ngày 12 tháng 11 năm 1866 tại làng Thanh Hưng thuộc huyện Hương
Sơn, khoảng giữa Quảng Châu và Ma Cao, thuộc tỉnh Quảng
Đông[i], trong một gia đình nông dân nghèo khó. Cuộc đời của
họ Tôn thay đổi nhờ những chuyến xuất ngoại lúc ở tuổi
rất trẻ. Tôn Văn có người anh cả đi làm công thợ (nghề
nông) ở Hawai (Hoa Kỳ). Khi trở về quê hương, ông này kể
lại nhiều chuyện kỳ thú tại nơi làm việc, gây sự tò mò
nơi người em nhỏ. Năm 1879, tức chỉ là một cậu bé 13 tuổi,
đã một mình [ii] phiêu lưu theo thuyền chở những di dân để
sang Honolulu (Hawai, Hoa Kỳ) gặp anh mình bên đó. Ở đây ông
theo học 3 năm trong một trường thuộc một hội thánh Tin Lành
(ông làm lễ Báp Têm tại Quảng Châu năm 1884). Sau cuộc du hành
lần thứ hai sang Honolulu, ông trở về học ngành y khoa tại
Quảng Châu (1886) với vị giáo sưlà Dr John A. Kerr, một vị
mục sư kiêm nhà giải phẩu, người Mỹ. Tại đây, do những
hoạt động «phản Thanh», ông bị chính quyền truy nã, phải
bỏ trốn sang Hồng Kông (vì nơi đây là nhượng địa của
Anh). Nhờ sự giúp đỡ của hội thánh, ông vào học trường Y
Khoa Hồng Kông trong vòng năm năm (1887-1892). Khoảng thời gian
này ông có giao du với các hội kín chống Thanh triều, trong đó
có hội Tam Điểm. Ông trở thành một «trưởng lão» của hội
này. Đồng thời ông cũng làm quen nhiều nhân vật có ảnh
hưởng trong xã hội Tây phương thời đó như Giáo sư kiêm giám
đốc James Cantlee, người Anh, cũng là một mục sư. Nhờ uy tín
và thế lực của những người này mà ông thoát nhiều cuộc
bắt bớ, như lần ở Luân Đôn năm 1896. Tôn Văn hành nghề bác
sĩ giải phẩu tại Ma Cao và Quảng Châu. Ông cho rằng môi
trường học đường rất thuận lợi để ông tuyên truyền lý
tưởng« lật đổ nhà Thanh, xây dựng một nền cộng hòa dân
quốc». Về việc hành nghề bác sĩ thì nó đã giúp ông
«phương tiện đi ra thế giới». Nhưng khoảng thời gian sinh
sống và học hỏi tại Hawai lúc còn trẻ đã gầy dựng cho ông
một vốn liếng về ngôn ngữ cần thiết cho những lúc bôn ba
hoạt động cách mạng sau này nơi nước ngoài. Những ấn
tượng, những khái niệm cơ bản về một xã hội dân chủ văn
minh, ý thức về những quyền con người, về tiến bộ khoa
học kỹ thuật… cũng đã hằn dấu trong đầu óc mới mẻ
của Tôn Văn. Các chủ thuyết của ông về Dân Tộc, Dân Chủ,
Dân Sinh, tức Tam Dân chủ nghĩa, thành hình sau này đã bắt
nguồn từ những cảm nhận ban đầu đó.
Tư tưởng chính trị của ông được kết tinh từ sự học
hỏi, tìm tòi trong sách vở, nhưng phần lớn do cặp mắt biết
quan sát, phân tích, phê bình và tổng hợp của một người làm
khoa học. Ông quan sát những mô hình chính trị, văn hóa và xã
hội của các nước mà ông đã từng đi qua, đọc và nghiềm
ngẫm những tác phẩm của các nhà tư tưởng xã hội Tây
Phương, phân tích và so sánh chúng với văn minh và xã hội Trung
Hoa qua các thời kỳ. Từ đó ông rút ra những ý kiến mà ông
cho là tinh túy, phù hợp với con người và văn minh Hán, tổng
hợp lập thành 3 chủ nghĩa, còn gọi là Tam Dân chủ nghĩa.
Trong đời ông cũng đã từng lập ra ít nhất là 5 tổ chức
chính trị (thực ra là dưới dạng hội kín). Gần cuối đời,
ông thường đi diễn thuyết ở các nơi. Tìm hiểu ý nghĩa về
tư tưởng Tam Dân chủ nghĩa của ông là tìm lại các ý tưởng
của ông, từ thuở ban đầu lúc mới kết tinh, cho đến lúc
chín chắn về già. Các tư tưởng này có thể tìm thấy ở các
bài diễn văn, các bài tiểu luận, bài báo… đăng tải trên
các báo hay qua các buổi diễn thuyết, xuyên qua các thời kỳ
hoạt động. Tư tưởng của Tôn Văn, thể hiện trên thực tế
qua Tam Dân chủ nghĩa, thành công hay thất bại ra sao, đều
được thể hiện, qua các tổ chức (hội kín), hay đảng cách
mạng (Quốc Dân Đảng), trải qua các thời kỳ tiền cách
mạng, giai đoạn hậu cách mạng, các quá trình xây dựng nền
cộng hòa hiến định và giai đoạn phát triển đất nước
(Trung Hoa lục địa và Đài Loan).
Phương pháp đấu tranh cách mạng, thông qua một đảng cách
mạng, nhằm lật đổ đế chế Mãn Thanh của Tôn Văn hoàn toàn
tương phản với lối tranh đấu ôn hòa «duy tân» của các nhà
tranh đấu cùng thời là Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu … Hai
vị Khang, Lương chủ trương hợp tác với Thanh triều để canh
tân nước nhà, hiện đại hóa đất nước, theo mô hình của
Anh, tức xây dựng một nền « quân chủ lập hiến ». Hai vị
này cũng thấm nhuần các tư tưởng về tự do, dân chủ… của
Phương Tây. Họ lựa chọn phương pháp đấu tranh ôn hòa
đểvừa canh tân đất nước, vừa thay đổi chế độ. Họ
nhận thức rằng dân trí của người dân trong nước cần phải
nâng cao, qua các việc thay đổi lề lối học hành thi cử,
kiến thức khoa học cần được đưa vào học trình theo Tây
Phương. Hai vị Lương, Khang e ngại một cuộc cách mạng sẽ
gây nhiều đổ vỡ như đã thấy qua kinh nghiệm của cuộc cách
mạng của Pháp 1789. Ý tưởng canh tân của hai vị này được
vua Quang Tự ủng hộ, sau khi thua nhực nhã Nhật phải ký hiệp
ước Mã Quan (Simonoseki) năm 1895, thể hiện qua cuộc «cách
mạng canh tân 100 ngày». Cuộc cách mạng bị thất bại do sự
cản trở của phe thủ cựu, đầu đàn là Từ Hi Thái Hậu. Ý
tưởng tranh đấu ôn hòa của Tôn Văn cũng đã có từ trước
năm 1892, có thể cùng thời với Khang Hữu Vi. Nhưng quyết
định dứt khoát của ông về lựa chọn con đường cách mạng
có lẽ do sự thất bại của ông lúc đi đến Thiên Tân tìm
gặp Lý Hồng Chương để dâng bản điều trần năm 1892, nội
dung gồm 4 điểm, nhằm giúp triều đình thoát khỏi những khó
khăn. Đó là: tổ chức nhà nước hiện đại, trọng dụng nhân
tài, khai thác tối đa tài nguyên đất đai và cho tự do thông
lưu hàng hóa. Việc làm này thất bại. (Nhưng nội dung các đề
nghị sau này được thực hiện qua việc vua Quang Tự trọng
dụng Khang Hữu Vi cũng như các động tác nhằm hiện đại hóa
đất nước và cải cách kinh tế. Cuộc «cách mạng 100 ngày»
thất bại do thế lực thủ cựu thắng thế so với thế lực
duy tân. Nguyên nhân là do Khang Hữu Vi chỉ là một nhà trí
thức yêu nước mà không phải là một nhà chính trị lão
luyện để thừa cơ được Quang Tự trọng dụng trong triều mà
gạt đi những thành phần thủ cựu ra ngoài).
Hai trường phái tư tưởng – duy tân theo lối Khang Hữu Vi,
cách mạng theo lối Tôn Văn - ảnh hưởng khá sâu đậm lên các
tầng lớp yêu nước Việt Nam. Ta thấy Phan Châu Trinh theo khuynh
hướng duy tân, tranh đấu ôn hòa, nương vào thực dân Pháp
để nâng cao dân trí và phát triển (hạ tầng cơ sở) đất
nước, tức ảnh hưởng lý thuyết của Khang Hữu Vi. Trong khi
Phan Bội Châu thì chủ trương làm cách mạng, đấu tranh bạo
động, tức phần nào theo khuynh hướng của Tôn Văn (nhưng cũng
không hoàn toàn vì Phan Bội Châu chủ trương đánh đuổi thực
dân Pháp đồng thời ủng hộ một nền quân chủ, tương tự
mô hình của Nhật). Thất bại hay thành công của hai nhân vật
lịch sử này không luận bàn ở đây vì hoàn cảnh hai nước
Việt-Trung khác nhau khá nhiều.
Nguồn gốc về Tam Dân chủ nghĩa có lẽ đã đến với Tôn Văn
từ lúc những năm còn trẻ, lúc ở Hoa Kỳ, với câu nói bất
hủ của Tổng thống A. Lincoln: nhà nước của dân, do dân và
vì dân. Câu nói tóm gọn ý nghĩa nền tảng nhà nước dân chủ
Hoa Kỳ. Các tư tưởng này ngày càng thêm rõ nét, nhất là sau
cuộc chiến Nhật-Trung 1895. Tôn Văn đã ý thức được sự quan
trọng của các công cuộc đổi mới và hiện đại hóa đất
nước đã được áp dụng tại Nhật trước đó. Ông nhận
thức rằng sự phú cường của các nước Châu Âu, mà Nhật
cũng đã đạt được nhờ học hỏi, thì người Hoa có thể
làm khá hơn nếu dân tộc này giải quyết được các vấn đề
«chủng tộc», cùng với các việc xây dựng một nền chính
trịdân chủ và cải thiện đời sống của người dân.
Các «vấn đề chủng tộc» từ đó qua nhiều suy tư và chứng
nghiệm trên thực tế, trở thành Dân Tộc chủ nghĩa ; việc
xây dựng một «nền chính trị dân chủ» trở thành Dân Quyền
chủ nghĩa và việc «cải thiện đời sống của người dân»
trở thành Dân Sinh chủ nghĩa. Tất cả gọi chung là Tam Dân
chủ nghĩa. Nhưng ý nghĩa thực sự của các chủ nghĩa này như
thế nào? đã được áp dụng trên thực tế ra sao? Ta phải
biết nó tường tận để có thể so sánh với các chế độ
hiện hành, từ đó mới có thể kết luận ai là thừa kế nhân
của Tôn Văn nhưchủ đề bài viết đã đặt ra.
<strong>1/ Dân tộc chủ nghĩa</strong>: hay Dân tộc đấu tranh (la
lutte des races) là phần tiền cách mạng Tân Hợi. Phần này chỉ
nói giản lược vì nội dung chính đã được trình bày qua bài
viết có tựa đề: «Chủ nghĩa dân tộc của Trung Hoa lục
địa», sẽ được công bố gần đây.
Đây là phần (tiền cách mạng) cực kỳ quan trọng vì nó đã
quyết định thành công hay thất bại cho cuộc cách mạng lật
đổ Thanh triều và xây dựng nền cộng hòa dân quốc. Tức nó
là cẩm nang của tất cả các hội kín, của các thành phần
yêu nước theo ảnh hưởng của Tôn Văn. Chính nhờ nội dung
«dân tộc chủ nghĩa» của Tôn Văn được loan truyền rộng
rãi mà cuộc cách mạng Tân Hợi ngày 10-10-2011 mới xảy ra,
được hưởng ứng rộng rãi và thành công. Trong khi đó hai
chủ nghĩa về dân quyền và dân sinh là các lý thuyết nền
tảng để xây dựng thểchế và định hướng phát triển đất
nước sau này.
Ý nghĩa của Dân tộc chủ nghĩa thời tiền cách mạng được
phổ biến qua bài tiểu luận «Giải pháp thực sự cho vấn
đề Trung Hoa» năm 1904, trong đó đặt nặng vấn đề chủng
tộc và lên án nặng nề nhà Thanh là nguyên nhân của mọi
nguyên nhân gây ra trên đất Trung Hoa cũng như các đế quốc
đã cưỡng ép Trung Hoa qua các hiệp ước bất bình đẳng.
Quan niệm về một « ảng cách mạng» của Tôn Văn cũng nhờ
bài tiểu luận này người ta cũng biết đến. Năm 1905 Tôn Văn
tổ chứcĐồng Minh Hội tại Tokyo. Lời tuyên thệ của các
hội viên là: thề nguyện tranh đấu lật đổ bọn Thát Đát,
dành lại nước Trung Hoa cho người Hoa, xây dựng một nền
Cộng hòa, phân bổ ruộng đất đồng đều cho mọi người.
Tức là, trong chừng mực, Tôn Văn khai thác tinh thần tự tôn
của dân tộc để vực dân tộc Hán đứng dậy đánh đuổi
triều đình cai trị thuộc giống «Thát Đát», là một dân
tộc thấp kém so với người Hán. Ông so sánh dân tộc Hán như
những hạt cát rời rã, do đó không tạo được sức mạnh
để thực hiện một việc to lớn. Ông cho rằng chủ nghĩa Dân
Tộc của ông có giá trị như một chất keo để làm gắn bó
những hạt cát đó lại với nhau.
Năm 1907, Tôn Văn có diễn thuyết ở Tokyo, nhân ngày kỹ niệm
thành lập tờ Dân Báo. Bài diễn văn này cũng đậm đà tư
tưởng «chủ nghĩa Dân tộc», thể hiện gồm 10 điều lên án
triều đình Mãn Thanh và dân tộc Mãn Châu. Dịp này ông cũng
hô hào thiết lập một nền cộng hòa trên nền tảng «quốc
tế hòa bình» và «tình hữu nghị».
Sau cuộc diễn thuyết tại Tokyo năm 1907, ông bị nhà cầm
quyền trục xuất phải bôn ba đi nhiều nước, trong đó có
thời gian ở Việt Nam. Vào mùa thu năm 1911, lúc ông đang ở
Denver, thì nhận được tin tức qua báo chí cuộc cách mạng đã
bùng nổ. Thay vì tức tốc trở về nước, Tôn Văn cho rằng
việc quan trọng hơn là đi tìm sự ủng hộ của các cường
quốc cho chính quyền cách mạng.Điều này cho thấy Tôn Văn có
năng khiếu về chính trị, sắc bén về ngoại giao.
<strong>2/ Dân quyền chủ nghĩa</strong>: tức Dân quyền độc
lập (le peuple souverain). Cũng như hai chủ nghĩa Dân Tộc và Dân
sinh, toàn bộ ý nghĩa của Tam Dân chủ nghĩa đã được Tôn
Văn trình bày rõ rệt qua 16 lần diễn thuyết, từ ngày 27 tháng
giêng đến ngày 24 tháng 8 năm 1924. Tôn Văn có nhắc đến các
lý thuyết của các vị như : Saint Thomas d'Aquin, Bacon, Bakounine,
Bismarck, Cromwell, Darwin, Henry George, Karl Marx, Stuart Mill, Monroe,
Newton, Pasteur, Platon, Proudhon, George Washington, Lincoln và Wilson.
Sau các cuộc diễn thuyết dành cho Dân tộc chủ nghĩa, sáu
cuộc diễn thuyết kế tiếp là nói về các vấn đề về nhà
nước, về chính trị và vấnđề dân chủ, tức các vấn đề
thuộc Dân quyền chủ nghĩa.
Tôn Văn cho rằng người Hoa cần phải bắt chước người
phương Tây trên nền văn minh vật chất chứ không thể bắt
chước các khía cạnh về chính trị và xã hội. Bởi vì, theo
ông, đất nước Trung Hoa đã có quan niệm rất dở về sựtự
do vì nó luôn bị đàn áp. Việc bắt buộc, không phải là tự
do cho cá nhân, vì cá nhân chỉ lạm dụng tự do nên phải cần
hạn chế, mà là sự tự do cho dân tộc
Theo Tôn Văn, con người có thể chia ra thành 3 thứ bậc, tùy
theo trí thông minh, kiến thức: lớp người tiền quán triệt
(pré-voyants), lớp người hậu quán triệt (post-voyants) và lớp
người không quán triệt (non-voyants). Thí dụ: lớp người
«tiền quán triệt» là những kiến trúc sư; lớp «hậu quán
triệt» là những nhà thầu giúp kiến trúc sư thực hiện ngôi
nhà; lớp «không quán triệt» là lớp người không thể học
hỏi gì, chỉ có thể sử dụng vào việc thừa hành. Họ là
những người thợ khuân vác vật liệu để xây dựng ngôi nhà.
Theo Tôn Văn, dân chúng đa phần thuộc lớp «không quán
triệt», họ phải lựa chọn một số người «tiền quán
triệt» có khả năng để điều khiển bộ máy. Nền cộng hòa
là một nhà máy mà tổng thống là viên quản đốc. Người dân
là những cổ đông viên (actionnaires). Hoặc nền cộng hòa là
một cổ xe mà người chủ chính là toàn dân. Những viên chức
nhà nước là những viên tài xế. Nhưng để cho nhà máy –
nền cộng hòa – vận hành, bắt buộc phải tách rời quyền
hành (pouvoir) ra khỏi quyền lực (puissance).
Tất cả quyền lực được tập trung vào dân chúng, người dân
giao một phần quyền lực dước dạng quyền hành cho nhà
nước. Một cổ máy có năng suất 100 ngàn mã lực, trong đó
người ta phải đổ than đá và nước cần thiết, thì dân
chúng là người tạo ra năng lực tương ứng trong khi người
cầm quyền là kỹ sư điều khiển cổ máy.
Như thế, ngoài chủ trương giới hạn quyền tự do của cá
nhân, Tôn Văn cũng không chấp nhận quyền bình đẳng của mọi
người dân trong xã hội, mà chia ra thành ba tầng lớp riêng
biệt. Việc này tạo cho người cầm quyền những lý cớ để
tiếp tục cầm quyền, dựa trên bản chất «tinh túy» của giai
cấp (trí thức), hay bản chất «tiên phong» của đảng cầm
quyền.
Sau phần định nghĩa về dân chúng, nhà nước, quyền lực và
quyền hành, Tôn Văn nói đến « quyền » của dân. Phần này
ảnh hưởng nhiều ở cách thức dân chủ trực tiếp ở Thụy
Sĩ và phần nào của Hoa Kỳ. Người dân có 4 quyền (droits):
1/ Quyền bầu cử.
2/ Quyền bãi miễn. Người dân có quyền truất quyền các công
chức đã không làm đúng bổn phận.
3/ Quyền đề khởi. Nhờ quyền này người dân có quyền đề
nghị bãi bỏ một điều luật không phù hợp hay có tác hại.
4/ Quyền trưng cầu dân ý.
Về quyền hành nhà nước thì thì được chia làm 5 quyền
(pouvoirs): quyền lập pháp, quyền tư pháp, quyền hành pháp,
quyền khảo sát và quyền phê bình.
Người dân sở hữu 4 quyền (droits) nhằm kiểm soát nhà nước.
Về 5 quyền (pouvoirs) của nhà nước, 3 quyền ta thường thấy
trong các nền dân chủ. Hai quyền sau chỉ thấy trong tập quán
của nước Trung Hoa thời cổ. Các quyền tư pháp, hành pháp,
lập pháp ta có thể đọc trong «Pháp lý tinh hoa - l'Esprit des
lois» của Montesquieu. Quyền khảo sát nhằm để lựa chọn công
nhân viên nhà nước, quyền phê bình nhằm tố cáo những
người không xứng đáng.
Về chủ trương xây dựng nền cộng hòa, Tôn Văn đề nghị
thành lập qua ba thời kỳ: thời kỳ quân phiệt, thời kỳ
chuyển tiếp và thời kỳ hiến định.
<strong>3/ Dân sinh chủ nghĩa</strong>: Thực tế là vấn đề «
xã hội chủ nghĩa », tức phần nói về các chính sách kinh
tế. Phần này bị gián đoạn, chỉ có 4 cuộc diễn thuyết, vì
cái chết của Tôn Văn 12-3-1925.
Về kinh tế, Tôn Văn chủ trương một nền kinh tế xã hội
chủ nghĩa. Đây là chủ trương đến từ những cố vấn của
Tôn Văn, người Liên Xô. Những người này góp ý kiến cho Tôn
Văn trong chính sách «Tam đại chiến lược» trong Mặt trận
thống nhất năm 1924, gồm các việc:
1/ Liên minh với Liên Xô,
2/ Hợp tác với cộng sản Trung Hoa,
3/ Ủng hộ các phong trào công nhân và nông dân.
Tuy vậy Tôn Văn phản bác Mác xít, cho rằng ông này chỉ có
vài mươi năm khảo sát vấn đề xã hội và lấy kinh nghiệm
từ quá khứ, như vậy ông ta không thể dự đoánđược tương
lai. Không phải Mác từng tiên đoán sự sụp đổ của chủ
nghĩa tư bản hay sao? Nhưng 200 năm qua, quan sát những sự kiện
xảy ra ở các nước Âu, Mỹ… ta thấy thực tế khác hẵn
với những gì Mác đã tiên đoán. Một ngày làm việc 8 giờ
đã bị Mác cho là chuyện hảo huyền thì đã được áp dụng
tại Anh và Hoa Kỳ cũng nhưnhiều nước khác. Tôn Văn cho rằng:
«Việc tìm kiếm một giải pháp cho vấn đề của đời sống
là quy luật của sự tiến hóa xã hội, và do đó là trung tâm
hấp dẫn của lịch sử. Chủ nghĩa duy vật của Marx không thể
khám phá ra luật của sự tiến hóa xã hội nên không phải là
trung tâm hấp dẫn của lịch sử».
Như thế Tôn Văn bác bỏ giải pháp Mác xít. Trong tác phẩm
đang soạn thảo, Tôn Văn cho biết nhiều chính sách về kinh
tế: Về điền địa, ông chủ trương cân bằng thuế. Về kinh
tế, chủ trương hạn chế nguồn vốn tư nhân và phát triển
vốn nhà nước. Về vấn đề cơm ăn áo mặc, làm thế nào
để giải quyết vấn đề thiếu thốn thực phẩm. Bảo vệ
nông dân chống lại những bất công của chủ đất. Cải
thiện sản xuất nông nghiệp qua việc sử dụng máy móc, phân
bón. Xây dựng đường xá, xây dựng đê, đập, trồng rừng
trên các ngọn đồi….
<strong>Kết luận</strong>: Như thế, trái với sự hiểu biết
của nhiều người (Việt Nam) hiện nay, Tôn Văn chủ trương
một nhà nước độc lập, theo đó hạn chế các quyền tự do
của cá nhân, chủ trương phân loại chủng tộc cũng như phân
loại con người, thể hiện một nhà nước độc tài toàn trị.
Về kinh tế, Tôn Văn chủ trương một nền kinh tế có sự can
thiệp của nhà nước, tức xã hội chủ nghĩa. Thể hiện
điển hình của chủ nghĩa này là chế độ độc tài của
Tưởng Giới Thạch đã được áp dụng trong nhiều thập niên
tại Đài Loan. Đó là chưa nói đến chủ nghĩa dân tộc hẹp
hòi, khai thác lòng tự tôn và khinh bỉ các giống dân (không
Hán).
Như thế ai là thừa kế nhân của Tôn Văn?
Là Tưởng Giới Thạch? Dĩ nhiên là Tưởng Giới Thạch, nhưng
không toàn vẹn vì chính sách kinh tế. Ông này lãnh đạo Quốc
Dân đảng do Tôn Văn gầy dựng, thành lập nước Cộng hòa Dân
Quốc, sau đó thua Mao Trạch Đông phải di tản ra Đài Loan. Tại
đây họ Tưởng áp dụng một nền độc tài sắt máu, hoàn
toàn phù hợp với Tam Dân chủ nghĩa. Riêng về chủ trương kinh
tế xã hội chủ nghĩa, nhà nước can thiệp vào sinh hoạt kinh
tế và sử dụng đất như là tài sản của quốc gia để
điều hòa ngân sách nhà nước. Chủ trương này suýt làm cho
Đài Loan bị phá sản. Sau, nhờ có Hoa Kỳ khuyến cáo, Đài Loan
thay đổi chính sách về kinh tế, cho cải cách điền địa, cho
phát triển tư bản tư nhân, hạn chế đầu tư nhà nước vào
kinh tế, do đó mới cất cánh lên thành rồng thành hổ vào
thập niên 80. Việc dân chủ hóa Đài Loan không hề đến từ
phía Quốc Dân đảng như có người đã nói mà do áp lực của
thành phần trí thức bản địa cũng như sự dũng cảm của các
đảng đối lập, nhất là đảng Dân Tiến. Sự việc Mã Anh
Cửu và Quốc Dân Đảng trở lại nắm quyền Đài Loan hiện nay
đã gieo những hoang mang nơi trí thức Đài Loan, vì những hành
động của đảng này, trong chừng mực, hướng tới việc tóm
thâu quyền hành và đưa Đài Loan trở về thời động tài
đảng trị.
Là Đặng Tiểu Bình? hay các lãnh đạo cộng sản tại lục
địa hiện nay? Chỉ có phần nào vì Bắc Kinh luôn muốn sử
dụng Tôn Văn như là một nhà cách mạng tiên phong, nếu không
gọi như Đài Loan là Quốc phụ (cha già dân tộc!), để lấy
được tính chính thống cho nền cộng hòa nhân dân. Tại lục
địa, từ khi Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền tại lục địa,
Tôn Văn được đề cao, nhiều tác phẩm nghiên cứu về nhân
vật này được công bố. Tại quê hương của Tôn Văn, hàng
năm đều tổ chức nhiều buổi lễ tưởng niệm. Gần nhất là
việc tổ chức rầm rộ 100 năm ngày cách mạng Tân Hợi,
được tổ chức đồng lúc tại hai bên bờ eo biển Đài Loan.
Hai bên đều muốn dành lấy hào quang của Tôn Văn để được
kế thừa nền Cộng Hòa Trung hoa đầu tiên do Tôn Văn làm tổng
thống. Nhưng cũng không trọn vẹn, mặc dầu chính sách kinh tế
có điều tiết của nhà nước nhưng hoàn toàn khác với chủ
trương của Tôn Văn là bài ngoại, không chấp nhận tư bản
nước ngoài đầu tư. Chính sách «mèo trắng mèo đen» thực
tiễn của Đặng Tiểu Bình, tiếp nhận tư bản cũng như khoa
học kỹ thuật của Tây phương xem ra mâu thuẫn rất lớn với
chủ trương «dân tộc chủ nghĩa» cũng như chủ trương «kinh
tế xã hội chủ nghĩa» của Tôn Văn. Riêng về «dân tộc» và
«dân quyền», nhà cầm quyền Bắc Kinh dường như áp dụng
100°/° chủ nghĩa của Tôn Văn. Quyền tự do của người dân
bị thu lại, đến không còn quyền nào. Đảng Cộng Sản là
nơi quần tụ những người «tiên phong», tinh túy của dân tộc
Hán, phù hợp với lớp người mà Tôn Văn gọi là «tiền quán
triệt». Các quyền bầu cử của dân chỉ là quyền bầu cho
những người «tiền quán triệt», tức là đảng viên. Trong khi
đó quyền tự do cá nhân, đảng Cộng Sản Trung Quốc cũng lập
lại lý luận của Tôn Văn: cần phải hạn chế các quyền tự
do cá nhân của người dân Trung Hoa. Về chủ nghĩa «dân tộc»,
hiện nay tại lục địa đã nổi dậy phong trào dân tộc chủ
nghĩa hẹp hòi, theo đó đề cao văn hóa và văn minh của người
Hán, khinh bỉ những giống dân thấp kém, khơi lại nỗi nhục
của Trung Hoa dưới triều nhà Thanh, với các hiệp ước bất
bình đẳng ký với các cường quốc, để khơi lại lòng căm
thù thế giới Tây Phương đồng thời khẳng định những đòi
hỏi về lãnh thổ mà theo họ thuộc về người Hán từ xưa.
Điều này phản ảnh hoàn toàn «dân tộc chủ nghĩa» của Tôn
Văn.
Và còn những ai?
Tại Việt Nam từ thời đổi mới đến nay, từ cách tổ chức
nhà nước cho đển các chính sách kinh tế, đều âm hưởng
rất sâu đậm Tam Dân chủ nghĩa, với «giai cấp tiên phong»
tương ứng với giai cấp «tiền quán triệt», qua tấm bình
phong «tư tưởng Hồ Chí Minh». Điều không thể phản biện,
nhân vật Hồ Chí Minh không phải là một nhà tư tưởng, có
tầm nhìn xa hiểu rộng như Tôn Văn để có thể lập thuyết
như ông này, mà chỉ là một người làm chính trị gặp nhiều
thời cơ thuận tiện. Tư tưởng (tạp nham) của ông Hồ chỉ
là một bản cóp py rất mờ nhạt của Tôn Văn, vì ông không
có điều gì rõ rệt trong bất kỳ một chính sách, chủ
trương, hay lý thuyết làm nền tảng để xây dựng và phát
triển đất nước. Vì thế, nếu nói rằng xây dựng đất
nước trên nền tảng tư tưởng của Hồ Chí Minh thì đó là
một sự xảo ngôn ở tầm quốc gia, mà điều nguy cơ là quyết
định này có thể dẫn đất nước vào một cuộc phiêu lưu vô
định.
Hiện nay, ta có thể cho rằng Nguyễn Tấn Dũng có thể là
người kế thừa của Tôn Văn, ít ra về chủ trương kinh tế:
xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế này lấy quốc doanh chủ đạo,
lấy quyền sở hữu đất đai thuộc về nhà nước để điều
tiết ngân sách quốc gia. Hiện nay, tại Trung quốc, ngân sách
của một số tỉnh, một tỉ lệ rất lớn (khoảng 30%) lấy
từ việc giải tư đất đai. Tại Việt Nam con số này cũng
rất lớn. Kinh tế càng khủng hoảng, nguồn thu gặp khó khăn,
thì tỉ lệ ngân sách lấy từ nguồn đất đai có thể lên hơn
40%. Đây là chính sách kinh tế đã gặp sự thất bại cay
đắng của Quốc Dân đảng tại Đài loan từ thập niên 60. Ở
Việt Nam (và Trung quốc) việc này đã tạo ra một tầng lớp
dân chúng mới: dân oan, những người đã bị nhà nước tước
đoạt quyền sở hữu đất. Sự thất bại của Đài Loan suýt
làm cho nền Cộng hòa dân quốc sụp đổ, (nếu không có sự
viện trợ của Hoa Kỳ). Xem ra Nguyễn Tấn Dũng đã thực thi
chủ trương kinh tế (của Tôn Văn) rất tốt: Việt Nam đang
trên bờ vực thẳm. Ông Lê Đăng Doanh mới đây lên tiếng báo
động (đại khái): Việt Nam chưa bao giờ đối diện với
những nguy cơ như thế này từ năm 1992.
<strong>Trương Nhân Tuấn</strong>
______________________________________________________________
[i] Có thời kỳ tại Luân Đôn, tiếng đồn rằng ông sinh ở
Honolulu (Hawai, Hoa Kỳ), do đó có quốc tịch Mỹ. Việc này
nhằm vào việc bảo vệ ông tránh khỏi sự ruồng bát của
cảnh sát Anh.
[ii] Theo Albert Maybon trong «La Politique Chinois 1898-1908» thì ghi
rằng Tôn Văn đi với mẹ.
<strong>Tài liệu tham khảo:</strong>
<em>Lévy Roger</em>. Le souvenir de Sun Yat-sen et la République populaire
de Chine (1886-1960). In: Politique étrangère N°5 - 1960 - 25e année pp.
491-516.
(http://www.persee.fr/web/revues/home/prescript/article/polit_0032-342X_1960_num_25_5_2395)
<em>
Corcuff Stéphane</em>. Une remise en cause des trois principes du peuple?
L'avenir d'une idéologie. In: Perspectives chinoises.N°30, 1995. pp. 35-40.
(http://www.persee.fr/web/revues/home/prescript/article/perch_1021-9013_1995_num_30_1_1905)
<em>
Albert Maybon</em>: La politique chinoise. Etude sur les doctrines des Partis
en Chine, 1898-1908, Maspero H.Bulletin de l'Ecole française
d'Extrême-Orient, Année 1908, Volume 8, Numéro 1, p. 252 - 259
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10244), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét