Bài viết nầy có mục đích tái khám phá những giá trị cơ
bản của hiến pháp 1946 và tra xét lại giá trị của hiến
pháp hiện nay của nước cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
dựa vào cơ sở của hiến pháp 1946. Nếu hiến pháp 1946 là
một hiến pháp hợp pháp khai sinh ra nưóc Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hoà, thì nguyên tắc lập hiến đòi hỏi các hiến pháp
kế thừa của hiến pháp 1946 phải tuân thủ các điều khoản
căn bản của hiến pháp 1946. Khi tra xét lại thủ tục ban hành
hiến pháp 1959 chúng ta thấy rằng thủ tục ban hành hiến pháp
này và các hiến pháp sau đó đã không tuân thủ qui định của
hiến pháp 1946 về việc thay đổi hiến pháp. Một khi hiến
pháp kế thừa không tuân thủ các điều khoản lập hiến của
hiến pháp mẹ thì hiến pháp kế thừa đó bất hợp hiến,
bất hợp pháp và không có giá trị chính thống.
<h2>I. Những Ý Niệm Căn Bản Về Hiến Pháp</h2>
Hiến pháp là bộ luật tối cao của một quốc gia định nguyên
tắc tổ chức guồng máy công quyền để thực hiện mục đích
xây dựng một xã hội trong đó dân làm chủ đất nước nhằm
bảo đảm dân quyền và nhân quyền của công dân, và đồng
thời bảo đảm tính chất ổn định, chính thống và hợp pháp
của nhà cầm quyền. Nhà cầm quyền nào không thực thi hiến
pháp, phản bội các điều khoản của hiến pháp, nhà cầm
quyền ấy tự mình chấm dứt giá trị pháp lý và tính chính
thống về giá trị quyền lực lãnh đạo quốc dân. [1]
Ðể xác định quyền làm chủ đất nước của nhân dân, hiến
pháp luôn luôn phải được toàn thể nhân dân chấp thuận và
mọi sự thay đổi hiến pháp phải luôn luôn được toàn thể
nhân dân quyết định bằng lá phiếu. Hiến pháp gọi đó là
quyền phúc quyết. Quyền phúc quyết cộng với các quyền tự
do ứng cử và bầu cử, quyền bình đẳng cơ hội về quyền
lợi và nghĩa vụ kính tế chính trị văn hoá, và các quyền
công dân khác xác định nhân dân là chủ nhân ông của đất
nước. Khi nhân dân được phúc quyết hiến pháp hay được tự
do ứng cử và bầu cử đó là lúc họ thực sự hành sử
quyền làm chủ đất nước của mình.
<h2>II. Sự Ra Ðời Của Hiến Pháp 1946</h2>
Năm 1946, Quốc Hội dân cử đầu tiên đã được bầu lên
bằng một cuộc phổ thông đầu phiếu đầu tiên của đất
nước ta. Sau đó quốc hội được bổ xung thêm các dân biểu
là những nhân sĩ và các nhà cách mạng chống Pháp không Cộng
Sản. Quốc hội đầu tiên nầy tập hợp được nhiều thành
phần xã hội và đảng phái chính trị có những xu hướng khác
nhau. Ngoài các nhà cách mạng tả phái mà đại diện là các
ông Hồ chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Ðồng, có sự tham
dự của các nhà cách mạng tiên khởi thời Phan Bội Châu như
cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng với các nhà cách mạng hữu phái như
các ông Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nhất Linh Nguyễn
Tường Tam, Trần Trung Dung v.v... [2] [3] [4].
Sau đó, Quốc Hội đã bầu ra một Ủy Ban Dự Thảo Hiến Pháp
đã gồm 11 người, thuộc mọi thành phần, là đại biểu của
các tổ chức, đảng phái chính trị và các tầng lớp nhân dân
khác nhau do ông Hồ Chí Minh chủ trì.
Ngày 9 tháng 11 năm 1946, Quốc Hội Việt nam đã thông qua hiến
pháp đầu tiên cho một nước Việt Nam độc lập.
Về phần nội dung, Hiến Pháp 1946 đã qui định những quyền
căn bản của công dân trong đó có quyền bình đẳng về kinh
tế, chính trị, văn hóa (điều 6), quyền bình đẳng trước
pháp luật (điều 7), quyền tự do ứng cử và bầu cử (điều
18), nhân dân có quyền phúc quyết về hiến pháp (điều 21).
Hiến pháp 1946 còn đi xa hơn bằng cách cho phép những người
ngoại quốc tranh đấu cho tự do dân chủ mà phải trốn tránh
được cư ngụ trên đất Việt nam (điều 16).
Quan trọng nhất là không nó không hề có một điều khoản nào
qui định là một đảng phái nào hay một ý thức hệ nào là
độc tôn và độc quyền lãnh đạo đất nước như các bản
hiến pháp sau này của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà hay Cộng Hoà
Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. [5]
Ðứng trên phương diện lịch sử, hiến pháp 1946 là cơ sở
pháp lý khai sinh nước Việt Nam độc lập sau hơn 80 năm bị
mất chủ quyền về tay thực dân Pháp. Vì cuộc kháng chiến
chống Pháp bùng nổ sau khi quốc hội thông qua hiến pháp nên
hiến pháp 1946 không được chính thức công bố và cuộc tổng
tuyển cử nghị viện nhân dân không được thi hành. Tuy nhiên,
theo tài liệu của đảng Cộng Sản thì chính phủ và ban
thường vụ quốc hội luôn luôn dựa vào tinh thần và nội dung
hiến pháp 1946 để điều hành mọi hoạt động trong nước [5]
. Và hiến pháp đó có giá trị cho đến năm 1960 khi hiến pháp
1959 được ban hành.
Tài liệu Ðảng Cộng Sản cũng đánh giá như sau:
<em>Hiến pháp 1946 là một bản hiến pháp cô đúc, khúc chiết,
mạch lạc và dễ hiểu với tất cả mọi người. Nó là bản
hiến pháp mẫu mực trên nhiều phương diện.</em> [6]
Mặc dù chính phủ kháng chiến ra đời không theo thủ tục của
hiến pháp vì hoàn cảnh chiến tranh, và mặc dù những điều
khoản của hiến pháp đã bị nhà nước vi phạm, chúng ta có
thể xác định được rằng chính phủ đã công nhận hiến
pháp 1946 là khế ước hợp pháp giữa quốc dân Việt và nhà
cầm quyền đương thời. Hiến pháp 1946 xác định những giá
trị căn bản về văn hoá, chính trị và kinh tế và biến
những giá trị đó thành những lý tưởng và hoài vọng dân
tộc mà thế hệ 1945 đã hy sinh xương máu để chiến đấu và
bảo vệ. Ðồng thời nó xác định nhân dân là chủ nhân ông
tuyệt đối của đất nước.
Do đó, hiến pháp 1946 là một hiến pháp tốt, có giá trị pháp
lý, và là nền tảng pháp lý ắt có và đủ để xây dựng
nước Việt Nam mới, tự do dân chủ và độc lập. <span
class="underlined-text">Hiến pháp đó là nền tảng pháp lý cho
mọi thay đổi pháp lý của các hiến pháp kế thừa.</span>
<h2>III. Cái Chết Oan Khiên Của Hiến Pháp 1946 và Tính Chất
Bất Hợp Pháp của Các Hiến Pháp Kế Thừa</h2>
Xác định tính cách hợp pháp và hợp lý của hiến pháp 1946
để nhấn mạnh một điểm là Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hoà (cho đến năm 1980) và nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa
Việt Nam (từ năm 1980 cho đến nay) đều phải mang tính kế
thừa và mang tính liên tục về mặt pháp lý, tinh thần và nội
dung của hiến pháp 1946.
Sau năm 1946, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà có thêm tất cả là ba
hiến pháp. Các hiến pháp tuần tự ra đời trong các năm sau
đây: 1959 ban hành năm 1960, 1980 và 1992.
Tài liệu đảng Cộng Sản viết về thủ tục ra đời của
hiến pháp 1959, là bản hiến pháp kế thừa trực tiếp bản
hiến pháp 1946, như sau:
"<em>Hiến pháp 1946, hiến pháp dân chủ đầu tiên của nhà
nước ta đã hoàn thành sứ mệnh của nó, nhưng so với tình
hình và nhiệm vụ cách mạng mới nó cần được bổ sung và
thay đổi. Vì vậy, trong kỳ họp lần thứ sáu, Quốc Hội
nước Việt nam Dân Chủ Cộng hoà khoá I đã quyết định sửa
đổi hiến pháp 1946 và thành lập ban dự thảo hiến pháp sửa
đổi.</em>"
Tài liệu này viết tiếp:
"<em>Sau khi làm xong bản dự thảo đầu tiên, tháng 7 năm 1958
bản dự thảo đã được thảo luận trong các cán bộ trung
cấp và cao cấp thuộc các cơ quan quân dân, chính, Ðảng. Sau
đợt thảo luận này, bản dự thảo đã được chỉnh lý lại
vào ngày 1 tháng 4 năm 1959 đem công bố để toàn dân thảo
luận và đóng góp ý kiến xây dựng. Cuộc thảo luận nầy làm
trong bốn tháng liền tại khắp nơi trong các cơ quan, xí
nghiệp, trường học và các tổ chức khác của nhân dân, ở
thành thị và nông thôn, việc nghiên cứu và thảo luận dự
thảo hiến pháp tiến hành sôi nổi và đã trở thành một phong
trào quần chúng rộng rãi có đủ các tầng lớp nhân dân tham
gia.</em>"
Tài liệu trên kết luận về phần thủ tục thay đổi hiến
pháp năm 1959 như sau:
"<em>Ngày 18-12-1959, tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá I,
chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc báo cáo về dự thảo hiến
pháp sửa đổi. Ngày 31-12-1959, quốc hội đã nhất trí thông
qua Hiến pháp sửa đổi và ngày 1-1-1960 Chủ tịch ký sắc
lệnh công bố hiến pháp.</em>" [7]
Khi bàn về hiến pháp 1959, tài liệu của ÐCSVN viết như sau:
"<em>Hiến pháp 1959 là sự kế thừa và phát triển của hiến
pháp 1946 trong giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam.</em>"[7]
Những trích dẫn kể trên cho thấy nhà nước tự ý tuyên bố
là Hiến Pháp 1946 đã "hoàn thành sứ mệnh" của nó mà
không nói rõ ràng thế nào là "sứ mệnh của hiến pháp" và
thế nào là "hoàn thành." Trong hiến pháp 1946 không hề có
điều khoản nào xác định "sứ mệnh của hiến pháp" và
ấn định rằng khi hiến pháp "hoàn thành" sứ mệnh của nó
thì giá trị thi hành của hiến pháp phải bị chấm dứt.
Thế thì, lý do khai tử hiến pháp 1946 hoàn toàn vô căn cứ.
Cái chết của hiến pháp 1946 là một cái chết oan khiên, cái
chết ngụy tạo. Hiến pháp 1946 đã bị ÐCSVN xé bỏ một cách
tức tưởi vì hiến pháp 1959 không có lý do chánh đáng và hợp
pháp để thay thế hiến pháp 1946.
Hơn nữa, vì nhà nước xác nhận hiến pháp 1959 là hiến pháp
kế thừa của hiến pháp 1946 và đã cam kết điều hành đất
nước theo tinh thần và nội dung của hiến pháp 1946 nên sự
thay đổi hiến pháp cũng phải tuân thủ yêu cầu của hiến
pháp 1946.
Thủ tục thay đổi hiến pháp năm 1959 theo tài liệu của chính
Ðảng Cộng Sản đã chứng minh sự ra đời của hiến pháp 1959
đã không theo đúng nguyên tắc qui định trong điều 70 của
hiến pháp 1946. Hiến pháp 1946 qui định rõ ràng, minh bạch,
ngắn gọn và dễ hiểu là những thay đổi hiến pháp phải
được nhân dân phúc quyết.
Ðiều 70 của Hiến Pháp 1946 liên quan đến vấn đề thay đổi
hiến pháp viết rằng:
"<em>Sửa đổi hiến pháp phải theo cách thức sau đây:</em>
<em>a) Do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu.</em>
<em>b) Nghị viên bầu ra một ban dự thảo những điều thay
đổi.</em>
<em>c) Những điều thay đổi khi đã được nghị viện ưng
chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết.</em>"
Trong khi đó, điều 112 quy định thủ tục SỬA ÐỔI HIẾN PHÁP
của hiến pháp 1959 được viết như sau:
<em>Chỉ có Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp.
Việc sửa đổi phải được ít nhất là hai phần ba tổng số
đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.</em>
Như vậy, với hiến pháp 1959, nhà cầm quyền đã loại hẳn vai
trò phúc quyết của nhân dân.
Việc đem dự thảo hiến pháp ra cho "toàn dân" thảo luận
và đóng góp ý kiến "một cách sôi nổi" là một thủ tục
tốt, nhưng hoàn toàn không có giá trị pháp lý. Hiến pháp 1946
không đòi hỏi nhân dân phải thảo luận và đóng góp ý kiến
một cách... sôi nổi. Hiến pháp 1946 đòi hỏi nhân dân phải
có quyền phúc quyết mọi thay đổi hiến pháp. Thủ tục phúc
quyết này cần được hiểu là phải được thực hiện qua
một cuộc trưng cầu dân ý (referendum) tự do để thể hiện
sự chấp thuận của toàn dân. [8]
Các Hiến pháp từ năm 1959 trở đi đã loại bỏ hẳn vai trò
phúc quyết của nhân dân trong thủ tục thay đổi hiến pháp.
Vì quyền phúc quyết những thay đổi hiến pháp xác định
quyền làm chủ đất nước của nhân dân, do đó, khi nhân dân
không còn quyền phúc quyết hiến pháp, thì quyền làm chủ
đất nước đã bị đã bị tước đoạt. Chúng ta có thể kết
luận rằng, cái chết của hiến pháp 1946 đánh dấu một giai
đoạn lịch sử mà người dân Việt Nam đã bị cướp đoạt
quyền làm chủ đất nước.
Vì sự thể điều 70 hiến pháp 1946 qui định thủ tục pháp lý
của sự thay đổi hiến pháp,
Vì sự thể lý do sửa đổi hiến pháp có tính chất ngụy
tạo,
Vì sự thể thủ tục sửa đổi hiến pháp để cho ra đời
hiến pháp 1959 đã vi phạm nghiêm trọng điều 70 nầy,
Vì sự thể hiến pháp 1959 tước đoạt quyền sửa đổi hiến
pháp của nhân dân Việt Nam
Chúng ta có thể khẳng định rằng, các hiến pháp từ 1959 trở
đi đã phản bội lý tưởng và ước vọng của dân tộc ở
đỉnh cao nhất của lòng yêu nước của thế hệ thanh niên và
nhân dân ở thời đại 1945.
Ðồng thời, hiến pháp 1959 cùng các hiến pháp xuất hiện sau
đó hoàn toàn bất hợp hiến và bất hợp pháp vì không có
tính kế thừa và tính liên tục về mặt pháp lý, tinh thần và
nội dung của hiến pháp 1946. Do đó, các hiến pháp kế thừa
không có năng lực pháp lý để xác định tính chất hợp pháp
và chính thống của nhà cầm quyền.
<h2>IV. Lối Ra và Lối Về</h2>
Vì quyền phúc quyết của nhân dân về mọi thay đổi hiến
pháp xác định quyền làm chủ đất nước, sự thể đảng
Cộng Sản Việt Nam ngang nhiên dùng hiến pháp 1959 để bãi bỏ
quyền phúc quyết trong thủ tục lập hiến của người dân là
hành vi tước đoạt quyền dân chủ của nhân dân Việt Nam.
Nhận định về tính chất dân chủ của thủ tục lập hiến
của nước ta hiện nay, luật sư Nguyễn Văn Thảo, cố vấn
pháp luật của quốc hội và bộ chính trị ÐCSVN, trình bày
trong bài viết "Soạn thảo, sửa đổi hiến pháp, và thực
hiện bảo vệ hiến pháp" đăng trong Tạp Chí Cộng Sản số
12 tháng 6-2001, cho rằng thủ tục lập hiến của các hiến pháp
xuất hiện sau hiến pháp 1946 không có tính cách dân chủ. Trong
bài nầy Luật Sư Thảo đã có những nhận định về thủ tục
soạn thảo hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 như sau:
"<em>Thực tiễn nước ta có hai công thức soạn thảo (hiến
pháp):</em>
"<em>Ban soạn thảo hiến pháp + trưng cầu dân ý (hiến pháp
1946)</em>
"<em>Ban soạn thảo hiến pháp + hỏi ý kiến nhân dân (hiến
pháp 1959, 1980, 1992)</em>
<em>Trong hai công thức trên, tổ chức trưng cầu dân ý là một
thành tựu về phát huy dân chủ trực tiếp, thực chất là để
từng công dân tham gia trực tiếp vào việc thông qua hiến
pháp.</em>
<em>Công thức thành lập Ủy Ban soạn thảo, tổ chức lấy ý
kiến nhân dân rồi trình lên Quốc Hội thông qua thì việc lấy
ý kiến nhân dân khác hẳn với trưng cầu ý dân. Tập hợp ý
kiến của nhân dân để chỉnh lý bản dự thảo Hiến Pháp,
công dân không được tỏ thái độ trực tiếp với dự thảo
Hiến Pháp, không tham gia việc thông qua Hiến Pháp.</em>" [10]
Một thủ tục soạn thảo hiến pháp mà "công dân không
được tỏ thái độ trực tiếp với dự thảo Hiến Pháp,
không tham gia việc thông qua Hiến Pháp" xác định tính chất
mất dân chủ của hiến pháp nầy. Ðó là trường hợp ra đời
của các hiến pháp 1959, 1980 và 1992. Ðồng thời đó là lời
xác minh sự vi phạm trầm trọng điều 70 của hiến pháp 1946
về nguyên tắc trưng cầu dân ý những thay đổi hiến pháp.
Với lý luận hiến pháp, luật sư Thảo muốn thay mặt ÐSCVN
khéo léo nhắn nhủ với nhân dân rằnghiến pháp hiện nay hoàn
toàn không có tính chất dân chủ, vì trên cơ sở điều 70 của
hiến pháp 1946, những hiến pháp sau này không hợp hiến và
hoàn toàn không có giá trị pháp lý.
Một chế độ hợp pháp không thể được xây dựng trên một
hiến pháp bất hợp pháp. Ðây là khủng hoảng hiến pháp lớn
nhất trong mọi khủng hoảng hiến pháp liên quan đến giá trị
chính thống (legitimacy) của chế độ.
Mặt khác, sư hiện diện của các đảng phái không Cộng Sản
trong việc hình thành hiến pháp 1946 cho thấy rằng có một mối
tương quan chặt chẽ giữa tinh thần dân chủ đa nguyên và
hiến pháp 1946. Nếu hiến pháp 1946 thể hiện những lý tưởng
và ước vọng của thế hệ 1945 về một tổ quốc độc lập,
về một thể chế dân chủ đa nguyên, là biểu tượng sự
đoàn kết của toàn dân trong công cuộc đấu tranh chống Pháp,
là đỉnh cao của các phong trào cách mạng từ Phan Bội Châu,
Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, Trương Tử Anh, và phong trào
Cộng Sản yêu nước thì cái chết của nó là sự phản bội
toàn bộ lý tưởng của thế hệ 1945 và của nhân dân Việt
Nam.
Do đó, muốn tái lập tính chính thống lịch sử và pháp lý
của chế độ hiện nay, muốn giải trừ chuyên chính, muốn xây
dựng một chế độ dân chủ đa nguyên, điều thiết yếu là
quốc hội và nhà nước Việt Nam phải trở về với những giá
trị của hiến pháp 1946 và mọi thay đổi hiến pháp phải tuân
thủ những quy định điều 70 của hiến pháp nầy.
<h2>V. Kết Luận</h2>
Vì hiến pháp là luật pháp tối cao xác định giá trị pháp lý
của nhà nước, do đó, với một hiến pháp không có cơ sở
pháp lý như hiến pháp hiện nay, nhà nước không có năng lực
pháp lý để tồn tại. Và nhà nước không thể tiếp tục tồn
tại và lãnh đạo đất nước trong tình trạng không hợp pháp,
không hợp hiến và không có tính chất chính thống.
Ðối với nhân dân Việt Nam, vấn đề không phải là vấn đề
thay đổi, chắp vá vài ba chương, hay hai ba điều khoản của
hiến pháp hiện nay như ÐCSVN đề nghị, hoặc chỉ bỏ điều 4
hiến pháp như một số nhà đấu tranh dân chủ đề nghị.
Những thay đổi hiến pháp chỉ có giá trị khi quyền phúc
quyết hiến pháp của nhân dân được tái lập cùng với sự
hình thành một ủy ban bầu cử quốc gia độc lập và đa
nguyên để bảo đảm cho tính chất trong sáng của các cuộc
bầu cử hoặc trưng cầu dân ý theo như tinh thần của hiến
pháp 1946.
Khổng Tử viết: "thượng bất chính, hạ tắc loạn." Trong
thời đại dân chủ, một nhà nước không có cơ sở hiến pháp
dân chủ hợp pháp và chính thống để chứng minh sự tồn tại
của nó là một trường hợp "thượng bất chính" nghiêm
trọng nhất của mọi trường hợp "thượng bất chính" và
nó sẽ dẫn tới một kịch bản "hạ tắc loạn."
Chúng ta có thể nhận định được ngay là nỗ lực giải
quyết khủng hoảng hiến pháp là đầu mối để tháo gỡ chế
độ thượng bất chính hiện nay. Nó sẽ là căn cứ địa hồi
sinh dân tộc. Bất kỳ nhân dân một chọn lựa phương cách
giải quyết khủng hoảng hiến pháp như thế nào, hoặc quay
trở về với hiến pháp 1946 hoặc thực hiện một hiến pháp
mới, tất cả đều phải tuân thủ nguyên tắc lập hiến của
hiến pháp 1946. Nó sẽ là cơ sở pháp lý ắt có cho sự ra
đời của một nước Ðại Việt thời đại 2000. Chỉ có giá
trị của hiến pháp 1946 mới có thể tiếp nối giá trị chính
thống về lịch sử, phục hồi chỗ đứng lịch sử của các
đảng phái cách mạng yêu nước, và bảo toàn giá trị chính
thống của cuộc chiến tranh giành độc lập.
Với một hiến pháp xác định quyền làm chủ đất nước của
người dân, nhân dân Việt mới có thể hành xử quyền làm
chủ đất nước của mình. Từ đó, người dân có thể thực
hiện quyền chọn lựa người lãnh đạo đất nước mà không
phải qua những cơ quan đề cử của đảng, để đồng tiền
của người dân bỏ ra thực hiện những cuộc bầu cử không
bị lãng phí, để mọi người cùng nhau xây dựng một xã hội
dân sự trên nền tảng chế độ dân chủ pháp trị.
Chỉ có một chính quyền có giá trị chính thống về lịch sử
và pháp lý mới có đầy đủ cơ sở vật chất và tinh thần
để thực hiện công cuộc phục hưng dân tộc, phục hoạt văn
hoá, và bảo toàn lãnh thổ, để tiếp nối sứ mạng cứu
quốc tồn chủng của tiền nhân. Cơ sở vật chất và tinh
thần đó của dân tộc là sức mạnh để đưa đất nước ra
khỏi cơ chế độc đoán trì trệ và ao tù của chuyên chính,
để đưa dân tộc Việt vào giai đoạn cất cánh kinh tế toàn
dân. Có như thế, nước Ðại Việt của thời đại 2000 mới
có thể hoà nhập được với cộng đồng các dân tộc văn minh
tiến bộ của nhân loại ở thế kỷ 21, và để rửa mối
nhục nghèo đói và lạc hậu của xã hội chủ nghĩa hiện nay.
<em>8/8/2002 được viết lại 3/24/2005</em>
<h2>Chú thích</h2>
[1] Jean Jacque Rousseau, Social Contract, lưu trữ ở
http://books.mirror.org/gb.rousseau.html
[2] Nguyễn Xuân Chữ, Hồi Ký Nguyễn Xuân Chữ. Nguyễn Xuân
Phát và Chính Ðạo hiệu đính, Văn Hoá, Houston ấn hành 1996.
trang 301-310
[3] Chú thích của người viết: Các tài liệu lịch sử về
cuộc bầu quốc hội và danh sách quốc hội rất là thiếu sót.
Tôi rất mong được các nhà sử học trong nước và ngoài
nước góp thêm ý kiến và sử liệu.
[4] Nguyễn Lý Tưởng, Thuyền Ai Ðợi Bến Vân Lâu, trang 77, Tác
giả Xuất Bản Hoa Kỳ 2001
[5] Hoàn Cảnh Ra Ðời Và Nội Dung Cơ Bản Của Hiến Pháp 1946,
http://www.cpv.org.vn/vietnam/hp46.html
[6] Hoàn Cảnh Ra Ðời Và Nội Dung Cơ Bản Của Hiến Pháp 1946,
http://www.cpv.org.vn/vietnam/hp46.html
[7] Hoàn Cảnh Ra Ðời và Nội Dung Cơ Bản Của Hiến Pháp 1959
http://www.cpv.org.vn/vietnam/hp59.html
[8] Nguyễn Văn Thảo, "Soạn thảo, sửa đổi hiến pháp, và
thực hiện bảo vệ hiến pháp," Tạp Chí Cộng Sản tháng
6-2001 http://www.cpv.org.vn/tccs/122001/10-nguyenvanthao.htm
[10] Nguyễn Văn Thảo, Soạn thảo, sửa đổi hiến pháp, và
thực hiện bảo vệ hiến pháp, Tạp Chí Cộng Sản tháng 6-2001,
http://www.cpv.org.vn/tccs/122001/10-nguyenvanthao.htm
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10263), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét