thượng</h2>
<h2>Bí quyết thành công của châu Á</h2>
Quảng trường Thiên An Môn có một sức thu hút đặc biệt
đối với tôi – cũng như đối với hàng triệu khách du lịch
Trung Quốc mà cái diện tích rộng lớn đó trong trung tâm của
Bắc Kinh đã thuộc vào trong chương trình nhất định phải tham
quan: nó là trái tim tượng trưng của Trung Quốc. Thế nhưng
đạn đã bay rít trên đầu tôi ở đấy vào chiều tối ngày 3
tháng 6 năm 1989. Cùng với hàng chục người biểu tình, tôi tìm
nơi ẩn nấp ở phía sau của một trong số những con sư tử
đá trước lực lượng quân đội đang bắn gục phong trào dân
chủ của Trung Quốc. Một hàng giậu cháy bừng bừng ngay bên
cạnh chúng tôi. Tài xế xích lô chở những người bị thương
đang la hét vào các bệnh viện ở gần đấy.
Tôi còn nhớ là vào cuối những năm 80, Đảng đã
đặt một bức ảnh của người thành lập nền cộng hòa, Tôn
Dật Tiên, trên quảng trường vào những ngày lễ, bên cạnh
ảnh của Mao Trạch Đông, Karl Marx, Friedrich Engels – và còn cả
của Josef Stalin nữa. Ngày nay, Tôn Dật Tiên vẫn còn xuất
hiện. Mao Trạch Đông vẫn còn được tiếp tục treo trên cổng
vào Cấm Thành. Các ngài khác hiện đã ở lại trong hầm. Năm
2011 một nhân vật quan trọng nữa được thêm vào: Trước
Viện bảo tàng Quốc gia là tượng của triết gia Trung Quốc
Khổng Tử, người đã sống từ 551 đến 479 TCN.
Tháng 4 năm 2011, công nhân mang nó vào trong sân của
Viện bảo tàng, nơi nó không còn đập ngay vào mắt nữa. Thế
nào đi nữa: Khổng Tử vẫn còn ở gần Mao. Nhưng không phải
là chính người này đã khởi động một chiến dịch "phê
bình Khổng Tử" trong những năm 70 và đã lên án ông ấy như
là một nhà tư tưởng phong kiến để xua đuổi vĩnh viễn các
tác phẩm của ông ấy ra khỏi đầu của người dân hay sao?
Những việc này làm sao mà hợp với nhau được?
Đảng Cộng sản Trung Quốc đã lôi Khổng Tử ra
khỏi sự chìm đắm, như hình ảnh tượng trưng cho một triết
học nhà nước của quốc gia mà họ dựa vào đấy để củng
cố cho tính hợp pháp của sự thống trị của họ. Nhà nước
là hài hòa và ổn định, Khổng Tử nói, khi giới tinh hoa của
nó ứng xử hợp với luân thường đạo lý và có đạo đức,
là gương mẫu và chú ý đến những nguyên tắc ứng xử nhất
định. "Phẩm hạnh của người cai trị là phẩm hạnh của
ngọn gió, phẩm hạnh của người dân là phẩm hạnh của ngọn
cỏ, khi gió thổi thì ngọn cỏ uốn cong mình", Khổng Tử cho
là như vậy.
Ngày nay, khi các nhà cai trị ở Bắc Kinh giải thích
thành công của Trung Quốc, họ dẫn ra chính sự pha trộn đặc
biệt này từ đạo Khổng, Marx, thị trường và Mao. Lần vươn
lên của đất nước, họ lý luận như vậy, không chỉ dựa
trên thành công về kinh tế mà còn trên một thực tế cộng
đồng được họ gọi là "Chủ nghĩa Xã hội mang đặc sắc
Trung Quốc".
Trong những cuộc trao đổi của tôi với các quan
chức và người dân bình thường của Trung Quốc về hệ thống
chính trị của đất nước họ, hầu như lúc nào rồi cũng đi
đến một điểm mà họ thở dài: "Ôi, Trung Quốc rộng lớn
lắm." Rồi tiếp theo sau đó thường là một liệt kê của
tất cả các vấn đề làm cho Trung Quốc khác với những nước
khác: có quá nhiều người sống trong một không gian chật
chội, nhiều người trong số đó ít học. Vì thế mà điều
quan trọng là mang lại cho tất cả mọi người một mái nhà che
mưa nắng và bát cơm hàng ngày, hơn là cho phép có một hệ
thống dân chủ. Những cải tổ dân chủ, họ đều nói giống
nhau, là nguy hiểm: chúng có thể gây ra hỗn loạn, một làn
sóng khổng lồ của những người tị nạn có thể rồi sẽ
tràn qua các quốc gia láng giềng và gây nguy hại đến thịnh
vượng.
Kết luận: chiếc chìa khóa dẫn đến thịnh vượng
và sự thăng tiến hòa bình của Trung Quốc, đến hài hòa và
ổn định, vì thế không phải là tam quyền phân lập, tự do
báo chí hay một nền tư pháp độc lập, mà là sự thống trị
của ĐCS.
Sự thăng tiến về kinh tế của Trung Quốc bắt đầu
từ cuối những năm 70, khi ĐCS từ giã mô hình của những hợp
tác xã nhân dân, kinh tế kế hoạch tuyệt đối, của cuộc
đấu tranh giai cấp liên tục và, chậm chạp nhưng liên tục,
lại cho phép có kinh doanh tư nhân. Qua đó, hàng triệu người
nông dân đã có thể dùng chính bàn tay của mình để tự giải
phóng họ ra khỏi sự nghèo khổ, các nhà máy quốc doanh đã
từng hư nát được tư nhân hóa một phần và bắt đầu hoạt
động có lãi. Trong những năm 80 và 90, nhiều tỉnh đã thành
lập những vùng kinh tế đặc biệt mà trong đó doanh nghiệp
nước ngoài được phép sản xuất hàng hóa của họ một cách
rẻ tiền và được hưởng ưu đãi về thuế, không có sự
kiểm tra của công đoàn và thường là với đối tác Trung
Quốc. Chỉ riêng trong năm 2010, doanh nghiệp nước ngoài đã
đầu tư tròn 106 tỉ dollar, nhiều hơn năm trước đó 17%.[1]
Uốn mình như ngọn tre trước gió không chỉ là nhân
dân mà cả ĐCS nữa. Đảng đã quẳng đi những phần quan
trọng trong ý thức hệ của họ và chẳng bao lâu sau đó xuất
hiện một cách hoàn toàn khác với những gì mà người Âu và
người Mỹ đã quen thuộc từ giới cán bộ ù lì của khối
Đông Âu cũ: cởi mở với thế giới và hiện đại, trong bộ
com lê Armani hay bộ quần áo Chanel. Thế hệ mới của giới quan
chức ĐCS đã học tại những trường đại học danh tiếng
của Mỹ, Anh hay Đức và đi họp đảng bằng xe Audi hay Mercedes.
Chủ nghĩa Cộng sản, những người lãnh đạo của họ nói,
không phải đã bị bỏ đi. Đến một lúc nào đó nó sẽ
được thực hiện, chỉ là không phải bây giờ.
Tuy vậy, ở phía sau sắc mạo của sự cởi mở với
thế giới, các nguyên tắc Lê nin xưa cũ vẫn còn có hiệu
lực: không được phép tiết lộ chuyện nội bộ của Đảng ra
ngoài và ĐCS kiểm soát nhân lực của Công ty cổ phần Trung
Quốc.
Câu chuyện thành công của Trung Quốc làm cho thế
giới bối rối. Nó đặt dấu hỏi lên niềm tin của người
Mỹ và người Âu, những người kết nối tiến bộ kinh tế
với những hình thức chính phủ dân chủ. Cuộc khủng hoảng
kinh tế năm 2008 để cho lời biện bạch dựa trên "văn hóa
Khổng Tử" của những chính phủ độc tài có khả năng tiếp
tục được phô diễn. Lực thu hút của một hệ thống mà trong
đó giới tinh hoa dựa trên đạo đức truyền thống để lo
lắng cho người dân giống như một người cha nghiêm khắc
dường như không hề bị gián đoạn. Nước Mỹ thì ngược
lại, đất nước đang vất vả với những cải cách, ví dụ
như cải cách hệ thống y tế, và sống bằng vay mượn, đã
đánh mất chức năng dẫn đầu của mình.
<h2>Cuộc đấu tranh của các tư tưởng</h2>
Chậm nhất là kể từ cuộc khủng hoảng tài chính 2008,
chính khách và khoa học gia bắt đầu thảo luận về cái
được gọi là Đồng thuận Bắc Kinh và Đồng thuận Washington.
Trung Quốc đã phát triển một hệ thống có thể "thịnh
vượng mà không cần đến những giá trị và chuẩn mực của
Chủ nghĩa Tự do phương Tây", như giáo sư người Mỹ Stefan
Halper đã nói, người hết sức quan tâm đến cuộc tranh luận
này. "Đồng thuận Bắc Kinh" đã gây ra một cuộc cạnh tranh
ý thức hệ trên toàn thế giới. "Sức thu hút đang tăng lên
của mô hình chính phủ Trung Quốc làm giảm đi sức thu hút
đấy của phương Tây", Halper suy luận, nó khiến cho "ý
tưởng của chúng ta về xã hội và chính phủ kém quan trọng
đi".[2] Halper nhìn thấy một "cuộc đấu tranh của các tư
tưởng" trên toàn thế giới, cái cũng hiện diện trong chính
sách ngoại giao. Tức là: Trung Quốc quan hệ theo một chính sách
thuần túy vì lợi ích và giao dịch với những nước khác mà
không cần có điều kiện tiên quyết.
Cái được gọi là Đồng thuận Washington đứng
ngược lại. Nó phản ánh ngoài những nơi khác là qua chính
sách của những tổ chức do USA và châu Âu chiếm ưu thế như
Ngân hàng thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), những
tổ chức liên kết các chương trình giúp đỡ và tài trợ của
họ với những điều kiện chính trị nhất định. Ngân hàng
thế giới yêu cầu các chính phủ hỏi vay phải minh bạch,
đấu thầu công khai và quản lý tiền bạc một cách hợp lý.
Trong những chương trình cứu trợ, IMF lại yêu cầu phải tiết
kiệm nhiều hơn, cải tổ hệ thống thuế và chi nhiều tiền
hơn nữa cho đào tạo và y tế.
Thuộc bài bản của các quốc gia phương Tây trong
những năm vừa qua đặc biệt là trừng phạt các chính phủ
độc tài, như ở Triều Tiên, Zimbabwe hay Myanmar. Tuy vậy, họ
lại đặt ra hai thước đo: tại các quốc gia quan trọng về
mặt chiến lược như Ả Rập Saudi, Ai Cập, Jordan hay Pakistan,
người Mỹ cũng như người Âu đều nhắm mắt trước những vi
phạm nhân quyền rõ rệt và trước một giới lãnh đạo vô
cùng phi dân chủ. Vì thế mà đúng là họ phải gánh chịu lời
lên án về một đạo đức nước đôi. Các thước đo được
đặt xuống một cách hoàn toàn khác nhau này được quan sát
chăm chú ở châu Á và nhiều lần đã được đánh giá như là
bằng chứng cho việc rằng các yêu cầu phải coi trọng nhân
quyền và lời kêu gọi tôn trọng các giá trị chung chỉ là
một vũ khí trong cuộc tranh giành thị trường và quyền thống
trị.
"Các anh đến đây trên những con ngựa cao của các
anh như những người hiệp sĩ da trắng, phi ngựa, phi ngựa, và
tin là phải giải phóng các dân tộc nghèo khổ ra khỏi những
người lãnh đạo xấu xa của họ. Thật ra thì dưới lớp vỏ
bọc dân chủ và nhân quyền, các anh chỉ theo đuổi những lợi
ích ích kỷ của các anh mà thôi. Chúng tôi nhìn thấu được
đạo đức nước đôi của các anh", người trước đây là
Permanent Secretary của Bộ Ngoại giao Singapore, Kishore Mahbubani,
khiển trách.[3]
Niềm mong muốn được tôn trọng và công nhận nhiều
hơn, không có những lời giảng dạy về ưu thế của hệ
thống riêng của mình, phổ biến rộng khắp ở châu Á. Người
dân của nó phản ứng rất nhạy trước sự kiêu ngạo và thái
độ thầy giáo của phương Tây. Một nhà môi giới đầu tư
người Trung Quốc, học trung học ở Anh Quốc, đại học ở
USA, mô tả cảm tính đấy qua một ví dụ: ông ấy tường
thuật về số phận của mẹ ông, sinh ra ở Malaysia, được
một chiếc tàu của Mỹ cứu thoát khi thuyền của bà chìm,
nhưng vì là người châu Á – khác với những người Âu và
Mỹ cùng cảnh ngộ – nên những người cứu bà đã không cho
phép bà xuống dưới boong tàu vào trong phòng. Điều đấy, ông
ấy nói, không bao giờ được phép tái diễn với người châu
Á nữa.[4]
<h2>Trung Quốc chinh phục châu Phi và giới tỷ phú</h2>
Trong những năm vừa qua, sức mạnh kinh tế mới đã mang lại
cho Trung Quốc nhiều sự tôn trọng và thanh thế hơn: trước
hết là ở châu Phi và châu Mỹ La tinh, Trung Quốc đã thành
công trong việc gắn kết những mối quan hệ chặt chẽ. Công ty
nhà nước và ngân hàng Trung Quốc chào mời những điều kiện
kinh doanh tốt mà không cần đáp trả đáng kể. Thuộc vào trong
số đó là xóa nợ, cho vay thuận lợi, thời hạn dài. Ngân
hàng Xuất Nhập khẩu thuộc nhà nước Trung Quốc hứa hẹn cho
người Phi vay trong năm 2007 tổng cộng là 20 tỉ dollar cho ba năm
– bằng tất cả những người cho vay khác cộng lại. Năm 2009
và 2010, Bắc Kinh cho các nước đang phát triển vay ít nhất là
110 tỉ dollar – và qua đó đã bắt kịp Ngân hàng Thế
giới.[5]
Không một ai mô tả sự phát triển này sinh động
hơn tổng thống Senegal, Abdoulaye Wade. "Châu lục của chúng tôi
đang cần kíp phải xây hạ tầng cơ sở, bảo đảm năng
lượng giá rẻ và đào tạo con người của chúng tôi. Trong
nhiều quốc gia châu Phi, giới lãnh đạo đang cố gắng củng
cố tăng trưởng kinh tế vững chắc theo một phương cách bền
vững … Phương cách Trung Quốc tiếp cận với các nhu cầu
của chúng tôi đơn giản là phù hợp tốt hơn phương pháp
chậm chạp và đôi khi mang tính khinh rẻ hậu thực dân của
các nhà đầu tư, tổ chức cho vay và tổ chức phi chính phủ
châu Âu. Mô hình Trung Quốc, thúc đẩy một phát triển kinh tế
nhanh chóng, dạy cho châu Phi rất nhiều điều."
Wade tiếp tục công kích: "Tôi đã nhận ra rằng
một hiệp định, cái mà với Ngân hàng Thế giới phải cần
đến năm năm cho thảo luận, thương lượng và chữ ký, thì
chỉ cần có ba tháng khi chúng tôi làm việc với các cơ quan
Trung Quốc. Tôi tin tưởng vững chắc vào những hình thức
chính phủ tốt và sự thống trị của luật pháp. Nhưng khi quan
liêu và tệ nạn giấy tờ vô lý giới hạn khả năng hành
động của chúng tôi – và khi cái nghèo vẫn tiếp tục tồn
tại, trong khi các quan chức quốc tế cứ tiếp tục đạp phanh
–, thì các nhà lãnh đạo châu Phi có trách nhiệm phải quyết
định chọn những giải pháp đơn giản hơn."
Wade ca ngợi một cuộc gặp gỡ với người đứng
đầu nhà nước và Đảng Trung Quốc Hồ Cẩm Đào ở Đức năm
2007: "Tại lần trao đổi kéo dài một giờ đồng hồ của
tôi với chủ tịch Hồ Cẩm Đào trong một phòng làm việc ở
khách sạn của tôi trong Berlin vào lúc … Hội nghị thượng
đỉnh G-8 ở Heiligendamm, tôi đã đạt được nhiều điều hơn
là trong toàn bộ lần gặp gỡ có tổ chức của những người
lãnh đạo thế giới trong Hội nghị thượng đỉnh …"
Và ngoài ra thì người châu Á cũng "linh động
hơn" – và rẻ tiền hơn. Với giá tiền của một chiếc ô
tô châu Âu, người ta có thể có được hai chiếc ô tô Trung
Quốc. "Giá cả và chất lượng của hàng hóa từ châu Á
không để cho các chính phủ châu Phi có sự lựa chọn nào khác
hơn là mua các sản phẩm Trung Quốc, Ấn Độ và Malasia", theo
Wade.[6]
Ủng hộ cho mô hình Trung Quốc là sự thất bại của
thế giới phương Tây ở châu Phi: mặc dù hàng tỉ dollar và
euro đã chảy vào lục địa châu Phi trong những năm qua, tình
hình ở đấy không được cải thiện nhiều cho lắm. "Chính
sách phát triển của chúng ta thế nào đi chăng nữa thì cũng
không dẫn đến việc những con hổ tự lập thành hình ở
đấy như ở Đông Nam Á." Rupert Neudeck nói, người thành lập
huyền thoại của tổ chức cứu trợ Cap Anamur. "Người Trung
Quốc làm đúng cái mà chúng ta đã không thành công trong 50 năm
qua: họ góp phần làm tăng sức mạnh kinh tế của châu lục.
Và điều đó bằng cách là họ chỉ kinh doanh đơn thuần mà
thôi."[7]
Không chỉ chính khách châu Phi có ấn tượng về
người Trung Quốc. Tỷ phú Mỹ George Soros, người với tài sản
của mình đã đầu cơ đẩy cả nhiều nước đến bờ vực
của sự phá sản và bây giờ trợ giúp cho nền dân chủ ở
khắp nơi trên thế giới như người làm việc thiện, còn đi
đến mức tuyên bố rằng Trung Quốc không những có "một
nền kinh tế sống động hơn mà còn có cả một hệ thống
chính trị hoạt động tốt hơn là Hoa Kỳ". Vì thế mà có
"một sự chuyển đổi nhanh chóng lạ thường về quyền lực
và ảnh hưởng từ USA sang Trung Quốc".[8]
Thành công của Trung Quốc có thể quyến rũ tới mức
nào, điều đấy bộc lộ qua việc ngay đến cả những người
của Đảng Dân chủ cũng bất chợt long lanh mắt khi họ nói
về Trung Quốc của ngày hôm nay. Nhà báo nổi tiếng của Mỹ
Thomas L. Friedman, nổi nóng về những cuộc tranh cãi kéo dài về
cải cách y tế và biến đổi khí hậu trong Quốc hội Mỹ, đã
đi đến kết luận: "Chỉ có một việc tệ hại hơn chuyên
quyền độc đảng, và đó là dân chủ độc đảng, cái mà
chúng ta đang có ở Mỹ". Một chế độ chuyên quyền độc
đảng chắc chắn là có những nhược điểm của nó, ông ấy
thừa nhận. "Nhưng khi nó được lãnh đạo bởi một nhóm
người minh mẫn thích đáng, như ngày nay ở Trung Quốc, thì nó
cũng có thể có những ưu thế lớn."[9]
Liệu giới lãnh đạo Trung Quốc có thật sự "thích
đáng" và "minh mẫn" hay không, như Friedman nói, thì còn
phải làm cho rõ. Chỉ chắc chắn là, ngay cả người Nga, những
người đã thất bại một cách hoành tráng với mô hình cộng
sản của họ, cũng bất thình lình tìm thấy điều tốt ở
những người nguyên là địch thủ ý thức hệ của họ. Mặc
dù họ đã du nhập chủ nghĩa tư bản, họ còn xa mới thành
công được như người Trung Quốc. Năm 2009, trong khi nền kinh
tế Trung Quốc leo cao thêm 9,2 phần trăm thì nền kinh tế của
nước Nga đã sụt mất 7,9 phần trăm. Một chỉ thị khác cho
tình trạng bất ổn của Nga là việc người dân ở Trung Quốc
ngày càng thọ hơn, người Nga thì ngược lại càng chết sớm
hơn. Đàn ông Nga chỉ có tuổi thọ trung bình là tròn 60. Các
nhà y học người Nga và người Anh cho rằng nguyên nhân đặc
biệt là do uống quá nhiều rượu.
Vì thế mà Thủ tướng Nga Vladimir Putin và những
người bạn của ông ấy nhìn sang láng giềng. "Chúng tôi quan
tâm đến kinh nghiệm của cấu trúc đảng và chính phủ ở
Trung Quốc", Vladimir Matkhanov, nghị sĩ của Duma Nga, giải thích
tại một hội nghị chuyên gia Nga và Trung Quốc vào đầu tháng
10 năm 2009 ở Suifenhe gần biên giới Nga.[10]
Đến những người đại diện cho doanh nghiệp Đức
cũng ca ngợi nước Trung Quốc do ĐCS cầm quyền. "Tôi thán
phục ví dụ như các tầm nhìn dài hạn trong chính sách của
Trung Quốc, chúng ta cũng có thể học được cái gì đấy từ
điều này", sếp Siemens Peter Löscher nói, người đồng thời
cũng là người đứng đầu của Ủy ban châu Á-Thái Bình Dương
của doanh nghiệp Đức.[11]
Löscher còn bị đồng nghiệp của ông trong cùng ủy
ban đấy, doanh nhân Jürgen Heraeus, qua mặt: "Tôi tin rằng một
nền dân chủ ở Trung Quốc sẽ thất bại trong ngày hôm nay.
Chúng ta đã nhìn thấy ngay trong nước Đức, rằng vì con số
đảng phái đang tăng lên
mà chính phủ chúng ta đã dần dần không còn có thể hoạt
động được nữa trong một vài tiểu bang và ở liên bang thì
cũng đã thế về cơ bản rồi. Chúng ta nhìn thấy Ấn Độ
với nền dân chủ của nó còn xa mới thành công được như
người Trung Quốc, mang người dân ra khỏi sự nghèo khổ trong
quy mô rộng lớn và tiếp tục phát triển."[12]
[1] China aily, 18/01/2011
[2] Stefan Halper: "The Bejing Consensus", Basic Books, New York, 2010
[3] "Schluss mit den Belehrungen" ["Hãy chấm dứt những lời
giảng dạy"], Der Spiegel, 21/2008
[4] Andreas Lorenz, Jutta Lietsch: "Das andere China" ["Trung Quốc
kia"], nhà xuất bản wjs, Berlin, 2007
[5] Reuters, 18.01.2011
[6] Abdoulaye Wade: Time for the west to practise what it preaches",
Financial Times, 23/01/2008
[7] "China macht es in Africa besser als wir" ["Trung Quốc làm ở
châu Phi tốt hơn là chúng ta"], Stuttgarter Zeitung, 05/08/2009
[8] Moneynews, "Soros, Murdoch praise China", 17/11/2010
[9] Thomas L. Friedman: "Our One-Party Democracy", New York Times,
09/09/2009
[10] "In Chinese Communist Party, Russia'a Rulers See a Role Model for
Governing", New York Times, 18/10/2009
[11] Dpa, trích dẫn theo bild.de, 11/12/2010
[12] CIHD-Magazin Chinesischer Industrie- & Handelsverband e.V. in
Deutschland, [tạp chí CIHD của Liên hiệp Công nghiệp và Thương
mại Trung Quốc ở Đức], số ra ngày 5 tháng 8 năm 2008
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10662), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét