Điều đấy không phải là mới. Ý tưởng về một con đường
đặc biệt của châu Á đã phổ biến ở Viễn Đông trước khi
Trung Quốc bước lên sân khấu thế giới như là một cường
quốc kinh tế. Khi cái được gọi là "những con hổ châu Á"
– Singapore, Hongkong, Đài Loan và Hàn Quốc – đạt đến những
tỷ lệ tăng trưởng cao, các chính trị gia đã đưa ra lời
giải thích riêng của họ.
Đặc biệt là nguyên thủ tướng Malasia Mahathir Mohamad
và đồng nhiệm của ông từ Singarpore, Lý Quang Diệu, đã giải
thích thành công của đất nước của họ với "những giá
trị Á châu". Các chính trị gia thản nhiên đáp trả những
người phê bình chỉ trích về đàn áp chính trị và những
điều kiện làm việc khắt nghiệt trong các nhà máy và vùng
kinh tế đặc biệt của họ, những nơi sản xuất rẻ tiền
để xuất khẩu sang châu Âu và châu Mỹ và đã trở thành
gương mẫu cho nhà cải cách kinh tế Trung Quốc Đặng Tiểu
Bình: làm việc cực nhọc và kỷ luật quan trọng hơn là có
phần và thảo luận.
Mahathir, một bác sĩ đã qua đại học, tiếp đồng
nghiệp tôi, Erich Follath, và tôi vào một buổi sáng trời mưa
trong tháng 10 năm 1997, ngay giữa cuộc khùng hoảng tài chính
châu Á. Ông ấy ngồi trong một gian phòng tối tăm ở sau một
bàn làm việc to trong áo đồng phục của viên chức Malasia,
một cái bảng tên màu đen trước ngực: Mahathir.
Ông có một vài cái máy tính xách tay kiểu mới nhất
xung quanh mình. Ông ấy nói với một giọng nói nhẹ nhàng:
"Các phương án phương Tây về dân chủ mà trong đó cá nhân
chiếm ưu thế đang đe dọa thống lĩnh Malasia." Và: "Phương
Tây ép buộc chúng tôi theo những ý tưởng của nó. Ở chỗ
các ông thì gia đình không còn có nghĩa là vợ và chồng và con
cái của họ nữa. Đồng tính luyến ái được phép kết hôn,
diễu hành trên đường phố. Người ta chạy truồng đó đây.
Chúng tôi không muốn điều đó. Trước sau gì thì chúng tôi
cũng tin vào gia đình, vào sức mạnh của nguồn gốc văn hóa
chúng tôi."[1]
Sau thời gian đảm nhiệm chức vụ, Lý Quang Diệu đã
tạo cho mình một chức vụ có một không hai, lúc đầu là
Senior Minister, rồi sau đó là Minister Mentor, người ta cũng có
thể gọi là Giáo chủ Tóc bạc. Cũng như Mahathir, ông không
phải là một nhà dân chủ. Trong những hồi ký của mình, ông
say sưa với việc Tòa thánh Vatican bổ nhiệm các Hồng y của
mình như thế nào. Và ông đã tổ chức People's Action Party
của mình theo gương mẫu đó.[2]
Ông làm việc trong một gian phòng khiêm nhường ở
góc của một dinh thự chính phủ từ thời thuộc địa, được
canh gác bởi những người lính Gurkha trong áo đồng phục màu
xanh và nón có vành rộng màu xám, ngay giữa một công viên lớn
ở Singapore. Tôi đã gặp ông ấy ở đó hai lần. Là Senior
Minister, ông tiếp khách trong một chiếc áo len đan và thích
giảng giải về mục tiêu lý tưởng của ông ấy cho một chính
phủ châu Á: "Đối với một người Mỹ, có thể đó là
được sự tự do không giới hạn để phát triển bản thân
mình. Đối với tôi là một người châu Á, người dẫn một
đất nước ra khỏi nghèo khổ, thì điều đấy có nghĩa là:
tạo cho người dân có một căn hộ thoải mái, lo về một nền
y tế tốt và công việc làm, cũng như lo cho con cái của họ
được đào tạo và có một tương lai đàng hoàng."[3]
Tất cả những phân tích này đều có một hạn chế
nặng ký: chúng được đưa ra bởi những chính khách lãnh đạo
thần dân của họ với một bàn tay cứng rắn. Các "giá trị
châu Á" phục vụ họ như một lời biện bạch cho những cách
xử sự độc tài. Cả hai người, Lý ở Singapore và Mahathir ở
Malasia, đều tống khứ những người chỉ trích họ đi bằng
cách để cho những người này – theo một "Luật Nội an"
được giữ lại từ thời thực dân Anh – biến mất ở phía
sau song sắt mà không cần đến phán xét của tòa án. Mahathir
loại trừ Phó Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Tài chính của
ông ấy, Anwar Ibrahim, người dấn đến quyền lực, bằng cách
ném người cha của sáu đứa con ấy vào tù với lời buộc
tội lạm quyền và đồng tính luyến ái.
Lý người Singapore và đồng nghiệp của ông đã hại
các địch thủ chính trị như luật sư và chính trị gia đối
lập Joshua Benjamin Jeyaretnam với những lời buộc tội làm hại
đến thanh danh và yêu cầu bồi thường khổng lồ. Một nhóm
tinh hoa nhỏ điều khiển quốc đảo Singapore, lãnh đạo chính
phủ hiện giờ là một người con trai của Lý, Hiển Long. Vợ
của ông ấy một thời gian dài đã lãnh đạo công ty đầu tư
nhà nước Temasek với hơn 100 tỉ euro.
Thế nhưng cuộc khủng hoảng tài chính thứ nhất đã
ập đến vào năm 1997. Nó bắt đầu ở Thái Lan, nơi chính phủ
phải bất lực đứng nhìn những kẻ đầu cơ tống khứ đi
hàng triệu baht, sau khi họ đã đánh cược chống lại tiền
tệ của Thái Lan. Các nhà đầu tư ngoại quốc rút bạc tỉ ra
khỏi nước này. Ngân hàng Trung ương Thái Lan thả nổi tự do
tỷ giá hối đoái, cái cho tới lúc đó được gắn vào dollar,
đồng baht rơi xuống đến tận đáy.
Malaysia, Singapore, Indonesia, Hàn Quốc bị rơi vào dòng
xoáy. Ở Bangkok, tôi đã tận mắt nhìn thấy các nhân viên ngân
hàng từng giàu sụ đã tắt đèn và máy điều hòa nhiệt độ
và kéo cửa chớp ngân hàng của họ xuống vĩnh viễn như thế
nào. Trong thủ đô Thái Lan, cần cẩu đứng yên, doanh nhân còn
bán cả trang sức của họ, chiếc Porsche của họ và rượu vang
Pháp đắt tiền của họ trên cái được gọi là "Chợ trời
của những người giàu trước kia". Ở Seol, người dân hiến
kim cương để giúp nhà nước thoát khỏi khó khăn, ở Indonesia
hàng triệu người bất thình lình không biết được là mình
lấy bữa ăn kế tiếp ở đâu ra. Hàng nghìn trẻ em bỏ học
vì các em phải đi tìm cái gì đấy để ăn.
IMF ban hành những chương trình tiết kiệm nghiêm
ngặt. Trong lúc đó có một cảnh gây ấn tượng mà nhiều
người châu Á cho tới ngày nay vẫn còn cảm nhận như là một
sỉ nhục nặng nề: Sau một thời gian dài chống lại, Tổng
thống Suharto ký kết hợp đồng vay tiền với IMF. Đứng bên
cạnh ông, khoanh tay bình thản và hài lòng nhìn xuống, là sếp
IMF thời đấy Michel Camdessus. Chẳng bao lâu sau đấy, Suharto bị
lật đổ.
Cùng với cuộc khủng hoảng, bài hát ca ngợi các giá
trị "châu Á" cũng câm lặng đi. "Cũng như tiền tệ, chúng
đã bị giảm giá", nhà khoa học người Singapore Simon Tay phán
xét.[4]
Nhưng cho tới ngày hôm nay, chính trị gia và khoa học
gia vẫn giải thích cách thức hoạt động quốc gia của họ
với ảnh hưởng to lớn của những đặc tính châu Á. Han Sung
Joo, trước đây là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Hàn Quốc,
người đã nghiên cứu tỉ mỉ về các nền tảng của sự
thành công, tin rằng những đặc tính như vậy trước sau vẫn
ăn sâu không chỉ ở Trung Quốc, Malasia hay Singapore, mà cũng cả
trong nhiều quốc gia châu Á khác. Han hiểu điều đấy như
"một nhà nước gia trưởng, một chính phủ điều khiển,
doanh nghiệp tư nhân" cũng như sự nhấn mạnh đến "trật
tự xã hội, hài hòa và kỷ luật" – ngược với "minh
bạch, có thể đoán trước được, khả năng cạnh tranh toàn
cầu và trọng lượng của sáng kiến tư nhân", những cái nói
chung là được mang vào trong mối quan hệ với những giá trị
phương Tây.
Chúng ta hãy nhìn Nhật Bản: đất nước này là một
xã hội châu Á mà trong đó tìm kiếm một đồng thuận có ảnh
hưởng đến cách cư xử mạnh hơn là đương đầu công khai và
phê bình. Sau thảm họa thiên nhiên và nguyên tử 2011, theo cách
nhìn của giới tinh hoa Nhật, thủ tướng Naoto Kan đã bước ra
khỏi vai trò của mình khi ông lớn tiếng phê bình các giám
đốc bất lực của tập đoàn năng lượng Tepco vì họ đã
không kiểm soát được các lò phản ứng của họ ở nhà máy
điện nguyên tử Fukushima.[5]
Thành công kinh tế trước đây của Nhật Bản, Han
nói, nằm trong hoài bão của giới tinh hoa nước này, muốn trở
thành một đất nước giàu có và hùng mạnh về quân sự.
Ở Hàn Quốc, các ý tưởng truyền thống và đạo
Khổng hợp thành một hệ thống giá trị, cái đặt trọng tâm
lên đào tạo, kỷ luật lao động, định hướng đến kết
quả và vai trò dẫn đầu của chính phủ. Thêm vào đó, vì xung
đột với Triều Tiên, là một "văn hóa quân đội", và sự
pha trộn này đã dẫn đến một "sự lệ thuộc quá mức vào
quan hệ cá nhân, đến một hệ thống của những doanh nghiệp
gia đình, đến câu kết giữa chính phủ và kinh doanh, thiếu
minh bạch … và quan liêu đầy dẫy".
Sự vươn lên của châu Á có thật sự là nhờ vào
một mô hình đặc biệt hay không, một mô hình mà cần phải
tìm chiếc chìa khóa cho sự thành công của nó ở xa những cái
được gọi là giá trị của phương Tây?
<h2>Những nền dân chủ không có nhà dân chủ</h2>
Các nhà tư tưởng hiện đại của châu Á như Han hoài nghi
việc đấy. Vì các giá trị "châu Á" mang một hạn chế to
lớn cùng với nó: chúng đặt quan hệ cá nhân, chính phủ gia
trưởng và khiển trách đạo đức lên trên minh bạch, trách
nhiệm đối với công cộng, sáng kiến cá nhân và quy định
theo luật pháp và tạo nhiều chỗ hơn nữa cho kinh tế móc
ngoặc, quan liêu và tham nhũng – theo Han "một hiện tượng
phổ biến trong tất cả các nước châu Á ngoại trừ một ít
trường hợp ngoại lệ".
Thêm vào đó, những truyền thống như thế hoàn toàn
không bắt buộc phải đứng cản đường dân chủ. "Trong
những thập niên vừa qua chúng ta đã nhìn thấy nhiều nước
châu Á đã biến đổi trở thành những nền dân chủ chính
trị, bao gồm Nhật Bản, Indonesia, Hàn Quốc, Đài Loan và
Philippines. Ấn Độ đã là một nền dân chủ kể từ khi độc
lập sau Đệ nhị thế chiến. Tất cả đều có những lần
bầu cử có ý nghĩa và quy củ, tạo nên các chính phủ được
bầu. Họ hưởng quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận và
các tổ chức chính trị … Những nước khác như Thái Lan, Mông
Cổ và Malaysia đang kiên định bước đi theo hướng dân chủ
tuy thỉnh thoảng còn bị giật lùi."[6]
Ở đây thì Han rất lạc quan. Vì phần lớn các quốc
gia châu Á cho tới nay là "những nền dân chủ không có nhà
dân chủ", theo như nhà chính trị học người Indonesia Fadjroel
Rachman, thường bị thống trị bởi những gia đình giàu có,
chính trị gia tham nhũng và giới quân đội, trong trường hợp
tồi tệ nhất là bởi cả ba nhóm.
Hàng năm tổ chức New York Freedom House đo tình trạng
tự do chính trị, kết quả cho châu Á năm 2010 không được
tốt. Trong số 29 nước được khảo sát ở châu Á và Thái
Bình Dương có 16 nước "tự do", 15 "tự do một phần" và
8 "không tự do".[7]
Triều Tiên là một trường hợp như thế – một hệ
thống độc tài đóng kín. Láng giềng Trung Quốc to lớn của
nó ngược lại không thỏa mãn các tiêu chuẩn thông thường
của một chế độ độc tài như chúng ta đã biết từ Liên
bang Xô viết hay Romania. Bắc King cho phép phần lớn công dân có
những quyền tự do cá nhân và kinh tế, như tự do làm giàu,
tự do ra nước ngoài, tự do lựa chọn nghề nghiệp. Và tuy
vậy, ĐCS kiểm tra chặt chẽ báo chí và tư pháp.
Nếu như người ta đưa bầu cử quốc hội ra làm
thước đo duy nhất cho một nền dân chủ, thì ngay cả Myanmar,
Campuchia hay Singapore cũng dân chủ. Sự thật là những nước
này ngược lại: cả ba quốc gia bị thống trị bởi hoặc một
phe cánh quân đội, chính khách độc tài hay một nhóm tinh hoa
nhỏ, những người tuy để cho bầu cử nhưng đe dọa, bỏ tù,
giết chết hay đẩy những địch thủ của họ đến tình
trạng phá sản và không cho người nào nắm lấy quyền lực mà
không có sự ưng thuận và thiện cảm của họ.
Ấn Độ được xem là nền dân chủ lớn nhất thế giới.
Thật sự là giới truyền thông liên tục vạch trần các chính
khách tham nhũng, nền tư pháp hoạt động độc lập, trên 700
triệu người có quyền bầu cử trong 28 tiểu bang thường xuyên
được phép bỏ phiếu. Bang Uttar Pradesh ở Bắc Ấn còn được
lãnh đạo bởi một nữ thủ hiến từ đẳng cấp Dalit thấp
nhất, "tiện dân". Bà có tên là Mayawati và đã tự cao cho
dựng lên nhiều tượng riêng của mình. Ở đó và cũng ở
những nơi khác, đảng "tiện dân" của bà giành được sự
yêu mến của người dân và ảnh hưởng. Đảng Cộng sản Ấn
Độ (Mác-xít) chiếm ưu thế trong bang Tây Bengal.
Và tuy vậy: tham nhũng và bảo hộ [patronage] đầy
dẫy. Chính trị ở Ấn Độ trong nhiều phần lớn đã suy thoái
trở thành một hoạt động gia đình. Indira Gandhi đã là nữ
thủ tướng 15 năm và đã nhanh chóng bãi bỏ nền dân chủ từ
1975 đến 1977, lãnh đạo bằng chỉ thị và cho bắt giam giới
đối lập. Sau khi bà bị giết chết, người con trai Rajiv, một
phi công không có kinh nghiệm về chính trị, trở thành người
đứng đầu chính phủ.
Từ khi ông bị một kẻ ám sát người Tamil giết
chết năm 1991, người vợ góa Sonia của ông, một phụ nữ gốc
Ý, nắm quyền trong Đảng Quốc Đại. Dường như không làm
được điều gì mà không có bà ấy. Áp phích với ảnh của
bà và người chồng đã qua đời được treo trên đường phố
Mumbai trong tháng 4 năm 2001: "Chúng tôi cảm ơn", chúng tuyên
bố, rằng Sonia Gandhi đã bổ nhiệm chính trị gia B. K. Hariprasad
vào chức vụ CWC & Gen Secretary AICC, một chức vụ cao trong
đảng. Gia đình này hẳn sẽ tiếp tục đóng một vai trò trong
tương lai của Ấn Độ: Rahul con trai của Sonia cũng là một
chính khách.
Nhiều nghị sĩ và bộ trưởng trên bình diện liên
bang và tỉnh hiện giờ cũng là những người "kế thừa":
con trai, con gái, con dâu và con rể đạt những chức vụ quan
trọng, trên con đường đi đến đó, nhiều tiền bạc đã
được rót ra, nhiều quà cáp đã được mang tặng.[8]
Một xã hội dân sự sống động đặt dấu ấn lên
đời sống chính trị và xã hội của Philippines. Sau chế độ
độc tài kéo dài 21 năm của Ferdinand Marcos, từ năm 1986 báo
chí được tự do và mang tính phê bình, các cuộc bầu cử là
dân chủ, nếu như các đảng phái không lại cố gắng lén mang
phiếu bầu cho ứng cử viên của mình vào thùng phiếu và
đồng thời đánh cắp phiếu của địch thủ với mánh khóe
được gọi là "dagdag-bawas". Tuy vậy, các cấu trúc phong
kiến vẫn không đổi từ nhiều năm nay: từ trước tới nay,
thống trị Philippines vẫn là những gia đình có nhiều ảnh
hưởng, có quân đội riêng và – khi cần thiết với bạo lực
– lo sao cho quyền lực của họ không bị xâm phạm. Năm nào
cũng có nhà báo, những người đụng đến các đề tài gây
khó chịu, bị kẻ lạ bắn chết.
Trong thời gian tranh cử tổng thống năm 1998, tôi đã
đến thăm đồn điền rộng 100 ha "Balbina" của nhà đại
công nghiệp giàu sụ Eduardo Cojuangco, người ủng hộ diễn viên
Joseph Estrada tranh cử. Người hầu gái trong áo váy hoa dùng
những cây quạt sặc sỡ đuổi ruồi ra khỏi bàn tiệc búp phê
nhiều giờ liền, trên sân hiên cạnh bể bơi có người hầu
mời kem. Cạnh đó, Cojuangco đã cho người dựng một sân chọi
gà cho công nhân của ông ấy. Trong vườn có một nhà cầu
nguyện mà Cojuangco đã xây cho Gretchen vợ của ông nhân dịp
kỷ niệm ngày cưới.
Bà ấy gốc Đức – "Ông cố của tôi ở Dresden"
– và chào mừng khách một cách lão luyện trong lúc Estrada còn
chưa đến. Thượng nghị sĩ, nghị sĩ và những người muốn
trở thành như thế uống nước cam lạnh trong phòng khách. Cuối
cùng, Estrada được bầu nhờ vào sự giúp đỡ của giới đại
địa chủ – và sau đó đã vào tù vì tham nhũng.
Cho đến nay, chính trị gia Philippines không thành công
– hay không muốn – xóa bỏ nạn nghèo đói cùng cực. Hàng
triệu người, một phần được đào tạo tay nghề tốt, phải
để cho người khác bóc lột mình ở nước ngoài như là
người giúp việc trong gia đình, trước hết là ở Hongkong, vì
thị trường lao động trong nước không cho họ có được một
cơ hội. Hiện giới chính khách đang thảo luận liệu chuyển
đổi từ tổng thống chế sang hệ thống quốc hội có mang
lại cải tiến hay không.
Người Thái đi bầu thường xuyên, nhưng bầu cử mang dấu ấn
của mua phiếu và lừa đảo. Họ gọi đêm trước ngày bầu
cử là "đêm của những con chó tru". Do chó sủa vang vì có
nhiều người lạ trà trộn vào làng để dùng tiền mà thuyết
phục người dân đặt cái dấu chéo vào đúng chỗ.
Ngự ở trên tất cả là nhà vua đau bệnh Bhumibol,
người thể theo Hiến pháp không có nhiều quyền hành nhưng
lại có ảnh hưởng lớn và được người dân tôn sùng. Nhằm
không để cho hình ảnh và kinh doanh của hoàng gia bị soi xét
quá tỉ mỉ, người ta cấm lăng mạ nhà vua, một đạo luật
mà theo đó tất cả mọi nhận xét mang tính chỉ trích về gia
đình cao cả đấy đều có thể bị phạt. Trong quá khứ, giới
quân đội đã thường đảo chính, từ 1932 là 18 lần. Với
lần đảo chính cho tới nay là cuối cùng của họ, quân đội
đã hạ bệ một thủ tướng tinh ranh nhưng được bầu lên
một cách dân chủ là Thaksin Shinawatra. Thaksin, nguyên là cảnh
sát, người trở nên giàu có trong kinh doanh viễn thông, đã
dùng bạc tỉ của mình để mua một đảng và đã lôi kéo
đặc biệt là những người đi bầu trong vùng nông thôn về
phía mình bằng những chương trình được lòng dân như chăm
sóc y tế rẻ tiền hơn.
Năm 2010, Bangkok bị đe dọa sẽ chìm vào trong hỗn
loạn, khi những người thuộc phe Thaksin, được gọi lả "Áo
Đỏ", đã làm tê liệt Bangkok nhiều ngày. Quân lính nổ súng
vào những người đi biểu tình, nhà cháy, 91 người chết.
Trước đấy, những người "Áo Vàng", địch thủ của
Thaksin, đã chiếm cảng hàng không mới. Thế nhưng vào tù cho
tới nay chỉ là những người thuộc phe của nhà tỉ phú –
việc tạo bất an lớn trong giới công cộng mang nhiều tính phê
bình của Thái Lan.[9] Trong tháng 7 năm 2011, Thaksin, người trong
thời gian vừa rồi bị kết án tham nhũng, từ nơi lưu vong đã
thành công trong việc mang quyền lực đến cho Yingluck em gái
của ông ấy – một phụ nữ kinh doanh hoàn toàn không có kinh
nghiệm trong chính trị thế nhưng lại thắng lớn trong những
lần bầu cử.
Nhật Bản, đất nước trước thảm họa động đất
và sóng thần trong tháng 3 năm 2011 là nước châu Á mạnh thứ
nhì về kinh tế, là một nền dân chủ đại nghị, dựa vào mô
hình Anglo-Saxon. Thế nhưng nhiều thập niên liền chỉ có Đảng
Dân chủ Tự do là đứng đầu mà chính trị được tiến hành
trong những hậu phòng của nó và trong đó thủ tướng được
thương lượng theo nguyên tắc người bảo hộ [patronage]. Hậu
quả là chính trị và kinh tế quan hệ chặt chẽ, quan liêu
mạnh. Nhân viên các bộ có ảnh hưởng đến những quyết
định của chính phủ nhiều hơn là trong những nước khác.[10]
Indonesia, với gần 238 triệu dân là đất nước Islam
lớn nhất thế giới, năm 1998 đã vứt bỏ chế độ độc tài
của nhóm Suharto và "Trật tự Mới" của ông ấy, cái giao
cho giới quân đội một vai trò mạnh. Trong lần bầu cử Quốc
Hội năm 2009 có 38 đảng ra tranh cử, tuy vậy, cuộc tranh cử
giằng co về chính sách chính trị thì ít mà nhiều hơn là về
nhân sự. Quân đội, dưới thời Suharto đã cùng quản lý đất
nước, mất ảnh hưởng, thế nhưng giới tinh hoa cũ trước sau
vẫn còn ngồi ở những vị trí quan trọng và ngăn cản không
cho những vi phạm quyền con người từ thời Suharto được mang
ra xét xử.
Vẫn còn chưa được chuộc lỗi là lần bắt cóc và
giết chết những người đối lập, trong số họ có nhiều sinh
viên, vào cuối những năm 90 bởi đơn vị đặc nhiệm
"Kopassus" của quân đội. Đơn vị này được lãnh đạo
bởi một người con rể của Suharto, Prabowo Subianto.
"Người nhà Suharo sống không tệ đâu", Franz
Magnis-Suseno nói với tôi, một linh mục Dòng Tên có gốc Đức
với tóc bạc trắng và tính thích áo in hoa. Nhà triết học 74
tuổi và chuyên gia cho đạo đức học Java giảng dạy tại
trường Driyarkara của Dòng Tên về triết học ở Jakarta. Ông
ấy là một người khách mời nổi tiếng trong các seminar và
talk-show, cố gắng thuyết phục người dân Indonesia và qua đó
củng cố nền dân chủ. Ông ấy lên án tổng thống đã nói
dối. Chỉ khi thành công trong việc ngăn chặn tham nhũng,
Magnis-Suseno nói, thì Indonesia mới có cơ hội trở nên dân chủ
thật sự.
Đó là một con đường khó khăn, như người ta thấy
và một cái nhìn vào trong tạp chí chính trị nổi tiếng
"Tempo", trong bản tiếng Anh của số ra tháng 2 năm 2011, cho
thấy rõ. Trong đấy là về thuế quan của Jakarta, bộ phận đã
cho phép buôn lậu điện thoại Blackberry và rượu mạnh. Tiếp
theo sau đấy một trang là biểu đồ với hơn 147 tỉnh trưởng
và quận trưởng, những người hoặc đã bị tòa phán xử
hoặc bị tố cáo vì tội hối lộ hay tham ô tiền công. Và
cuối cùng, "Tempo" tường thuật về "Ủy ban triệt tiêu
tham nhũng", ủy ban mà đã bắt 24 nghị sĩ quốc hội. Ủy ban
này tố cáo họ đã nhận tiền của một chính trị gia, người
muốn trở thành phó giám đốc Ngân hàng Trung ương Indonesia
với sự giúp đỡ của họ.
Theo cách nhìn của phương Tây có hai nước châu Á là
câu chuyện thành công về dân chủ: Hàn Quốc và Đài Loan. Ở
đấy, những người từng là đối lập được bầu vào vị
trí lãnh đạo nhà nước, những người mà trong thời độc tài
hoặc đã ngồi trong tù hoặc là nằm trong danh sách chết của
tay sai chính phủ: ở Hàn Quốc là Kim Dae Jung và Đài Loan là
Chen Shui-bian.
Mặc dù vậy, Chen hiện lại ngồi tù – lần này
không phải là vì phê bình mà là vì tham nhũng. Cả vợ và con
trai cũng bị án. Vào cuối nhiệm kỳ thứ hai của mình, ông
đã bị đưa ra tòa – tuy đấy là một vụ gây tranh cãi nhưng
hầu như không một ai ở Đài Loan lại tin rằng những lời
buộc tội là hoàn toàn vô căn cứ.
Đồng thuận Washington, Đồng thuận Bắc Kinh, đạo
Khổng và tham nhũng. Châu Á vươn lên đến tầm to lớn mới
giữa những cực đó. Nhưng động cơ quan trọng nhất cho sự
tăng trưởng là Trung Quốc. Muốn hiểu được lần phục hưng
của châu Á, người ta phải tiến đến gần con rồng Trung
Quốc.
<em><strong>Hết chương "Về đạo Khổng …", mời các bạn
đón đọc chương kế tiếp: "Máu xanh và bài ca
đỏ"</strong></em>
______________
[1] "Wir umarmen den Teufel nicht" ["Chúng tôi không ôm lấy
quỷ"], Der Spiegel 44/1977
[2] Lý Quang Diệu: The Singapore Story: Memoirs of Lee Kuan Yew",
Prentice Hall, Singapore, 1999
[3] "Ein schrecklicher Taifun" ["Một cơn bão đáng sợ"], Der
Spiegel 15/1998
[4] Simon S. C. Tay: "Asia Alone", John Wiley & Sons, Singapore 2010
[5] Xem Wieland Wagner: "Der Zornige" ["Người giận dữ"], Der
Spiegel 14/2011
[6] Han Sung Joo: "Keynote-Speech, Lauch of the Center for the Study of
Governance", Workshop, Jakarta, 2008
[7] http://freedomhouse.org/images/Files/fiw/FH_rMOF_AP_2011_2.pdf
[8] Xem Patrick French: "India – A Portrait", Penguin Books, London
2011
[9] Cung cấp một cái nhìn tốt vào hậu trường của chính trị
Thái Lan là quyển sách bị cấm ở Thái của Paul M. Handley:
"The King never smiles", Yale University Press, New Haven and London,
2006
[10] Xem Francis Fukuyama, người trong "The End of History and The Last
Man" đã mô tả nền chính trị thỏa thuận của Nhận Bản;
Wolfgang Merkel trong "Demokratie in Asien" ["Dân chủ ở châu Á"]
đã cố gắng xem xét các hình thức chính phủ của từng nước
một theo những giá trị dân chủ của họ.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10663), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét