Nguyễn Gia Kiểng - Hòa giải xã hội với trí thức (Nhân thư ngỏ của 36 trí thức)

<div class="special_quote">"....Đất nước tiến bộ nào xét cho
cùng cũng đặt nền tảng trên một hợp đồng theo đó trí
thức lãnh đạo xã hội và xã hội kính trọng trí thức vì
họ hiểu biết, lương thiện, đi trước quần chúng và đủ
dũng cảm để chấp nhận thử thách..."</div>

Tôi không đồng ý với những đả kích nặng nề đối với
thư ngỏ ngày 21/8/2011 của 36 trí thức hải ngoại gửi lãnh
đạo đảng và nhà nước CSVN. Họ là một thiểu số hiếm hoi
còn quan tâm tới đất nước, phần lớn những người cùng
tuổi và địa vị của họ đã bỏ cuộc để dành trọn thời
giờ cho những ngày nghỉ hưu thoải mái. Tôi còn lý do để hài
lòng vì qua thư ngỏ này họ đã bày tỏ sự hưởng ứng đối
với lập trường <em><strong>hòa giải và hoà hợp dân
tộc</strong></em>, lập trường nền tảng của Tập Hợp Dân
Chủ Đa Nguyên từ gần ba mươi năm qua và đã từng khiến
chúng tôi gặp nhiều chống đối. Tôi quen biết nhiều vị ký
tên thư ngỏ này. Họ đều là những trí thức mong muốn một
tương lai dân chủ cho đất nước, đối với một vài vị tôi
có sự quí trọng đặc biệt. Những dòng này vì vậy là những
trao đổi tương kính giữa những người cùng chia sẻ những
trăn trở chung. Giữa những người quí trọng nhau cũng có thể
có những ý kiến khác nhau. Không có ý định tranh cãi, vả
lại những ý kiến trong thư ngỏ được soạn thảo rất công
phu này đều tốt ngay cả khi người ta có lý do để nghĩ rằng
chúng có thể đúng hơn, tôi sẽ không mổ xẻ chi tiết thư
ngỏ mà chỉ nêu một vài điểm để thảo luận.

Điểm đầu tiên đáng lưu ý là hầu hết những gì mà thư
ngỏ đề nghị đối với bài toán Trung Quốc chính quyền cộng
sản đều đã làm rồi. Khẳng định chủ quyền của Việt Nam
trên Biển Đông kể cả Trường Sa và Hoàng Sa, tranh thủ sự
ủng hộ của các nước ASEAN là những điều mà họ đã và
còn đang làm. Họ chỉ không chính thức đưa vấn đề ra
trước công pháp quốc tế, nhưng điều này thư ngỏ cũng không
thôi thúc họ. Còn thái độ hiếu hòa đối với Trung Quốc mà
thư ngỏ khuyên họ nên có thì không những họ đã có mà còn
có một cách quá đáng.

Điểm thứ hai là một điểm mà thư ngỏ không nói. Đó là
muốn giải tỏa áp lực Trung Quốc, Việt Nam không có cách nào
khác hơn là tranh thủ sự bênh vực của các cường quốc dân
chủ, đặc biệt là Hoa Kỳ và Châu Âu. Nếu có một điều mà
mọi người, kể cả chính quyền cộng sản, đều đồng ý thì
đó là Trung Quốc quyết tâm chiếm đoạt Biển Đông bất chấp
công pháp quốc tế. Như thế thì sự ủng hộ của ASEAN chỉ
có một tác dụng rất tương đối. Chỉ có Hoa Kỳ và Châu Âu
có khả năng buộc Trung Quốc phải biết điều bởi vì đó
vừa là những thị trường tối cần thiết cho Trung Quốc vừa
là những quân lực thừa sức đánh bại Trung Quốc nếu có
đụng độ. Tại sao thư ngỏ lại không thẳng thắn đề nghị
chính quyền CSVN tìm kiếm thế hợp tác chiến lược với Hoa
Kỳ và Châu Âu? Không nhìn thấy hay không dám nói ra? Cả hai
trường hợp đều không ổn. Nếu không nhìn thấy một yếu
tố cốt lõi như vậy thì có tư cách gì để nói về quan hệ
Việt – Trung? Còn nếu không dám nói ra (vì biết là chính
quyền cộng sản không muốn hay vì sợ bị đánh giá là công
cụ của Hoa Kỳ?) thì mâu thuẫn với chính mình, và với thái
độ trí thức, vì lên tiếng nhưng lại không dám nói ra điều
cần nói.

Mâu thuẫn này cũng bộc lộ ở một điểm khác, khi thư ngỏ
nói với các cấp lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản
rằng: "<em>cần trả tự do cho các công dân bị giam giữ vì
đấu tranh ôn hòa cho tự do, dân chủ, cho chủ quyền quốc gia,
để đoàn kết toàn dân</em>". Không ai chối cãi thiện chí
được bày tỏ, cũng như khi thư ngỏ yêu cầu chính quyền
cộng sản thúc đẩy tiến trình dân chủ hoá, chấp nhận bầu
cử tự do, tôn trọng những quyền con người được qui định
trong các công ước quốc tế và cả trong hiến pháp Việt Nam.
Tuy nhiên ở đây có một sai lầm về nguyên tắc, và một sai
lầm nghiêm trọng, cần được thảo luận, nhất là ở trình
độ của các vị ký tên. Trả tự do, và bồi thường thiệt
hại, cho những người tranh đấu ôn hòa cho tự do, dân chủ và
chủ quyền quốc gia không phải chỉ là một nhu cầu "để
đoàn kết toàn dân" mà là một bắt buộc của luật pháp và
đạo đức chính trị phải được đòi hỏi một cách dứt
khoát và quả quyết. Những người này chỉ hành xử những
quyền tự nhiên và căn bản. Họ là nạn nhân của sự vô
đạo và vô lý. Thư ngỏ đã muốn tỏ ra ôn hoà và thực tế
nên đã bỏ qua điều không thể bỏ qua, đó là ý nghĩa nền
tảng của chính khái niệm "quyền".

- Quyền thuộc về luật và vì thế nó phải thẳng thắn, nó
không thể chấp nhận thỏa hiệp trên những điểm cơ bản,
nếu không nó không còn là quyền.

- Quyền không thể chấp nhận thái độ "thực tế" bởi vì nó
luôn luôn đối nghịch với thực tại; người ta viện dẫn
quyền trước một thực tại vi phạm hoặc có nguy cơ vi phạm
đến quyền. Nhân danh thực tại để hy sinh quyền là sai;
quyền đòi hỏi nhìn thực tại với con mắt của con người
chứ không chấp nhận để nhìn con người từ thực tại; sự
phản kháng là cốt lõi của quyền.

- Quyền cũng không thể chấp nhận sự vô lý; nó là thành quả
của trí tuệ và nó không thể tách ra khỏi sự hợp lý vì trí
tuệ là nền tảng chính đáng của nó.

Những gì đúng với khái niệm quyền lại càng đúng với
quyền con người bởi vì đó là những quyền bắt buộc nhất,
nếu không con người không còn là con người. Trên vấn đề
nhân quyền thái độ duy nhất đúng đắn là không nhân
nhượng. Thư ngỏ đã phạm một lầm lẫn cương vị. Đúng là
có yêu cầu thực tiễn và thỏa hiệp trong hoạt động chính
trị - Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên chưa bao giờ chủ trương
phải cô lập và trừng phạt chế độ cộng sản Việt Nam,
trái lại chúng tôi luôn luôn cho rằng phải mở cánh của bưng
bít bằng hợp tác và trao đổi, đó là phương tiện để có
thể tạo áp lực bênh vực nhân quyền - nhưng đó là vấn đề
của các chính quyền và các tổ chức chứ không phải là vấn
đề của các cá nhân. Cá nhân không có nhu cầu thương thuyết
và thỏa hiệp và vì thế không có quyền nhân nhượng. Ở
cương vị cá nhân thái độ thực tiễn thực là không thực
tiễn bởi vì tiếng nói của cá nhân sẽ mất hết trọng
lượng ngay khi nó nhích ra khỏi lẽ phải. Các vị ký tên thư
ngỏ dù ký chung với nhau cũng vẫn chỉ là 36 cá nhân.

Thư ngỏ nói đến ba triệu người Việt hải ngoại trong đó
có 300.000 tốt nghiệp đại học để nhấn mạnh sự kiện hàng
năm chỉ có 500 người trong số 300.000 này "về nước chuyển
giao công nghiệp". Con số 500 vẫn còn lớn gấp nhiều lần sự
thực nếu đúng là muốn nói tới những chuyên gia thực sự
về nước để chuyển giao công nghiệp. Con số 50 gần với sự
thực hơn. Quá ít. Tuy vậy trên điểm này tôi lại thấy thư
ngỏ bất công với chính quyền cộng sản. Đành rằng họ có
trách nhiệm chính nhưng họ không phải là tất cả nguyên nhân.
Các chuyên gia tốt nghiệp tại Phương Tây dĩ nhiên không thể
chấp nhận một chế độ độc tài cố bám lấy một chủ
nghĩa Marx đã lỗi thời một cách gớm ghiếc, hơn thế nữa
lại còn ngờ vực và xấc xược đối với họ, nhưng vấn
đề không phải chỉ giản dị như thế. Theo tôi sự kiện các
chuyên viên trẻ, và tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại nói chung,
thờ ơ với đất nước cũng do trách nhiệm của thế hệ
trước, nghĩa là thế hệ của các vị ký tên thư ngỏ, trong
đó có tôi. Họ đã không gây dựng được một tình cảm Việt
Nam cho thế hệ sau vì thế con em họ đã hội nhập hoàn toàn
vào xã hội tiếp cư và không còn gắn bó với Việt Nam. Đây
là một vấn đề lớn cần một phân tích riêng. Ở đây tôi
chỉ xin nêu một nguyên nhân trong khuôn khổ bài viết này. Đó
là lớp người trước, lớp người của thư ngỏ và của chính
kẻ viết bài này, đã không truyền được cho thế hệ sau tình
cảm dân tộc vì chính họ thiếu tình cảm này. Họ đồng hóa
lòng yêu nước với sự thù hận cộng sản trong khi sự thù
hận chẳng bao giờ là một tình yêu. Hay họ yêu nước một
cách hời hợt, nghĩa là không yêu nước tới mức thấy cần
phải dành cho nó một cố gắng liên tục, bền bỉ và thành
thực. Ngay cả đối với phần lớn trong số rất ít người
còn quan tâm tới đất nước thỉnh thoảng một cuộc hội
thảo hay một tuyên ngôn, một thư ngỏ cũng được coi là đủ.
Họ không chuyển được lửa vì chính họ không có lửa. Hơn
nữa họ cũng không có trọn vẹn lẽ phải và chính nghĩa sau
khi làm quá nhiều thỏa hiệp không nên làm, không được làm
và nhiều khi cũng không cần làm. Hậu quả là họ không thuyết
phục được tuổi trẻ.

Đất nước ta đang sống một thực trạng hổ nhục. Tuy tự
hào có bốn ngàn năm văn hiến nhưng chúng ta không chỉ nghèo
khổ mà còn là một trong những dân tộc ít ỏi vẫn bị từ
chối những quyền căn bản của con người.

Trước một thực tại thách đố như vậy người ta có thể
phản ứng theo nhiều cách. Có thể đầu hàng, thậm chí bất
chấp đạo đức và liêm sỉ để hùa theo chính quyền và cầu
danh lợi; có thể nhẫn nhục chịu đựng và luồn lách để
sống như đa số quần chúng; và cũng có thể đấu tranh để
thay đổi xã hội. Nhưng một điều chắc chắn là không thể
cầu xin, khuyên can, đề nghị. Chế độ này đã chứng tỏ rõ
ràng là họ chỉ thay đổi trước áp lực. Cuộc "đổi mới"
về kinh tế thị trường năm 1986 cũng đã chỉ có vì chế độ
cộng sản đã tựa lưng vào tường, khẩu hiệu của họ lúc
đó là "đổi mới hay là chết". Như vậy các kiến nghị, tuyên
ngôn, thư ngỏ chỉ có ý nghĩa nếu được quan niệm là nhắm
tạo áp lực, nghĩa là nằm trong khuôn khổ của cuộc đấu
tranh dân chủ hóa, nghĩa là nếu có đấu tranh.

Làn sóng dân chủ hóa tại các nước Trung Đông và Bắc Phi
phải chất vấn lương tâm và danh dự của chúng ta. Nói chung
người Việt Nam không nghĩ là mình thiếu trí tuệ và dũng cảm
so với người Ả Rập, nhưng thực tế là tại Tunisia, Ai Cập,
Syria, Libya, Yemen… hàng ngàn người đã hy sinh tính mạng đứng
lên chống lại các bạo quyền. Tại Việt Nam chỉ cần vài
chục người thiệt mạng vì xuống đường đòi dân chủ thì
chắc chắn tình thế đã thay đổi rồi. Việt Nam còn chín
muồi cho dân chủ hơn các nước Ả Rập, nhưng tại sao chưa có
chuyển động? Câu trả lời giản dị là quần chúng chỉ
đứng dậy nếu được động viên và lãnh đạo bởi trí
thức, thông qua các tổ chức dân chủ, nhưng trí thức Việt Nam
đã không đảm nhiệm vai trò của mình.

Nếu có một điều cần nghĩ lại trong hiện tình đất nước
thì đó là hợp đồng giữa trí thức và xã hội. Đất nước
tiến bộ nào xét cho cùng cũng đặt nền tảng trên một hợp
đồng theo đó trí thức lãnh đạo xã hội và xã hội kính
trọng trí thức vì họ hiểu biết, lương thiện, đi trước
quần chúng và đủ dũng cảm để chấp nhận thử thách. Chúng
ta thiếu một hợp đồng như thế. Trí thức không đảm nhiệm
vai trò lãnh đạo và quần chúng coi thường trí thức. Đừng
vì thấy người Việt Nam trọng bằng cấp mà nghĩ rằng họ
kính trọng trí thức. Tại nước Pháp mà tôi đang sống, cũng
là nước có rất nhiều công chức, các cuộc thăm dò dư luận
cho thấy là đa số người Pháp đánh giá rất thấp công chức
nhưng đồng thời đa số cũng muốn con cái họ làm công chức
bởi vì làm công chức nhàn hạ và an toàn. Thèm muốn không
đồng nghĩa với kính trọng.

Phải nhìn nhận rằng trí thức Việt Nam rất xứng đáng với
sự khinh thường của quần chúng. Họ vẫn chưa đoạn tuyệt
được với tâm lý kẻ sĩ, nhiều người vẫn còn hãnh diện
tự xưng là kẻ sĩ. Nhưng kẻ sĩ là gì nếu không phải là
những người mà mộng đời chỉ là được làm tay sai vô
điều kiện cho kẻ cầm quyền? Kẻ sĩ hoàn toàn không cảm
thấy một bổn phận nào với quần chúng, họ chỉ có bổn
phận với các vua chúa. Họ là một giai cấp riêng, ở ngoài và
tự nghĩ là ở trên quần chúng. Di sản kẻ sĩ khiến đa số
trí thức khoa bảng Việt Nam ngày nay vừa bạc nhược vừa cao
ngạo, hành xử như thể họ không cần phải chia sẻ những khó
khăn của quần chúng mà vẫn có quyền mong muốn những địa vi
cao trọng. Một di sản khác là sự thiếu hụt kinh khủng về
kiến thức chính trị. Kẻ sĩ ngày xưa nhờ đậu những khoa thi
kinh điển, thơ phú không liên hệ gì tới việc điều hành
đất nước mà được bổ làm quan cai trị cho nên trí thức
ngày nay cũng nghĩ rằng một khi đã có bằng cấp đại học,
bất luận bằng cấp nào, là mình đã đương nhiên có thẩm
quyền để nói và làm chính trị. Kết quả là kiến thức
chính trị của trí thức Việt Nam không hơn gì quần chúng.
Chỉ cần một cố gắng học hỏi khiêm tốn thôi trí thức
Việt Nam cũng hiểu ngay rằng chính trị là một môn học rất
phức tạp – Ciceron, 21 thế kỷ trước, từng nói rằng chính
trị bao gồm mọi bộ môn - và hoạt động chính trị đòi hỏi
những hiểu biết rất đặc biệt. Điều đầu tiên họ sẽ
khám phá ra là đấu tranh chính trị không bao giờ là đấu tranh
cá nhân cả mà luôn luôn là đấu tranh có tổ chức, và họ
sẽ hiểu là hoạt động cá nhân chỉ đóng góp cho cuộc vận
động dân chủ nếu nhắm hỗ trợ một tổ chức dân chủ. Sự
thiếu hiểu biết của trí thức chính là nguyên nhân đưa tới
bế tắc kéo dài: trí thức phải đảm nhiệm vai trò lãnh đạo
cuộc đấu tranh đổi đời nhưng không thể đảm nhiệm, quần
chúng khinh trí thức nên không có lãnh đạo và không thể
đứng dậy. Cuối cùng quyền lực vẫn ở trong tay những kẻ
tồi dở nhưng có bạo lực. Bao giờ trí thức Việt Nam mới
giác ngộ?

Nhu cầu lịch sử của chúng ta là phải hòa giải quần chúng
với trí thức. Cần nhấn mạnh là hòa giải quần chúng với
trí thức chứ không phải hòa giải giữa trí thức và quần
chúng vì lỗi hoàn toàn thuộc về trí thức. Bổn phận của
thế hệ trí thức đang qua đi, thế hệ đã thất bại và làm
phí uổng quá nhiều thời giờ và cơ hội, là cảnh giác thế
hệ năng động hôm nay về những sai lầm đừng nên lặp lại,
về những gì cần làm, và nhất là chứng tỏ một tình cảm
chân thực đối với đất nước để thôi thúc họ. Thư ngỏ
là một bước trong chiều hướng tốt. Nó mới chỉ là một
bước ngắn và do dự, chưa đủ mạnh dạn và cũng chưa chứng
tỏ sự thức tỉnh cần có.

Nguyễn Gia Kiểng
(10/2011)

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10172), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét