ tổ chức và trật tự của hệ thống, hình thành bởi
một tiến trình tiến hoá tạo nên những thuộc tính hợp trội
(emergent) được thực hiện bằng các cơ chế thích nghi qua các
tương tác của hệ thống. Tiến hoá qua cơ chế thích nghi không
chỉ biểu hiện bằng cạnh tranh sinh tồn và chọn lọc tự
nhiên, mà còn bằng hiệp tác và cùng phát triển. Chính cái đa
dạng của tiến hoá này tạo nên sự phong phú và giàu có của
cuộc sống. Các hệ thống kinh tế và xã hội là những hệ
thích nghi phức tạp, trong các hệ thống đó, các yếu tố
được coi là đối lập không chỉ có kiểu đấu tranh "ai
thắng ai", mà thông qua những tương tác có tính hợp trội
còn có thể tìm được khả năng hiệp tác để đạt tới
trạng thái "thắng - thắng", tức là cả hai đều
thắng".</div>
Trên cơ sở đó, ông kết luận:
<div class="special_quote">"Đến nay, sự nghiệp đổi mới đòi
hỏi những nội dung mới và chất lượng mới, để tiếp tục
giữ vai trò lãnh đạo của mình thì bản thân Đảng phải có
những đổi mới cơ bản, rõ ràng lý luận về chủ nghĩa cộng
sản và về chủ nghĩa xã hội theo học thuyết Mác-Lênin không
còn thích hợp với đòi hỏi mới của cuộc sống nữa. …Nếu
không được như vậy, tức là Đảng vẫn kiên trì giữ nguyên
như hiện nay, thì vì quyền lợi của dân tộc, Đảng phải tôn
trọng quyền dân chủ, kể cả quyền lập đảng, của xã hội,
và ta sẽ có một chế độ đa đảng hoạt động trong phạm vi
luật pháp".</div>
Và khẳng định:
<div class="special_quote"><em>"Trước sau gì thì một nền dân
chủ cũng phải là đa nguyên thôi, vì đa nguyên luôn luôn là
điều kiện cần của dân chủ, đó là điều mà cả về lý
luận lẫn thực tiễn ta không có cách gì có thể bác bỏ
được"</em>.</div>
<center>***</center>
Người ta thường lý giải động cơ của những người quyết
liệt phê phán Đảng và dấn thân mạnh mẽ cho công cuộc đấu
tranh dân chủ hóa là xuất phát từ bất mãn cá nhân. Năm 1957,
sau khi tốt nghiệp đại học, dù không có thành tích cách
mạng, kháng chiến nổi rõ, PĐD vẫn được cử đi làm nghiên
cứu sinh ở Liên Xô và sau đó rất sớm được đưa vào Quốc
hội, được đề bạt Phó Viện trường Viện Khoa học Việt
Nam (tương đương thứ trưởng).
Phan Đình Diệu không có lý do gì để bất mãn với ĐCSVN cả.
Song, ông đã bất mãn cho thầy học của ông, cho quê hương
ông, cho dân tộc ông. Nỗi bất mãn thật thánh thiện, thật
đáng tôn vinh.
Tôi viết bài này để nêu gương cho mấy ông dù ít được
học hay dù được Đảng sơn phết cho cái danh xưng giáo sư -
tiến sỹ nọ kia cũng không nên vì quá ân sủng mà lú lẫn
không còn biết bất mãn trước những hy sinh quá tàn khốc song
kết quả đem lại vẫn là sự tụt hậu, sự tủi hổ khổ đau
của dân tộc mình.
Mỗi trí thức Việt Nam hãy biết nuôi trong lòng nỗi bất mãn
thánh thiện.
Rút trong cuốn <em>"ĐÊM DÀY LẤP LÁNH"</em>
<strong>Nguyễn Thanh Giang</strong>
Số nhà 6 – Tập thể Địa Vật lý Máy bay
Trung Văn – Từ Liêm – Hà Nội
Điện thoại: 35 534 370
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10567), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét