Ở những nước độc đảng (Cộng Sản, Hồi Giáo), đảng viên
ứng cử được chọn vào ghế trong chính quyền, họ giữ các
chức vụ quan trọng nhằm bảo vệ đặc quyền đặc lợi của
họ mà họ đang cai trị. Ðương nhiên bầu cử của họ phải
thắng với tỷ lệ 100%, hoặc 95% vì không có đối thủ cạnh
tranh. Nhưng quốc gia đa đảng/lưỡng đảng, mỗi đảng tranh
cử tại nhiều địa phương với nhiều chức vụ ở những
cấp độ khác nhau. Bởi thế cử tri có cơ hội chọn ứng viên
tranh cử, và người nào nhiều phiếu thì đắc cử.
Vào thời mới lập quốc ở Hoa Kỳ, các lãnh tụ chọn người
vào ghế chính quyền bằng những phiên họp của các ủy viên
gọi là Caucus. Nhưng hình thức này trở thành không phù hợp
lòng dân, vì có nhiều ứng cử viên của các đảng phái khác
bị thất lợi trong cuộc xây dựng và phát triển công quyền.
Hơn nữa, một người hay một nhóm nhỏ cũng có thể kiểm soát
Caucus để đạt đến mục đích cá nhân. Vì thế từ năm 1840
tới nay thể thức đại hội chọn ứng cử viên đã trở thành
phổ quát. Theo thể thức này, đảng viên sẽ chọn ứng viên
đại diện cho mình qua kỳ đại hội. Nhưng rồi lãnh tụ
đảng và guồng máy đảng đã kiểm soát được đại hội.
Nhiều đại biểu bầu phiếu lại thực hiện theo chỉ thị,
hoặc được mua chuộc. Ðại hội tới nay vẫn còn tổ chức
tại một số tiểu bang Hoa Kỳ để chọn ứng viên cấp tiểu
bang, cấp địa phương, hoặc thảo luận những công tác nội
bộ.
Hai đảng chính trị quan trọng là Dân Chủ và Cộng Hòa tổ
chức những đại hội toàn đảng mỗi bốn năm một lần, để
chọn ứng viên tổng thống và phó tổng thống. Bắt đầu
những thập niên 1900 nhiều tiểu bang đã thay thế đại hội
đảng bằng phiếu sơ cấp để chọn ứng cử viên, cũng như
muốn tránh sự kiểm soát của đảng vào các ứng cử viên.
Bởi thế các tiểu bang ở Hoa Kỳ ngày nay tổ chức công khai
hay nội bộ bầu cử sơ cấp. Trong cuộc bầu cử công khai,
mỗi cử tri nhận phiếu ứng cử viên của các đảng. Tại
thùng phiếu, cử tri chọn phiếu của ứng cử viên mà mình đã
tuyển. Và trong cuộc bầu cử nội bộ, cử tri thường chỉ
chọn phiếu ứng cử viên của đảng mình.
<strong>1. Tập quyền - tản quyền</strong>
Những nước có hệ thống tập quyền như Anh, Pháp, Ý… thì
chính phủ trung ương nắm giữ nhiều quyền hành kể cả quyền
kiểm soát các địa phương. Nhưng những nước có hệ thống
liên bang như Hoa Kỳ, Gia Nã Ðại, Úc Ðại Lợi… thì quyền
hành được phân ra giữa trung ương, và tiểu bang, hay tỉnh
bang.
Những nước có thể chế trung ương tập quyền, các đảng
chính trị tập trung để được quyền kiểm soát, tổ chức
chính quyền trung ương, và các chính đảng cũng tổ chức và
hoạt động theo cấp độ này. Và những nước có thể chế
chính trị tản quyền, thì các chính đảng cũng phải hoạt
động và tổ chức sao cho phù hợp với thể chế như tổng
thống hay đại nghị.
<strong>2. Thể Chế Tổng Thống</strong>
Hiến Pháp Hoa Kỳ ấn định sự phân quyền giữa hành pháp,
lập pháp, và tư pháp. Tổng thống không phải là đại biểu
quốc hội, và cũng không phải là người của nội các, mà
tổng thống được chọn qua cuộc phổ thông đầu phiếu. Trong
Quốc Hội, thượng viện với các thượng nghị sĩ là tiếng
nói của người dân, và hạ viện với các dân biểu là tiếng
nói của chính quyền.
<strong>3. Thể Chế Đại Nghị</strong>
Thể chế dân chủ đại nghị như Anh Quốc thì người lãnh
đạo là thủ tướng. Thủ tướng phải là đại biểu quốc
hội và thường là lãnh tụ của đảng có đa số ghế tại
hạ viện. Thủ tướng chọn thành phần nội các là những lãnh
tụ các cấp của đảng có đa số ghế tại quốc hội. Anh
Quốc là nước mà thủ tướng và chính phủ là những người
có cả quyền lập pháp và hành pháp. Họ là nhân viên của
lập pháp và chịu trách nhiệm việc thi hành luật. Nếu chương
trình của thủ tướng không được quốc hội chấp thuận thì
đảng đối lập yêu cầu tổ chức tuyển cử. Và dân bỏ
phiếu lưu giữ chính phủ, hoặc là cho phép đảng đối lập
có cơ hội thành lập tân chính phủ.
Mỗi đảng ở thượng viện và hạ viện đều chọn lãnh tụ
tại mỗi viện (floor leader) và phụ tá (whip). Lãnh tụ đảng
tại mỗi viện hướng dẫn đảng viên trong việc thảo luận
và đề nghị dự luật. Người phụ tá giúp cho lãnh tụ biết
ý kiến của đảng viên trong các vấn đề.
<strong>4. Ðối Lập</strong>
Những nước dân chủ thì đảng hoặc những đảng thất cử
có nhiệm vụ phê bình các chương trình, các kế hoạch của
đảng cầm quyền. Ở Pháp, Ý, và những nước có nhiều
đảng, thì các đảng đối lập có nhiều quan điểm chính trị
khác biệt nhau, từ quân chủ cho chí cộng sản. Nước lưỡng
đảng thì đảng đối lập được thống nhất. Nhưng Quốc
Hội Hoa Kỳ cũng ít khi xảy ra như thế, vì một số thành viên
đảng lại ủng hộ chương trình của chính phủ dù trái với
chủ trương đường lối của lãnh tụ đảng họ.
<strong>5. Gây quỹ</strong>
Chiến dịch vận động gây qũy tranh cử rất quan trọng đối
với các nước dân chủ. Chiến dịch rất tốn kém nhưng các
đảng phải chi tiêu để được đắc cử. Chính đảng của Hoa
Kỳ phải chi tiêu cho chiến dịch tranh cử tất nhiên nhiều hơn
ở các quốc gia khác, một phần vì chiến dịch dài, và tốn
kém hàng triệu Mỹ kim cho cuộc vận động tranh cử thượng
nghị sĩ, và nhiều triệu cho cuộc vận động tranh cử tổng
thống.
<h2>B. Chính Đảng Việt Nam</h2>
Qua phần trình bày đại cương đảng chính trị của những
quốc gia Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Úc Đại Lợi, Anh Quốc… chúng
ta thấy rằng, chính đảng được nhiều đoàn thể và hiệp
hội kết hợp để tạo thành tụ lực và làm nên sức sống
của tổ chức đảng (Party Organization) trên tiến trình đấu
tranh chính trị. Các đoàn thể hiệp hội tuy có mục tiêu chính
trị, nhưng khả năng hoạt động của mỗi tổ chức lớn, nhỏ
lại khác biệt. Các tổ chức này có thể ủng hộ một chính
sách, hay ảnh hưởng bởi đường hướng hoạt động của một
chính đảng nhưng lại hoạt động đơn thuần về một phương
diện xã hội, tôn giáo, văn hóa, giáo dục hoặc kinh tế… Và
cũng từ đó chính sách của một chính đảng đề ra để thực
hiện công cuộc tổ chức chính là con người. Việc kiểm soát
con người và kiểm soát công tác trở thành mấu chốt quyết
định thành công hay thất bại trong hoạt động của một chính
đảng.
Vì thế, việc giải quyết đúng đắn về một hệ thống tổ
chức chính trị, tức là chúng ta giải đáp thông suốt những
vấn đề của con người:
- Phải làm gì?
- Có bao nhiêu việc?
- Cần biết cái gì?
- Tuân theo qui định gì?
- Trực thuộc ai?
- Có trách nhiệm và quyền hạn đến đâu?
- Liên hệ với người và đại phận khác như thế nào?
- Do ai bổ nhiệm, hay bãi miễn?
Ngày xưa, khi nhóm người bất bình với chính quyền thì họ
tập hợp nhau lại để mưu tính việc tuyển quân mộ lính mà
khởi nghĩa, mà thực thi lý tưởng, nguyện vọng của mình.
Nhưng ngày nay, để tránh chiến tranh, người thanh niên muốn
thực hiện lý tưởng phục vụ quốc gia dân tộc thì cần tham
gia hay thành lập chính đảng, từ đó tìm cách đại diện cho
dân, ứng cử vào quốc hội, và đấu tranh nghị trường.
Ngày trước chính trị gia xuất thân là những trí thức đào
tạo trong triều đình, tu viện, hay môn phái võ thuật. Thế
nhưng qua tiến trình phát triển xã hội, người trí thức thời
nay được đào tạo trong trường đại học của ngành giáo
dục trở thành những chuyên viên, và những người này họp
nhau thành hội thành đảng. Bởi vì những lời kêu gọi hay
đòi hỏi nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí hay tự
do tín ngưỡng… đều vô hiệu khi không có Lưỡng Đảng trong
một thể chế tự do chính trị. Và chỉ khi chúng ta có đảng
thứ hai đủ mạnh, có khả năng tranh đấu chính trị với
đảng cầm quyền thì lúc đó người dân mới thực sự có tự
do dân chủ và nhân quyền.
Xây dựng một chính đảng, trước hết chúng ta cần đề cập
đến việc thành lập và phát triển đơn vị tổ chức địa
phương nơi mình đang cư ngụ, thường gọi Quận Bộ (District)
vì là nơi liên quan mật thiết chính đảng với đại chúng,
nghe ý dân và đáp ứng nguyện vọng của dân. Quận bộ là cơ
quan lãnh đạo đảng bộ để hướng dẫn dân chúng sinh hoạt
chính trị, thành lập những Hội Đoàn và Câu Lạc Bộ để thu
hút thanh niên nam nữ vào hoạt động chính trị. Quận bộ cũng
là trường huấn luyện và đào tạo cán bộ đảng viên, thông
thường các nhân tài của đảng sản sinh từ quận bộ rồi
trưởng thành trong công tác lãnh đạo và quản trị tổ chức.
Cán bộ đảng viên là người tự nguyện nhận lãnh và hoàn
thành công tác tổ chức tại quận bộ sao cho phù hợp trình
độ nhận thức, khả năng chuyên môn, và sở trường của
chính mình. Cán bộ đảng viên là người:
- Biết điều mình nói, muốn nói, và việc mình làm trong tổ
chức một cách rõ ràng mạch lạc.
- Hiểu điều mình trình bày một cách sâu sắc, và tin tưởng
vững vàng vào sự nghiên cứu (research), sự hiểu biết của
chính mình.
- Thực hiện điều hiểu biết nói trên.
- Sống thực với điều hiểu biết của mình, chứ không lý
thuyết suông.
- Ứng dụng điều hiểu biết của mình vào cuộc sống bản
thân và xã hội.
<h2>C. Ðảng Chính Trị Việt</h2>
Nhìn lại đảng phái chính trị của người Việt Nam phải
thừa nhận rằng dân tộc ta chưa có một đảng chính trị
đúng nghĩa để <em>"sinh hoạt tự do dân chủ"</em>. Trước
hết vì thiếu triết lý dân tộc, thiếu nguyên lý tổng hợp,
thiếu tôn chỉ hay hệ thống tư tưởng chỉ đạo một cách
<em>"sống động hiện thực"</em>… Hơn nữa, tôn chỉ hay
chủ thuyết lại cần phải giải thích rộng rãi… cho nên đã
tự gò bó, mâu thuẫn quyền lợi, kình chống lẫn nhau trong
nội bộ đảng. Và từ đó các chính đảng đã không theo kịp
trào lưu tiến hóa chung của nhân loại; đảng CSVN là một ví
dụ điển hình.
Ðảng chính trị mà chúng ta mong muốn sớm có hôm nay, thì
đảng đó không nên đóng khung trong một tôn chỉ hay một chủ
thuyết nào, mà cần ứng dụng bằng những chính sách chính
trị thực tế, và tránh nạn giáo điều. Muốn được như
thế, chúng ta kết hợp sao cho hài hòa giữa hai hệ thống tư
tưởng của dân tộc và nhân loại, rút tỉa tinh hoa văn hóa
Tiên Rồng đưa vào quốc sách chính trị thì Việt Nam mới có
cơ may thành công.
Chúng ta biết rằng, trong thể chế chính trị Tự Do Dân Chủ
phải có hai đơn vị bình đẳng trong một cơ cấu sinh hoạt,
cầm quyền và đối lập. Từ đó, chúng ta có quyền chọn lựa
những ứng cử viên đại diện cho mình vào chính quyền để
hoạt động xây dựng, kiến thiết quốc gia. Và những ai muốn
"gánh vác sơn hà," thì họ mới có cơ hội để tự do thực
hiện những điều kiện như sau:
1. Chọn đảng chính trị để gia nhập.
2. Chọn đơn vị địa phương thích hợp để cho mình sinh
hoạt.
3. Ðệ đơn xin ứng cử.
4. Tiến thân trong đảng và tiến lên trong những đơn vị bầu
cử từ địa phương tới những cấp lớn hơn, hay trung ương.
5. Ðắc cử thành lãnh tụ khối dân cử của đảng.
6. Và vận động tranh cử để đảng có đa số phiếu trong
quốc hội, rồi từ đó mà có chính quyền và giữ chính
quyền.
Ðộng lực thúc đẩy các người thanh niên hăng hái gia nhập
đảng chính trị là do khả năng. Vì khi thanh niên có khả năng
chính trị thì họ mới chu toàn được nhiệm vụ, và khi có
nhiệm vụ thì ắt sinh ra quyền lợi. Quyền lợi chính trị
lại là phương tiện để giúp người thanh niên đó thực hiện
lý tưởng, hoài bão giúp dân cứu nước mà mình hằng tâm mưu
cầu. Phải có phương pháp tổ chức thực tiễn theo đà phát
triển của xã hội như phân công phân nhiệm… thì đảng chính
trị mới gặt hái được thành quả và xã hội mới tránh
được nạn công thần.
Bằng ngược lại, đảng độc tài trong các nước chậm tiến
thì thường đặt tình cảm làm động lực thúc đẩy cho tổ
chức… rồi mới xét tính đến quyền lợi, lý tưởng, và
khả năng của thành viên. Bởi thế, quyền lực thường bị
rơi vào tay những kẻ bất tài vô đức, mặc tình thao túng
chính trị… làm băng hoại xã hội, đưa dân nước lâm cảnh
nghèo đói bần cùng.
Ngày nay, dân tộc ta muốn tồn tại, muốn sống còn thì Chính
Sách Dựng Đảng là điều kiện tiên quyết. Vì chỉ có đảng
chính trị mới là cơ cấu tổ chức chặt chẽ trong công cuộc
dựng nước, dựng người. Ðảng chính trị phải có đủ
quyền lực đối lập, tức là phải là tổ chức của dân và
do dân. Ðảng phải có cán bộ nòng cốt hoạt động trong dân,
tổ chức dân và lãnh đạo dân; bằng không thì chỉ là
"đảng cuội", và hao tiền tốn của bằng việc làm vô tích
sự. Đảng chính trị cũng không thể bỗng nhiên mà có, và
lại càng không thể có do ngoại nhân tạo ra mà thành. Nói khác
đi đảng chính trị chỉ có khi có những người cưu mang tâm
huyết của Tổ Tiên Việt để thực thi đại cuộc Cách Mạng
Tiên Rồng.
Đảng chính trị đặt căn cứ trên nền tảng triết thuyết
dân tộc. Từ cơ sở tư tưởng đó, chúng ta phát huy và xác
định phương hướng, mục đích, mục tiêu, và nhiệm vụ hoạt
động trong từng thời kỳ bao gồm từ việc tổ chức kín, tổ
chức bán công khai, hoặc tổ chức công khai. Về mặt công tác
hoạt động, đảng chính trị phân công phân nhiệm một cách
cụ thể, rõ ràng cho từng thành viên, sao cho công tác vừa song
hành với chương trình hợp đồng, đồng bộ của tổ chức,
và lại vừa phù hợp với khả năng nhiệm vụ của mỗi
người.
Đảng chính trị không phải là tổng hợp tài năng cá nhân, mà
là một tập thể sinh hoạt có tổ chức, có hệ thống, có
nguyên tắc, có quy luật phát triển riêng của hệ tư tưởng
chỉ đạo và định hướng. Sức mạnh của đảng không phải
cấp số cộng mà là cấp số nhân, và tình cảm tập thể cũng
là cấp số nhân. Sức mạnh cũng như tình cảm tập thể
thường đưa những người cán bộ đảng viên hoạt động trở
thành danh tiếng. Giải quyết đúng đắn hệ thống tổ chức,
tức là chúng ta giải quyết vấn đề cán bộ, và xin nhớ
rằng, đảng chỉ vững mạnh nếu có lãnh đạo thừa kế.
Tóm lại, đảng chính trị phải tùy thuộc thực tế hiện hữu
mà chúng ta tổ chức sao cho linh động, biến hóa toàn vẹn và
hữu hiệu.
<h2>D. Kết Luận</h2>
<strong>1.</strong> Theo quan niệm tổ chức của Ðông phương,
chúng ta thường dựa trên nền tảng Vì Nghĩa. Chúng ta ngồi
lại với nhau vì thấy việc chung phải làm, và vì tình nghĩa
với nhau mà làm việc chung, việc nghĩa. Bởi thế mới có
những người Tụ Nghĩa, Kết Nghĩa rồi có Nghĩa Sĩ, Nghĩa
Quân… Tất cả đều căn cứ trên động lực tinh thần, tấm
lòng đối với việc chung, việc nước phải làm, với Quê
Hương Dân Tộc hay ít ra vì nặng nợ ơn nghĩa với nhau.
Vì vậy mục đích của việc kết tụ là <em>"đền ơn đáp
nghĩa"</em> hoặc làm ơn làm nghĩa… Với hình thức tổ chức
của Ðông phương rất thích hợp với Tình Người, nhưng nặng
phần chủ quan, lỏng lẻo, và nhẹ phần công tác. Do đó không
khai thác và ứng dụng triệt để những điều kiện thành công
khách quan, đây là điểm yếu trong công cuộc tổ chức đã
thường dẫn đến thất bại của nhiều chính đảng hoạt
động trên quê hương Việt Nam.
<strong>2.</strong> Ngược lại, theo quan niệm Tây phương, nền
tảng tổ chức là <em>"hợp tác"</em> và cùng nhau làm việc
chung, việc nước. Nhưng mục tiêu của tổ chức là <em>"hữu
hiệu"</em> họ làm sao cho hoàn thành công tác trước mắt;
tiếp đến mục đích của tổ chức là <em>"hưởng
lợi"</em> mọi người đều có lợi và càng lợi nhiều thì
càng tốt, bởi có lợi thì con người mới thích tham gia.
Do chủ trương <em>"hợp tác sao cho hữu hiệu để hưởng
lợi"</em> đã phát sinh ra hình thức tổ chức mà ngày nay
người ta mệnh danh là "dân chủ." Hình thức này dựa trên
nguyên tắc <em>"đa số thắng thiểu số"</em> và trên phương
thức <em>"bầu cử với nhiệm kỳ"</em>. Hình thức tổ chức
này thành công trong việc xử dụng tài sức và vật dụng để
phát triển. Tuy nhiên, vì hạn hẹp vào <em>"lợi"</em> cho nên
hình thức tổ chức chỉ thích ứng trong phương diện <em>"có
lợi"</em> mà thôi.
Vì chủ đích hưởng lợi, nên hình thức tổ chức thường rơi
vào tệ trạng với những nguy cơ man trá, thủ đoạn để thành
công. Tóm lại, với chủ trương <em>"đa số thắng thiểu
số"</em> của người Tây phương thì <em>"mạnh được yếu
thua"</em> và <em>"ai thắng thì có công lý"</em> cho nên
thường trở thành hình thức hợp pháp giúp cho nhóm người
mạnh đàn áp kẻ yếu, nhóm người có quyền lực áp bức bóc
lột kẻ thế cô… Bởi thế chúng ta phải cẩn thận và đề
ra cơ chế thích đáng nhằm ngăn ngừa nạn độc tài, đã từng
đưa đất nước chúng ta xuống vực thẳm nghèo nàn và chậm
tiến.
<strong>Phạm Văn Bản</strong>
__________________________________________
<strong>Ghi chú:</strong>
(1*) Rossiter, Clinton, Parties and politics in America, Ithaca, N.Y.,
Cornell University Press, 1960.
(2*) John Dewey, Democracy and Education: An Introduction to the Philosophy
of Education, New York, Macmillan, 1916, 1944.
(3*) Chính đảng Gia Nã Đại:
• Canada's New Democratic Party/Nouveau Parti démocratique du Canada,
NDP/NPD
• Liberal Party of Canada/Parti Libéral du Canada, LPC/PLC
• Conservative Party of Canada/Parti conservateur du Canada
• Bloc Québécois, BQ
• Animal Alliance Environment Voters Party of Canada, AAEV
• Canadian Action Party/Parti Action Canadienne, CAP/PAC
• Christian Heritage Party of Canada/Parti de l'Héritage Chrétien du
Canada, CHP/PHC
• Communist Party of Canada/Parti communiste du Canada, CPP/PCC
• Communist Party of Canada (Marxist-Leninist)/ Parti communiste du Canada
(marxiste-léniniste), CPP(M-L)/PCC(M-L)
• First Peoples National Party of Canada, FPNP
• Freedom Party of Canada/Parti de la Liberté du Canada, FP/PL
• Green Party of Canada/Parti vert du Canada, GPC/PVC
• Grey Party of Canada
• Libertarian Party/Parti Libertarien
• Marijuana Party/Parti Marijuana, MJP/PMJ
• Parti Populaire des Putes, PPP
• Progressive Canadian Party/Parti Progressiste-Canadien, PC Party/Parti PC
• Rhinoceros Party of Canada
• Western Block Party, WBP
• Western Canada Concept, WCC
Tuy nhiên, hai trong 4 đảng lớn là đảng Tự do (Liberal Party of
Canada) và đảng Bảo thủ (Conservative Party of Canada) thường
nắm chính quyền liên bang. Tại quốc hội Canada hiện nay có
dân biểu của hai đảng vừa kể và của các đảng Tân Dân
chủ (Canada's New Democratic Party), Khối Québecois (Bloc Québécois,
BQ) và 1 dân biểu độc lập. Tại mười tỉnh bang (province) và
ba lãnh địa (territory), chính phủ cũng thường do đảng lớn
nắm quyền British Columbia, Ontario, Quebec: đảng Tự do; Alberta,
New Brunswick, Nova Scotia, New Foundland, Prince Edward Island: đảng
Bảo thủ; Manitoba, Saskatchewan: đảng Tân Dân chủ.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10103), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét