Lai</strong>
Chiến trường của thế kỷ 21 là ở trên mặt nước.
ROBERT D. KAPLAN - Tháng Chín, tháng mười năm 2011
http://www.foreignpolicy.com/files/images/kaplan_89753236.jpg
Châu Âu là một cảnh quan; Đông Á cảnh biển. Nơi đây nằm
một sự khác biệt nghiêm trọng giữa thế kỷ 20 và 21. Các khu
vực tranh cãi nhất của toàn cầu trong thế kỷ qua nằm trên
vùng đất liền của châu Âu, đặc biệt ở vùng đồng bằng
rộng lớn tạo nên biên giới nhân tạo ở phía đông và phía
tây của Đức và rộng mở cho các đoàn quân tiến binh. Nhưng
trong khoảng thời gian nhiều thập kỷ, trục nhân khẩu học và
kinh tế của Trái đất đã di chuyển đến phía bên kia của
liên lục địa Á-Âu, nơi mà các khoảng cách giữa các trung
tâm dân cư chính yếu hầu hết là hàng hải.
Do tính cách địa lý tạo nên các đặc tính chiến lược, khu
vực Đông Á dự báo một thế kỷ của hải quân - hải quân
được xác định ở đây theo nghĩa rộng bao gồm cả hai dạng
hải chiến và không chiến mà ngày càng trở nên khó tránh.
Tại sao? Trung Quốc, một quốc gia hiện tại có sự an toàn
biên giới trên đất liền rất vững vàng kể từ thời vàng
son của triều đại nhà Thanh vào cuối thế kỷ 18, đang gia
tăng lực lượng hải quân. Vì sức mạnh hải quân mà Trung
Quốc sẽ xóa được trong tâm khảm hai thế kỷ bị nước
ngoài xâm phạm lãnh thổ của mình và buộc tất cả các nước
xung quanh nó phải phản ứng.
Đối đầu quân sự trên đất liền và trên biển khác nhau
rất nhiều, đòi hỏi nhiều chiến lược to lớn cần thiết
để giành chiến thắng hoặc để tránh chiến tranh. Các quốc
gia trên đất liền bao gồm những va chạm giữa các dân tộc,
vì vậy tình trạng nhân quyền là dấu hiệu để nghiên cứu
chiến tranh. Các quốc gia gần biển phải đối đầu với
những xung đột theo kiểu quan sát, dò xét và có tính kỹ
thuật vì vậy họ phải xem chiến tranh như một bài toán tương
phản rõ rệt với những trận chiến đấu trí xác định các
cuộc xung đột trước.
Chiến tranh Thế giới II là một cuộc đấu tranh đạo đức
chống lại chủ nghĩa phát xít, một chủ nghĩa chịu trách
nhiệm về cái chết của hàng chục triệu người dân thường.
Chiến tranh Lạnh là một cuộc đấu tranh đạo đức chống
lại chủ nghĩa cộng sản, một hệ tư tưởng có tính áp bức
tương tự mà theo đó nhiều vùng lãnh thổ rộng lớn nằm
dưới sự kiểm soát của Hồng quân. Ngay sau thời kỳ Chiến
tranh lạnh là một cuộc đấu tranh đạo đức chống lại nạn
diệt chủng tại khu vực Balkan và Trung Phi, hai nơi mà chiến
tranh và tội ác chống lại nhân loại không thể phân biệt
được. Gần đây hơn, một cuộc đấu tranh đạo đức chống
lại Hồi giáo cực đoan đã làm Mỹ phải dấn sâu vào các
miền núi của Afghanistan, nơi mà cách hành xử nhân đạo đối
với hàng triệu thường dân rất quan trọng cho sự thành công
của cuộc chiến. Trong tất cả những nỗ lực, chiến tranh và
chính sách đối ngoại đã trở thành đối tượng không chỉ
cho các binh sĩ và các nhà ngoại giao mà còn cho các nhà nhân
bản và trí thức. Thật vậy, cuộc chiến chống bạo loạn
đại diện cho một sự kết hợp giữa quân đội và các chuyên
gia nhân quyền. Đây là hiện tượng tiêu biểu cho chiến tranh
trên mặt đất phát triển thành chiến tranh toàn diện của
thời hiện đại.
Đông Á, hay chính xác hơn Tây Thái Bình Dương, nhanh chóng trở
thành trung tâm mới cho các hoạt động hải quân, báo trước
một vận hành rất khác biệt. Nó có khả năng có ít tình
huống khó xử về mặt đạo đức mà chúng ta đã quen thuộc
trong thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, với khả năng rất hiếm
cho một cuộc địa chiến trên bán đảo Triều Tiên là một
ngoại lệ đáng chú ý. Tây Thái Bình Dương sẽ là những hoạt
động quân sự thuộc lĩnh vực hẹp của riêng các chuyên gia
quốc phòng. Điều này không chỉ đơn thuần là bởi vì chúng
ta đang đối phó với lĩnh vực hải quân, trong đó không có
sự hiện diện của dân thường. Đó cũng là vì bản chất
của các quốc gia trong khu vực Đông Á, cũng giống như Trung
Quốc, có thể là những quốc gia độc tài, nhưng trong nhiều
trường hợp không phải là độc tài tuyệt đối hoặc vô nhân
đạo sâu sắc.
Cuộc đấu tranh cho tính ưu việt ở Tây Thái Bình Dương sẽ
không nhất thiết phải liên quan đến chiến đấu, phần lớn
sẽ xảy ra lặng lẽ trên không gian biển rộng lớn, với nhịp
độ lạnh lùng, chậm rãi, đều đặng dựa vào quyền lực kinh
tế cao và quân sự mà các quốc gia có được trong suốt lịch
sử. Chiến tranh không thể tránh được khi có sự chạy đua
quân sự. Và nếu Trung Quốc và Hoa Kỳ quản lý thành công một
sự thảo thuận, châu Á, và thế giới, sẽ là nới an toàn,
thịnh vượng hơn. Điều gì có thể có đạo đức hơn? Hãy
nhớ rằng: Nó là chủ nghĩa hiện thực trong việc phục vụ
lợi ích quốc gia với mục tiêu là tránh chiến tranh - đã cứu
nhiều mạng sống trong khoảng thời gian của lịch sử nhiều
hơn so với sự can thiệp nhân đạo.
Đông Á là một vùng rộng lớn kéo dài từ cận Bắc Cực
đến cận Nam Cực - từ quần đảo Kuril cho đến New Zealand ở
phía nam - và đặc trưng bởi những vùng duyên hải rải rác và
các quần đảo xa xôi. Mặc dầu kỹ thuật đã thu hẹp các
khoảng cách một cách đáng kể, biển vẫn là một rào cản cho
các sự hung hãn, ít nhất ở một mức độ mà đất liền
đất không có được. Biển, không giống như đất liền, tạo
ra những biên giới rõ ràng, đo đó khả năng xung đột giảm
bớt. Sau đó, ta hãy xem xét đến tốc độ chiến tranh. Ngay cả
những tàu chiến nhanh nhất cũng tương đối chậm, ví dụ 35
hải lý, làm giảm nguy cơ tính toán sai lầm và cũng cho các nhà
ngoại giao nhiều thời giờ hơn – có thể là nhiều ngày -
để xem xét lại các quyết định. Lực lượng hải quân và
lực lượng không quân không chiếm lãnh thổ theo cách mà bộ
binh làm. Đó là bởi vì các vùng biển xung quanh khu vực Đông
Á - trung tâm sản xuất toàn cầu cũng như sự thu mua võ trang
đang tăng – làm cho thế kỷ 21 có một cơ hội tốt hơn so
với thế kỷ 20 để tránh các quân đội giao tranh dữ dội.
Tất nhiên, Đông Á đã trải qua nhiều cuộc giao chiến lớn ở
thế kỷ 20 mà vùng biển đã không ngăn chặn được như cuộc
chiến tranh Nga-Nhật Bản; cuộc nội chiến ở Trung Quốc kéo
dài gần một nửa thế kỷ đi kèm với sự sụp đổ từ từ
của triều đại nhà Thanh; các cuộc chinh phục của đế quốc
Nhật Bản, tiếp theo là chiến tranh thế giới thứ II ở Thái
Bình Dương; chiến tranh Triều Tiên; chiến tranh ở Kampuchia và
Lào, và hai cuộc chiến ở Việt Nam liên quan đến Pháp và Mỹ.
Thực tế là vị trí địa lý của khu vực Đông Á chủ yếu
là hàng hải có ảnh hưởng rất ít về những cuộc chiến như
vậy, cốt lõi của những cuộc chiến này là sự xung đột
để thống nhất quốc gia hoặc để giải phóng. Nhưng đó
những chuyện cũ. Các quân đội ở Đông Á, thay vì tập trung
vào quân đội nội bộ với kỹ thuật thấp, hiện đang hướng
ra bên ngoài với các lực lượng hải quân và lực lượng
không quân kỹ thuật cao.
Đối với việc so sánh giữa Trung Quốc ngày hôm nay và Đức
quốc trước cuộc Chiến Tranh Thế Giới I mà nhiều người đã
làm, là một sự sai lầm: Trong khi Đức chủ yếu là một sức
mạnh trên đất liền, do vị trí địa lý của châu Âu, Trung
Quốc chủ yếu là một lực lượng hải quân, do địa lý của
khu vực Đông Á.
Đông Á có thể được chia thành hai khu vực chính: Đông Bắc
Á, chủ yếu là bán đảo Triều Tiên, và Đông Nam Á, chủ yếu
là biển Nam Trung Hoa. Đông Bắc Á đặt trọng tâm vào số
phận của Bắc Triều Tiên, một quốc gia độc tài toàn trị,
bị cô lập với triển vọng mờ nhạt trong một thế giới chi
phối bởi chủ nghĩa tư bản và truyền thông điện tử. Nếu
Bắc Triều Tiên gây chiến thì Trung Quốc, Mỹ, và quân đội
Nam Triều Tiên có thể gặp nhau ở một nửa phía bắc của bán
đảo với những sự can thiệp nhân đạo là cái cớ chính, ngay
cả khi các nước này có những tầm ảnh hưởng riêng biệt.
Đối mặt bằng hải quân có lẽ là thứ yếu. Tuy nhiên, nếu
Hàn Quốc cuối cùng được thống nhất có thể hải chiến sẽ
nổi lên, với Hàn Quốc thống nhất, Trung Quốc, và Nhật Bản
có thể nằm ở thế quân bình, cách nhau bằng vùng biển Nhật
Bản và biển Vàng và Bột Hải. Tuy nhiên, bởi vì Bắc Triều
Tiên vẫn còn tồn tại, giai đoạn chiến tranh lạnh lịch sử
của vùng Đông Bắc châu Á chưa hoàn toàn chấm dứt, và xung
đột có thể xảy ra chính yếu là bộ binh trước khi có sự
tham gia của hải quân.
Đông Nam Á, ngược lại, đã đi sâu vào giai đoạn hậu chiến
tranh lạnh. Việt Nam, trong đó chiếm ưu thế trên bờ phía tây
của Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), là một quốc gia bám vào
chủ nghĩa tư bản mặc dù hệ thống chính trị là cộng sản,
đang cố tạo ra các mối quan hệ quân sự gần gũi hơn với Hoa
Kỳ. Trung Quốc, được Mao Trạch Đông thống nhất thành một
quốc gia vương triều sau nhiều thập kỷ hỗn loạn và biến
thành một nền kinh tế năng động nhất của thế giới bởi
các chính sách cởi trói của Đặng Tiểu Bình, là quốc gia
đang vươn ra bên ngoài với lực lượng hải quân của nó cho
những gì nó gọi là các "chuỗi đảo đầu tiên" ở Tây Thái
Bình Dương. Indonesia, quốc gia Hồi giáo lớn nhất thế giới,
đã trải qua và cuối cùng kết thúc thập kỷ của chế độ
quân sự, sẵn sàng để nổi lên như là một Ấn Độ thứ hai:
một quốc gia với nền dân chủ sôi động và ổn định có
tiềm năng thể hiện một sức mạnh bằng nền kinh tế đang
phát triển của nó. Singapore và Malaysia cũng tăng tiến kinh tế,
theo đuổi mô hình thành phố-quốc gia-thương mại [ý nói
Singapore là một quốc gia thành phố và là một trung tâm thương
mại thành công, Malaysia cũng áp dụng phương pháp đó để phát
triển kinh tế] và thông qua các hỗn hợp khác nhau của nền
dân chủ và độc tài. Hình ảnh tổng hợp là một nhóm các
quốc gia, trong đó, với các vấn đề sở hữu hợp pháp nội
bộ và xây dựng quốc gia, bây giờ sẵn sàng để thúc đẩy
đòi hỏi quyền lãnh thổ vượt ra ngoài bờ cõi cố hữu mà
họ cho là của họ. Việc này đang xảy ra ở khu vực Đông Nam
Á nơi tập trung đông dân cư nhất thế giới, với 615 triệu
người cộng với 1,3 tỷ người của Trung Quốc và 1,5 tỷ
người của Ấn Độ. Và địa lý của sự gặp gỡ giữa các
nước này và quân đội của họ là bằng hàng hải: vùng biển
Nam Trung Quốc.
Biển Nam Trung Quốc nối liền các quốc gia Đông Nam Á với Tây
Thái Bình Dương, có chức năng như là cổ họng của các tuyến
đường biển toàn cầu. Đây là trung tâm tuyến đường hàng
hải Á-Âu, trải qua các eo biển như Malacca, Sunda, Lombok, và
Makassar. Hơn một nửa trọng tải hàng hải hằng năm của thế
giới đi qua những eo biển này, và một phần ba của tất cả
các giao thông hàng hải. Vận chuyển dầu mỏ qua eo biển Malacca
từ Ấn Độ Dương, trên đường tới khu vực Đông Á phải đi
qua Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), nhiều gấp hơn sáu lần so
với số lượng dầu đi qua kênh đào Suez và 17 lần số lượng
dầu đi qua kênh đào Panama. Khoảng hai phần ba nguồn cung cấp
năng lượng của Hàn Quốc, gần 60% cung cấp năng lượng của
Nhật Bản và Đài Loan, và 80% nhập khẩu dầu thô của Trung
Quốc đi qua biển Nam Trung Hoa (biển Đông). Hơn nữa, Biển Nam
Trung Hoa (Biển Đông) đã chứng minh có trữ lượng dầu mỏ
khoảng 7 tỷ thùng dầu và một ước tính khoảng 25 nghìn tỷ
mét khối khí tự nhiên, một phần thưởng rất lớn nếu
chiếm được.
Không chỉ có vị trí và dự trữ năng lượng hứa hẹn làm cho
biển Nam Trung Quốc có tầm trọng địa chiến lược, mà còn
có những tranh chấp lãnh thổ lạnh lùng từ lâu đã bao quanh
vùng biển này. Một số liên quan đến quần đảo Trường Sa,
một quần đảo nhỏ ở phía đông nam Biển Nam Trung Hoa. Việt
Nam, Đài Loan, và Trung Quốc từng tuyên bố chủ quyền trên
tất cả hoặc hầu hết vùng biển Nam Trung Hoa, cũng như tất
cả các nhóm đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Đặc biệt, Bắc Kinh
có khẳng định lịch sử: Nó tuyên bố chủ quyền một vòng
lớn được biết như đường "lưỡi bò" bắt đầu từ Đảo
Hải Nam ở phía bắc biển Nam Trung Quốc kéo dài 1200 dặm về
phía nam đến gần Singapore và Malaysia.
Kết quả là tất cả chín quốc gia bao quanh vùng biển Nam Trung
Hoa ít nhiều đều phản đối Trung Quốc và do đó phụ thuộc
vào Hoa Kỳ để hỗ trợ cho việc ngoại giao và quân sự.
Những mâu thuẫn này có thể sẽ trở nên gay gắt hơn khi nhu
cầu năng lượng ở châu Á tăng cao với dự kiến là sẽ tăng
gấp đôi vào năm 2030, với nhu cầu năng lượng của Trung Quốc
chiếm một nửa sự tăng cao đó. Điều này làm cho Biển Nam
Trung Hoa (Biển Đông) trở thành trung tâm bảo đảm cho sức
mạnh kinh tế của khu vực. Thực tế, Biển Nam Trung Quốc đang
ngày càng trở thành một trại vũ trang, khi các quốc gia đang
tranh chấp xây dựng và hiện đại hóa lực lượng hải quân
của họ, ngay cả khi sự tranh giành các hải đảo và các rạn
san hô trong những thập kỷ gần đây gần như chấm dứt. Trung
Quốc đã tịch thu 12 đặc điểm địa lý, Đài Loan 1, Việt Nam
25, Philippines 8, và Malaysia 5.
Vị trí địa lý của Trung Quốc định hướng quốc gia này theo
hướng của Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Trung Quốc nhìn về
phía nam hướng tới một vùng biển được hình thành theo
hướng chiều kim đồng hồ, Đài Loan, Philippines, đảo Borneo
phân chia giữa Malaysia và Indonesia (cũng như quốc gia nhỏ bé
Brunei), bán đảo Malay được phân chia giữa Malaysia và Thái Lan,
và bờ biển dài ngoằn ngoèo của Việt Nam: tất cả đều yếu
hơn so với Trung Quốc. Cũng giống như vùng biển Ca-ri-bê, bao
gồm các quốc đảo nhỏ và được bao bọc bởi Hoa Kỳ to
lớn, Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) rõ ràng là một sân khấu
cho Trung Quốc bày tỏ quyền lực.
Thật vậy, vị trí của Trung Quốc ở đây trong nhiều cách
giống như vị trí của Mỹ ở vùng Ca-ri-bê ở thế kỷ 19 và
đầu thế kỷ 20. Hoa Kỳ nhận biết sự hiện diện và tuyên
bố của các cường quốc châu Âu tại vùng biển Caribbean,
nhưng vẫn tìm cách để thống trị khu vực. Cuộc chiến Tây
Ban Nha – Mỹ vào năm 1898 và việc đào kênh Panama từ 1904
đến 1914 đánh dấu sự hiện diện của Hoa Kỳ như là một
cường quốc thế giới. Sự thống trị vùng biển Caribbean cho
phép Hoa Kỳ sự kiểm soát hiệu quả nửa Tây bán cầu, đồng
thời cho phép Mỹ nó ảnh hưởng đến cán cân quyền lực ở
Đông bán cầu. Và ngày nay Trung Quốc có một tình huống tương
tự ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), cửa ngỏ cho Ấn Độ
Dương, nơi Trung Quốc cũng mong muốn một sự hiện diện hải
quân để bảo vệ nguồn cung cấp năng lượng Trung Đông.
Tuy nhiên, một cái gì đó sâu hơn và tình cảm hơn so với vị
trí địa lý đẩy Trung Quốc tiến vào các Trung Quốc Nam biển
và ra vào Thái Bình Dương: đó là, Trung Quốc chia tay một phần
của các quyền hạn của phương Tây trong quá khứ gần đây,
sau khi có được thiên niên kỷ một sức mạnh rất lớn và
nền văn minh thế giới .
Trong thế kỷ 19, khi triều đại nhà Thanh suy yếu, Trung Quốc
bị mất nhiều lãnh thổ của mình cho Anh, Pháp, Nhật Bản, và
Nga. Trong thế kỷ 20 Nhật Bản đã thôn tính đẫm máu bán
đảo Sơn Đông và Mãn Châu. Ngoài những sự sỉ nhục mà Trung
Quốc phải chịu là các thỏa thuận lãnh thổ vào thế kỷ 19
và đầu thế kỷ 20, theo đó các nước phương Tây giành quyền
kiểm soát nhiều khu vực của nhiều thành phố Trung Quốc
dưới cái gọi là "cổng hiệp ước". Đến năm 1938, như sử
gia của Đại học Yale, Jonathan D. Spence cho biết trong tài liệu
"The Search for Modern China" (Tìm kiếm một Trung Quốc hiện
đại), bởi vì những việc giành giật này cũng như cuộc nội
chiến của Trung Quốc, có một nỗi sợ hãi tiềm ẩn là "Trung
Quốc sẽ bị chia cắt và không còn tồn tại như một quốc
gia, và 4.000 năm lịch sử của nó sẽ đi đến một kết thúc
bất ngờ". Sự đốc thúc của Trung Quốc để mở rộng là
một tuyên bố rằng nó không bao giờ có ý định để cho
nước ngoài lợi dụng nữa.
Cũng giống như Đức quốc đã thành lập mặt trận quân sự
trong chiến tranh lạnh, các vùng biển của Biển Nam Trung Hoa
(Biển Đông) tạo thành mặt trận quân sự của những thập
kỷ tới. Khi hải quân Trung Quốc mạnh hơn và khi tuyên bố
chủ quyền của Trung Quốc ở biển Nam Trung Quốc mâu thuẫn
với các quốc gia ven biển khác, các quốc gia này buộc phải
tiếp tục phát triển khả năng hải quân của họ. Để cân
bằng với Trung Quốc họ cũng sẽ dựa ngày càng nhiều vào
Hải quân Mỹ, một lực lương có sức mạnh có thể đã đạt
đỉnh điểm theo cách so sánh tương đối, ngay cả khi nó phải
đổ nhiều nguồn lực đáng kể vào Trung Đông. Sự đa cực
trên toàn thế giới đã là một tính năng ngoại giao và kinh
tế, nhưng Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) có thể cho chúng ta
thấy được sự đa cực theo chiều hướng quân sự thực sự
là gì.
Không có gì lãng mạn về mặt trận mới này, rỗng tuếch vì
nó là cuộc đấu tranh của ý thức đạo đức. Trong các cuộc
xung đột hải quân, trừ khi có pháo kích lên bờ, không có
nạn nhân trực tiếp, cũng chẳng có một kẻ thù ý thức hệ
để đối đầu với. Thanh trừng sắc tộc trên quy mô rộng
lớn có thể không có khả năng xảy ra trong chiến trường mới
này. Trung Quốc, không kể đến những người bất đồng chính
kiến, đơn giản là không phải là một đối tượng để trút
cơn giận ý thức hệ. Chế độ Trung Quốc chỉ là một phiên
bản của chế độ độc tài nhưng chưa đến nổi tệ quá,
với một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa nằm dưới sự quản
lý của một hệ tư tưởng. Hơn nữa, Trung Quốc có thể sẽ
trở nên cởi mở hơn chứ không phải là một xã hội khép kín
trong những năm tới. Thay vào cho chủ nghĩa phát xít hay chủ
nghĩa quân phiệt, Trung Quốc, cùng với các quốc gia khác ở
Đông Á, ngày càng được xác định bởi chủ nghĩa dân tộc
cũ: thật vậy, là một lý tưởng, nhưng nó không phải là thứ
chủ nghĩa dân tộc mà kể từ giữa thế kỷ 19 đã hấp dẫn
được nhiều nhà trí thức. Và ngay cả nếu Trung Quốc trở
nên dân chủ hơn, chủ nghĩa dân tộc của nó chỉ có khả năng
tăng lên nếu như một một cuộc khảo sát ngẫu nhiên các quan
điểm của cư dân mạng tương đối được tự do bày tỏ sẽ
cho thấy rõ.
Chúng ta thường nghĩ chủ nghĩa dân tộc là một thứ cảm tính
phản ứng tự nhiên, một di tích của thế kỷ 19. Tuy nhiên,
chính chủ nghĩa dân tộc truyền thống là động cơ thúc đẩy
chính trị ở châu Á, và sẽ tiếp tục làm như vậy. Chủ
nghĩa dân tộc này đang dẫn đến sự phát triển của quân
đội trong khu vực, chủ yếu là lực lượng hải quân và lực
lượng không quân, đặc biệt là để bảo vệ chủ quyền và
tranh chấp cho cho các nguồn năng lượng thiên nhiên. Cũng chẳng
có sự tranh chấp ý thức hệ ở đây. Tất cả là một logic
lạnh lùng của cán cân quyền lực. Biển Nam Trung Hoa (Biển
Đông) là nơi chủ nghĩa hiện thực có tính cương quyết liên
minh với chủ nghĩa dân tộc đang được thể hiện ở một
mức độ nào đó.
Dù bất cứ vở kịch ý thức hệ nào xảy ra ở Đông Á đều
sẽ mang hình thức quyền lực chính trị khô cứng làm nhiều
nhà trí thức và các nhà báo bị tê liệt. Như ngài Thucydides
đã nói một câu rất đáng nhớ về sự chinh phục đảo Melos
của Athens cổ đại, "Kẻ mạnh làm những gì họ muốn, kẻ
yếu phải chịu đựng những gì họ phải chịu đựng." Trong
bối cảnh lập lại ở thế kỷ 21, Trung Quốc trong vai trò của
Athens với sức mạnh ưu việt trên biển trong khu vực, kẻ yếu
vẫn sẽ phải phục tùng – chỉ có vậy. Đây là chiến lược
không được tuyên bố của Trung Quốc, và các nước nhỏ hơn
trong khu vực Đông Nam Á có thể phải hợp tác với Hoa Kỳ
để tránh số phận của dân Melós. Tuy nhiên sự tàn sát sẽ
không xảy ra.
Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) báo trước một hình thức xung
đột khác hơn so với những gìi mà chúng ta quen thuộc. Từ
đầu thế kỷ 20, chúng ta đã bị ám ảnh một mặt bởi các
cuộc đụng độ lớn, vũ khí quy ước trên đất liền, và
mặt khác bởi các cuộc chiến tranh khác nhỏ và bất thường
khác nhưng bẩn thỉu. Bởi vì cả hai loại chiến tranh đều
tạo ra thương vong dân sự khủng khiếp, chiến tranh là một
chủ đề cho nhà nhân bản cũng như các vị tướng tá. Nhưng
trong tương lai, chúng ta chỉ có thể thấy một hình thức xung
đột tinh khiết hơn, giới hạn trong lĩnh vực hải quân. Đây
là một kịch bản tích cực. Xung đột không thể được loại
bỏ hoàn toàn trong cuộc sống con người. Một chủ đề trong
"Discourses On Livy" (nghị luân về Livy) của Machiavelli là nếu
xung đột được sự kiểm soát hợp lý, có nhiều khả năng
hơn là so với sự ổn định cứng nhắc để dẫn đến tiến
bộ nhân loại. Một vùng biển tập trung đông đúc các tàu
chiến không mâu thuẫn với một kỷ nguyên hứa hẹn tuyệt
vời cho khu vực châu Á. Sự bất an thường tạo nên tính năng
động.
Tuy nhiên, xung đột ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) có thể
được kiểm soát hợp lý không? Với lập luận của tôi như
trên, tôi phỏng đoán rằng cuộc chiến tranh lớn sẽ không
xảy ra trong khu vực và thay vào đó các quốc gia sẽ chỉ dùng
các tàu chiến tranh giành những vị trí trong vùng biển, trong
khi có những tuyên bố tranh giành các nguồn tài nguyên thiên
nhiên và thậm chí có thể đồng ý với nhau một bản phân chia
công bằng. Nhưng nếu như Trung Quốc, dựa vào những xu hướng
chứng cứ hiện tại, xâm lược Đài Loan? Điều gì sẽ xảy ra
nếu Trung Quốc và Việt Nam, với sự tranh chấp dữ dội kéo
dài từ quá khứ lịch sử, đi đến chiến tranh như họ đã
làm trong năm 1979, với nhiều vũ khí gây chết người nhiều
hơn lần này? Không chỉ có Trung Quốc đang xây dựng lực
lượng quân sự đáng kể, các nước Đông Nam Á cũng đang làm
như vậy. Ngân sách quốc phòng của họ đã tăng lên khoảng 1/3
trong thập kỷ qua trong khi ngân sách quốc phòng châu Âu lại
đang tụt giảm. Nhập khẩu vũ khí cho Indonesia, Singapore, và
Malaysia đã tăng lên 84%, 146%, và 722% theo thứ tự, kể từ năm
2000. Chi tiêu nền tảng là cho hải quân và không quân: tàu
nổi, tàu ngầm với các hệ thống tên lửa tiên tiến, và các
máy bay chiến đấu tầm xa. Việt Nam gần đây đã chi 2 tỷ
để mua 6 tàu ngầm hạng Kylo của Nga thuộc loại kỷ thuật cao
và 1 tỷ cho các máy bay chiến đấu của Nga. Malaysia đã mở
một căn cứ tàu ngầm trên đảo Borneo. Trong khi Hoa Kỳ đã và
đang bị phân tâm bởi cuộc chiến tranh ở Trung Đông, sức
mạnh quân sự đã được lặng lẽ chuyển từ châu Âu đến
châu Á.
Hoa Kỳ hiện nay đảm bảo tình hình không thoải mái giữ
nguyên trạng ở biển Nam Trung Hoa, hạn chế sự hung hăng của
Trung Quốc không đi quá biên giới và phục vụ như một viên
kiểm tra các nhà ngoại giao và hải quân của Trung Quốc (mặc
dù không thể nói rằng Mỹ trong sạch trong hành động của
mình và Trung Quốc tự động là kẻ côn đồ). Những gì Hoa
Kỳ cung cấp cho các nước của khu vực Biển Nam Trung Hoa (Biển
Đông) thực tế không dựa nhiều vào giá trị đạo đức dân
chủ mà thực tế là dựa vào sức mạnh. Chính sự cân bằng
sức mạnh giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc giúp giữ Việt Nam, Đài
Loan, Philippines, Indonesia, Singapore, và Malaysia được tự do và
có khả năng để đối chọi lẫn nhau bằng chính sức mạnh
của mình. Và trong không gian tự do đó, chủ nghĩa khu vực có
thể xuất hiện như là một sức mạnh riêng dưới hình thức
của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Tuy nhiên, sự
tự do như vậy không nên được lợi dụng và xem thường. Vì
sự bế tắc đang diễn ra căng thẳng giữa Hoa Kỳ và Trung
Quốc – bao gồm nhiều chủ đề phức tạp từ thương mại cho
đến cải cách tiền tệ, an ninh mạng internet cho đến giám sát
tình báo - có nguy cơ chuyển thành có lợi cho Trung Quốc ở
Đông Á, chủ yếu là do Trung Quốc có vị trí địa lý nằm ở
trung tâm của khu vực.
Tổng kết toàn diện nhất cho cảnh quan địa lý chính trị
của châu Á không phải đến từ Washington, Bắc Kinh, nhưng từ
Canberra. Trong một bài viết dài 74 trang được công bố năm
ngoái, "Power Shift: Australia's Future Between Washington and Beijing"
(Sự chuyển đổi sức mạnh: Trương lai Úc giữa Washington và
Bắc Kinh) của Hugh White, một giáo sư nghiên cứu chiến lược
tại Đại học Quốc gia Úc, mô tả đất nước của ông như
là một quyền lực tinh túy giữ được "nguyên trạng" – Úc
vừa muốn tình trạng ở Châu Á vẫn được giữ y nguyên với
Trung Quốc tiếp tục phát triển để Úc có thể giao thương
ngày càng nhiều với Trung Quốc, trong khi muốn Mỹ vẫn là
"quyền năng mạnh nhất ở châu Á," để làm người bảo vệ
cuối cùng cho Úc". Tuy nhiên, như ông White viết, vấn đề là
cả hai việc này không thể tiếp tục. Châu Á không thể tiếp
tục thay đổi kinh tế mà không thay đổi chính trị và chiến
lược, nền kinh tế khổng lồ của Trung Quốc tự nhiên sẽ
không hài lòng với tính ưu việt quân sự của Mỹ ở châu Á.
Vậy Trung Quốc muốn gì? Ông White giả thuyết rằng Trung Quốc
có lẽ mong muốn mình thành loại đế chế mới ở châu Á theo
phong cách mà Hoa Kỳ đã thiết lập được ở Tây bán cầu sau
khi Washington đã bảo đảm sự thống trị trên vùng biển
Ca-ri-bê (cũng như Bắc Kinh hy vọng nó sẽ làm được ở biển
Nam Trung Hoa). Một đế chế theo phong cách mới này, theo lời
ông White, có nghĩa là các nước láng giềng của Mỹ có "ít
nhiều sự tự do để điều hành quốc gia của riêng họ", ngay
cả khi Washington khẳng định rằng quan điểm của mình được
"xem xét đầy đủ" và được ưu tiên hơn những quyền lực
bên ngoài. Vấn đề với mô hình này là Nhật Bản, quốc gia
này có lẽ sẽ không chấp nhận quyền bá chủ của Trung Quốc,
bất kể nó mềm mỏng như thế nào. Vậy chỉ còn cách theo mô
hình Hiệp hội Châu Âu, trong đó Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật
Bản, Hoa Kỳ, và có lẽ một vài quốc gia khác nữa sẽ ngồi
xuống với nhau xem nhau là cường quốc bình đẳng ở châu Á.
Nhưng liệu Hoa Kỳ sẽ chấp nhận một vai trò khiêm tốn không,
vì Mỹ có liên quan đến sự thịnh vượng và ổn định ở
châu Á nhờ vào tính ưu việt riêng của Mỹ? Ông White giả
thuyết rằng đối với quyền lực đang tăng của Trung Quốc,
sự thống trị của Mỹ từ nay trở đi có thể có nghĩa là
sự bất ổn định cho châu Á.
Sự thống trị của Mỹ được xác định trên quan niệm rằng
vì Trung Quốc độc đoán ở nội quốc sẽ hành động "không
thể chấp nhận được ở nước ngoài". Nhưng mà điều này có
thể không được như vậy, White lập luận. Quan niệm riêng
của Trung Quốc là chính nó chỉ là một quyền lực hiền lành,
không có ý bá quyền, không can thiệp vào những ý thức hệ
của các nước khác theo kiểu của Hoa Kỳ làm với lối can
thiệp ý thức hệ của nó. Bởi vì Trung Quốc tự xem mình là
Vương quốc trung tâm ở trần gian, cơ sở của sự thống trị
dựa vào ý tưởng trung tâm vốn có của nó với lịch sử thế
giới, chứ không phải là bất kỳ hệ thống chính trị nào mà
nó tìm cách xuất khẩu.
Nói cách khác, chính Hoa Kỳ, chứ không phải Trung Quốc, có
thể là vấn đề trong tương lai. Chúng ta ló lẽ quan tâm quá
nhiều về bản chất nội bộ của chế độ Trung Quốc và tìm
cách hạn chế sức mạnh của Trung Quốc ở nước ngoài bởi
vì chúng ta không thích các chính sách nội bộ của nó. Thay vào
đó, mục tiêu của Mỹ ở châu Á nên là sự cân bằng quyền
lực, chứ không phải thống trị. Chính xác là bởi vì sức
mạnh chuyên chế vẫn là chìa khóa trong các quan hệ quốc tế
mà chúng ta phải nhường chỗ cho một Trung Quốc đang lên. Hoa
Kỳ không cần phải tăng cường sức mạnh hải quân của mình
ở Tây Thái Bình Dương, nhưng cũng không nên giảm thiểu sức
mạnh đó.
Sự thiếu vắng một hạm đội Mỹ ở Tây Thái Bình Dương do
cắt giảm ngân sách hoặc được tái bố trí ở Trung Đông có
thể gây ra các cuộc thảo luận căng thẳng trong khu vực về
sự suy giảm của Mỹ và hậu quả là sự thay đổi và các
thỏa thuận bên lề với Bắc Kinh. Tình hình tối ưu là sự
hiện diện của không quân và hải quân Hoa Kỳ ít nhiều ở
mức độ hiện tại, ngay cả khi Hoa Kỳ thực hiện tất cả
trong quyền lực của mình để tạo các mối quan hệ thân mật
và có thể dự đoán trước được với Trung Quốc. Bằng cách
đó, Mỹ có thể điều chỉnh theo thời gian đối với lực
lượng hải quân của Trung Quốc. Trong các vấn đề quốc tế,
đằng sau tất cả các câu hỏi về ý thức hệ đạo đức là
các câu hỏi về quyền lực. Sự can thiệp nhân đạo tại khu
vực Balkan có thể làm được chỉ bởi vì chế độ Serbia đã
yếu, không giống như chế độ của Nga kẻ đã phạm tội ác
với quy mô tương tự tại Chechnya trong khi phương Tây đã không
làm gì được. Ở Tây Thái Bình Dương trong những thập kỷ
tới, ý thức hệ đạo đức có thể có nghĩa là phải từ bỏ
một số những lý tưởng mà chúng ta trân quý nhất chỉ vì
lợi ích của sự ổn định. Còn cách nào khác mà chúng ta co
thể làm để nhường chỗ cho một Trung Quốc độc tài trong khi
quân lực của nó phình to? Chính sự cân bằng quyền lực,
thậm chí còn hơn các giá trị dân chủ của phương Tây, là
sự bảo vệ tốt nhất cho tự do. Ngay cả điều này, cũng sẽ
là một bài học của vùng biển Nam Trung Hoa trong thế kỷ 21,
mà các nhà lý tưởng không muốn nghe.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10489), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét