sửa đổi hiến pháp ở Việt Nam. Chiều hướng sửa đổi là
tăng cường dân chủ để phù hợp với phát triển nhận thức
về hiến pháp. Nội dung sửa đổi cơ bản vẫn xoay quanh vị
trí vai trò của nhà nước trong hiến pháp.
Bài viết này soát xét lại căn nguyên của sự hình thành nhà
nước và hiến pháp, mối tương quan giữa nhà nước và hiến
pháp. Có thể nào nhà nước không có hiến pháp có được
không? Hoặc có hiến pháp mà không có "nhà nước" có
được không? Đặc biệt từ đó minh định lại ý nghĩa của
thuật ngữ "nhà nước" trong hiến pháp.
Với nội dung đó người viết muốn bạn đọc cùng bình tâm
xem lại những vấn đề lâu nay vẫn được coi là hiển nhiên
chưa đụng chạm đến. Phân tích làm rõ ra đây với mong muốn
giúp cho bạn đọc có được cái nhìn tường minh hơn về hiến
pháp. Chúng ta hiểu rằng: Cần phải hiểu về dân chủ mới
biết cách xây dựng xã hội dân chủ. Cần phải hiểu về
hiến pháp mới biết cách xây dựng hiến pháp dân chủ. Dân
chúng nào thì chính phủ ấy, khi chúng ta than phiền về chính
phủ, chính là lúc chúng ta cần nhìn lại chính mình.
<h2>Quan điểm của Lê Nin về sự hình thành nhà nước</h2>
Bàn về nhà nước, hay bàn về vị trí của nhà nước trong
hiến pháp Việt Nam, không thể nào không nhắc lại một số
luận điểm triết học của Lê Nin về nhà nước. Trong bài
giảng đọc "<em>Bàn về nhà nước</em>" tại trường đại
học Xvéc-đlốp (ngày 11 tháng bảy 1919). Đăng lần đầu tiên
trên báo "Sự thật", số 15, ngày 18 tháng Giêng 1929. Lê Nin nói:
<em>- Học thuyết về nhà nước là dùng để bào chữa cho
những đặc quyền xã hội, bào chữa cho sự bóc lột, bào
chữa cho sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản; vì vậy, sẽ sai
lầm lớn nếu hy vọng rằng người ta sẽ tỏ ra vô tư trong
vấn đề này.</em>
<em>- Lịch sử chứng minh rằng nhà nước, một bộ máy cưỡng
bức đặc biệt, chỉ xuất hiện ở nơi nào và khi nào mà xã
hội đã chia thành giai cấp, tức là chia thành các nhóm người
mà nhóm người này luôn luôn có thể chiếm đoạt lao động
của những nhóm khác, người này bóc lột người khác.</em>
<em>- Trước khi xã hội chia thành giai cấp, thì cũng chưa có
nhà nước. Nhưng cùng với sự xuất hiện và sự xác lập của
tình trạng xã hội phân chia thành giai cấp, cùng với sự phát
sinh của xã hội có giai cấp thì nhà nước cũng xuất hiện và
được củng cố.</em>
<em>- Bao giờ cũng vậy, trong mỗi xã hội có nhà nước đều
có một nhóm người cai trị, chỉ huy, thống trị, và để giữ
chính quyền, họ sử dụng một bộ máy cưỡng bức, một bộ
máy bạo lực,</em>
<em>- Nhà nước là một bộ máy dùng để duy trì sự thống
trị của một giai cấp này đối với giai cấp khác.</em>
<em>- Nhà nước là một bộ máy để cho giai cấp này áp bức
giai cấp khác, một bộ máy dùng để duy trì dưới sự thống
trị của một giai cấp đối với tất cả các giai cấp bị
lệ thuộc khác.</em>
Luận điểm của Lê Nin rất rõ ràng, những nội dung trên đã
trở thành nền tảng kim chỉ nam cho việc xây dựng nhà nước
ở Việt Nam. Cách đặt vấn đề và diễn giải của Lê Nin về
nhà nước cho chúng ta thấy:
<strong>Thứ nhất:</strong> Khởi nguyên cho sự hình thành nhà
nước là vấn đề tài sản. Tài sản rồi sự bất bình đẳng
về tài sản là căn nguyên hình thành lên các giai cấp. Nguyên
nhân dẫn đến sự bất bình đẳng về tài sản là lòng tham
con người, tài sản có xu hướng tích tụ do con người có lòng
tham.
<strong>Thứ hai:</strong> Bản chất, vai trò của nhà nước, đó
là công cụ bạo lực của giai cấp thống trị đối với phần
còn lại của xã hội. Nhà nước có vai trò là "công cụ",
có mục đích là duy trì sự thống trị của giai cấp thống
trị đối với phần còn lại của xã hội.
<strong>Thứ ba:</strong> Đã là "công cụ" thì sẽ được sử
dụng trong một khoảng thời gian hữu hạn, có điểm bắt đầu
và sẽ đến lúc kết thúc. Lê Nin cho rằng có thời kỳ chưa
có nhà nước, nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội hình thành
nên các giai cấp. Lê Nin cũng cho rằng nhà nước rồi sẽ tiêu
vong khi mà của cải dư thừa con người không còn tranh chấp
với nhau về tài sản nữa, đó là thời kỳ của chủ nghĩa
cộng sản.
Từ những luận điểm trên tất yếu đi đến kết luận mối
quan hệ giữa nhà nước và dân chủ, nhà nước và hiến pháp,
như sau:
- Nếu nhà nước là công cụ bạo lực của giai cấp này thống
trị các giai cấp khác thì nhà nước đó không thể nào mang
trong mình các giá trị dân chủ. Một nhà nước không thể vừa
mang trong mình giá trị dân chủ, vừa mang bản chất là một
công cụ bạo lực.
- Nếu trong xã hội tồn tại giai cấp này thống trị giai cấp
khác thì không thể nào có bình đẳng, dân chủ. Cốt lõi của
dân chủ là bình đẳng, không có bình đẳng tất không thể có
dân chủ.
- Nếu hiến pháp mang ý nghĩa là khế ước của tất cả công
dân về việc thiết lập bộ máy chính quyền để bảo vệ các
quyền tự do dân chủ cho các công dân thì không có chỗ cho
hiến pháp trong nhà nước của Lê Nin. Người viết chưa từng
nghe thấy quan điểm của Lê Nin về hiến pháp. Hiến pháp -
khế ước của toàn thể nhân dân về việc thiết lập chính
quyền - không thể nào tồn tại trong một xã hội mà giai cấp
này áp bức các giai cấp khác bằng công cụ nhà nước.
<h2>Một cách đặt vấn đề khác về sự hình thành nhà nước
</h2>
Để xây dựng hiến pháp dân chủ, chính quyền dân chủ, chúng
ta cần một cách đặt vấn đề khác, một ánh nhìn khác về
căn nguyên đưa đến sự hình thành, thiết lập bộ máy chính
quyền.
Con người do nhu cầu tìm kiếm thức ăn, chống chọi lại thú
dữ, thiên tai đã từ bỏ cuộc sống tự nhiên nguyên thủy,
đơn độc, hoang dại, tụ tập lại cùng sống với nhau hình
thành lên xã hội loài người. Từ đó đã làm xuất hiện nhu
cầu tổ chức, xắp xếp, duy trì trật tự giữa các thành
viên. Chính quyền khi đó xuất hiện với nhiệm vụ đơn giản
là điều tiết các mối quan hệ giữa các thành viên trong xã
hội.
Khi con người tự nhiên chuyển hóa thành con người xã hội đã
đưa đến những chuyển hóa hoàn toàn năng lực nhận thức và
năng lực hoạt động của con người. Con người tự nhiên
hoạt động dựa trên bản năng, con người xã hội hoạt động
dựa trên các giá trị. Theo thời gian, con người đúc kết lên
các thang giá trị mà toàn bộ đời sống hoạt động của con
người dựa trên và hướng đến các giá trị đó. Các chuẩn
mực giá trị như: bình đẳng, công bằng, tự do, dân chủ,
khoan dung, hạnh phúc… đã trở thành hệ giá trị phổ quát
của nhân loại, sau này được cụ thể hóa bằng các quy định
về nhân quyền.
Quá trình nhận thức và hoạt động của con người dựa trên
và hướng tới các chuẩn mực giá trị được loài người
thừa nhận, khi đó chính quyền chuyển từ vai trò điều tiết
các hoạt động của con người sang vai trò là công cụ, phương
tiện bảo vệ cho các chuẩn mực giá trị - các quyền con
người. Sự chuyển hóa vai trò này diễn ra âm thầm và trong
thời gian dài.
Tới thời điểm này, không còn nghi ngờ gì nữa, vai trò của
chính quyền đã được xác lập không thể chối cãi. Chính
quyền không là công cụ bạo lực của giai cấp này áp bức
giai cấp khác. Chính quyền cần phải là phương tiện để bảo
vệ nhân quyền. Mục đích tối hậu của chính quyền là bảo
vệ nhân quyền. Một quốc gia mới được thành lập như
Palestin hay Nam Sudan thì chính quyền được hình thành phải có
mục đích là để bảo vệ nhân quyền, có vậy mới có được
tính chính danh được nhân dân trong nước thừa nhận, được
quốc tế thừa nhận.
Với cách đặt vấn đề như vậy ta thấy:
- Căn nguyên cho sự hình thành chính quyền đó là nhu cầu về
một thực thể trung gian để đảm trách giải quyết những
vấn đề mà mỗi cá nhân không thể đảm nhiệm được. Chính
quyền hình thành không phải xuất phát từ nhu cầu của một
nhóm nhỏ có tài sản để áp bức bóc lột phần còn lại. Đó
là nhu cầu của toàn bộ các thành viên trong xã hội.
- Sự tích tụ tài sản không phải là nguyên nhân đưa đến
sự thành lập chính quyền, đó là cái nhìn sai lệch. Ngược
lại sự tích tụ tài sản là hệ quả của việc thành lập
chính quyền, khi mà một số nhỏ nắm trong tay quyền lực đã
sử dụng nó để làm giàu.
- Tài sản có xu hướng tích tụ do con người có lòng tham,
điều này là phản ánh đúng thực tế nhưng chưa hoàn toàn
đầy đủ. Nguyên nhân cơ bản khác đưa đến sư tích tụ tài
sản hay sự bất bình đẳng về tài sản là do có sự bất
bình đẳng về năng lực phẩm chất con người. Người khỏe
hơn, nhanh hơn thì săn được nhiều thú hơn là lẽ đương
nhiên.
- Vai trò chức năng của chính quyền không phải là bất biến.
Vai trò chức năng của chính quyền dần thay đổi và chuyển
biến hoàn toàn bản chất theo quá trình phát triển nhận thức
của con người về các thang giá trị. Ban đầu chính quyền có
vai trò duy trì trật tự, điều tiết quan hệ giữa người với
người (việc điều tiết ban đầu có thể chưa đảm bảo các
giá trị bình đẳng, công bằng…). Khi con người văn minh và
đã xây dựng lên các thang giá trị được thừa nhận thì
chính quyền khi đó là công cụ phương tiện của con người
để bảo vệ chính các quyền con người.
- Không thể nào tồn tại xã hội mà không có chính quyền,
điều này xuất phát từ chính bản chất khiếm khuyết của
loài người. Con người có trí thông minh nhưng không phải là
không thể mắc sai lầm (con người không phải thánh thần), con
người lại có bản năng dục vọng thúc giục lôi kéo, không
thể nào từ bỏ được. Bởi lẽ đó một người có thể dốt
nát, nhầm lẫn (vô ý) hoặc bị dục vọng lôi kéo (cố ý) xâm
phạm tới quyền của người khác. Do vậy khi sự vi phạm vẫn
có thể xảy ra thì vẫn luôn cần một thực thể trung gian để
điều tiết, bảo vệ các quyền con người. Không thể nào
trông đợi vào sự tự giác tận cùng của con người.
<h2>Hiến pháp xuất hiện từ khi nào?</h2>
Như trên đã phân tích, không có hiến pháp trong nhà nước của
Lê Nin, khi nhà nước là công cụ do một giai cấp thiết lập
để áp bức các giai cấp khác.
Hiến pháp chỉ xuất hiện khi đông đảo con người đã thừa
nhận tôn trọng một số chuẩn mực giá trị nhất định (các
chuẩn mực giá trị cũng dần hoàn thiện theo thời gian). Khi con
người cùng thừa nhận phải tôn trọng các chuẩn mực đó thì
mới nảy sinh nhu cầu tìm kiếm cách thức thực hiện. Hiến
pháp là sự ghi nhận các chuẩn mực giá trị và cách thức
để bảo vệ các chuẩn mực giá trị đó. Chính quyền được
thiết lập theo nội dung thứ hai.
Theo những luận giải về sự hình thành hiến pháp ở trên thì
hiến pháp có trước chính quyền. Nhưng thực tế có nhiều
bằng chứng cho thấy chính quyền có trước hiến pháp. Vậy
phải chăng là có mâu thuẫn?
Khi nhiều người tập trung lại sống cùng với nhau thì chính
quyền xuất hiện, xét theo diễn biến phát triển của lịch
sử thì rõ ràng chính quyền có trước. Vào thời kỳ văn minh
Hy lạp khoảng năm 300, 400 trước công nguyên mới xuất hiện
bản hiến pháp. Ngay ở Việt Nam vào thời điểm năm 1945, 1946
thì chính phủ được thành lập rồi, sau mới có Hiến pháp.
Như vậy thực tế có nhiều bằng chứng cho thấy chính quyền
có trước hiến pháp.
Nếu coi: Hiến pháp là khế ước của tất cả mọi người
sống trên một lãnh thổ quốc gia cùng cam kết thừa nhận tôn
trọng các chuẩn mực giá trị, cùng thống nhất lập nên một
thực thể trung gian là chính quyền để bảo các chuẩn mực
giá trị đó, khế ước đó được gọi là hiến pháp.
Như vậy chính quyền là kết quả của việc thực thi hiến
pháp, chính quyền là kết quả của việc các công dân thực
hiện các cam kết của chính mình. Hiến pháp có trước chính
quyền.
Thời điểm những năm 1945, 1946 ở Việt Nam chính quyền ra
đời trước khi có hiến pháp nhưng thực ra khi đó trong xã
hội đã tồn tại các chuẩn mực giá trị phổ quát của nhân
loại - Hiến pháp bất thành văn. Bản thân sự thành lập chính
phủ và việc soạn thảo ban hành hiến pháp năm 1946 thực hiện
theo các mô thức quốc tế, chính là sự thừa nhận các giá
trị phổ quát của nhân loại.
Bản hiến pháp năm 1946 nhằm hợp thức hóa tính chính danh của
chính quyền trên phương diện quốc tế. Theo đó chính phủ
muốn nói với quốc tế rằng, tuy chính phủ tôi ra đời
trước nhưng đã được quốc dân chấp thuận công nhận bằng
bản Hiến pháp này đây.
Chính quyền ra đời nhằm mục đích giúp cho đời sống con
người được tốt hơn.
Chính quyền chỉ là một trong rất nhiều tổ chức mà con
người thành lập lên với mục đích giúp cho đời sống con
người được tốt hơn. Ngoài việc thành lập chính quyền, con
người còn thành lập lên các tổ chức xã hội.
<strong>Tóm lại:</strong> Bộ máy chính quyền với ý nghĩa là
thực thể trung gian được hình thành để đảm nhiệm những
việc mà từng cá nhân không thể đảm đương được, đó
xuất phát từ nhu cầu của toàn thể dân chúng và được xây
dựng dựa trên các chuẩn mực giá trị. Ban đầu chức năng
của nó là điều tiết mối quan hệ giữa người với người,
sau này chức năng của nó là công cụ phương tiện bảo vệ
nhân quyền. Có như thế mới đặt ra vấn đề có hiến pháp
và xây dựng hiến pháp sao cho dân chủ để có được đời
sống xã hội dân chủ. Còn nếu chiếu theo luận điểm của Lê
Nin về nhà nước thì không cần có hiến pháp, hiến pháp không
có ý nghĩa gì cả.
<h2>Minh định lại thuật ngữ "nhà nước" trong hiến
pháp</h2>
Trên thực tế, đã xảy ra những việc đánh tráo khái niệm,
đánh tráo ngôn từ, hay làm ảo thuật với từ ngữ. Có một
số từ mới xuất hiện hoặc có một số từ hoàn toàn biến
mất nhằm phục vụ cho những mục đích chính trị. Một số
từ được gán ghép cho ý nghĩa hoàn toàn mới. Hoặc một số
từ gần giống nhau về nghĩa được sử dụng lập lờ để
cố tình làm cho người khác nhầm lẫn, hiểu sai vấn đề,
lẩn tránh trách nhiệm. Đó chẳng là gì khác là những thủ
đoạn chính trị, giúp cho người làm chính trị đạt được
mục đích của mình.
Không biết nguyên thủy, thuật ngữ "nhà nước" mang ý nghĩa
gì? Nhưng tới nay, thuật ngữ "nhà nước" có thể coi là
ngôn từ chính trị quan trọng bậc nhất ở Việt Nam. Việc sử
dụng thuật ngữ "nhà nước" quá phổ biến đã làm cho mọi
người quên đi gốc gác của nó. Việc khám phá và sử dụng
thuật ngữ "nhà nước" đã tạo lên sự phù hợp, logic,
đúng đắn, chính đáng cho việc xác lập một thể thức nắm
giữ, sử dụng quyền lực trên đất nước Việt nam. Chính nó
đã tạo lên thế và lực cho thể chế chính trị được áp
đặt lên quốc gia Việt Nam. Thuật ngữ nhà nước luôn đi kèm
với nó là quyền lực.
Hãy cùng xem xét một số thông tin về vấn đề này.
- Hiến pháp năm 1992 có 147 điều trong đó có tới 160 từ
"nhà nước".
- Hiến pháp năm 1980 có 147 điều thì có tới 209 từ "nhà
nước"
- Hiến pháp năm 1959 có 112 điều thì có tới 70 từ "nhà
nước"
Trong khi đó, Hiến pháp năm 1946 một số người cho là mang giá
trị dân chủ có 70 điều chỉ có duy nhất 1 từ "nhà
nước". Được quy định tại Điều thứ 15 với nội dung:
"Trường tư được mở tự do và phải dạy theo chương trình
Nhà nước."
Mở rộng thêm ta thấy:
- Hai bản Hiến pháp của Việt Nam Cộng Hòa không có từ "nhà
nước" nào.
- Tuyên ngôn độc lập do chủ tịch Hồ Chí Minh viết có 1009
từ nhưng không có từ "nhà nước".
- Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến do chủ tịch Hồ Chí Minh
viết có 210 từ nhưng không có từ "nhà nước".
Xem ra có thời kỳ thuật ngữ "nhà nước" đã không được
xem trọng sử dụng.
Tới đây chúng ta phân biệt: nhà nước với nước, đất
nước, quốc gia, tổ quốc.
Nước, đất nước, quốc gia, tổ quốc chỉ thực thể tự nó
hiện hữu, nội hàm trong đó bao gồm lãnh thổ địa lý quốc
gia và xã hội loài người xây dựng trên đó. Các từ này mang
ý nghĩa giống nhau, chỉ khác nhau về bối cảnh sử dụng, có
thể được dùng thay thế cho nhau. Từ tổ quốc, đất nước
mang sắc thái tình cảm, không sử dụng trong khoa học pháp lý,
chỉ dùng trong thơ ca, văn chương khi người ta muốn khơi dậy
tình cảm của con người.
Thuật ngữ "nhà nước" chỉ thực thể nhân tạo, là một
trong rất nhiều tổ chức được con người lập ra nhằm phục
vụ cho đời sống của con người. Nhà nước là một bộ máy,
công cụ của con người, bị xóa bỏ khi cần.
Theo Lê Nin thì nhà nước là công cụ bạo lực của giai cấp
thống trị, ngoài ra "nhà nước" là một bộ máy trong đó
có Quốc Hội, Chính phủ, Tòa án, Quân đội, Công an, mặt
trận tổ quốc…. Các nhà lập pháp xã hội chủ nghĩa đã gom
vào trong nhà nước rất nhiều tổ chức khác nhau mặc dù các
tổ chức đó được thành lập độc lập, có tên gọi riêng,
chức năng riêng. Nhưng gom vào để làm gì, nếu bình thường
tự các cơ quan, tổ chức kia đã là những chủ thể độc
lập, có chức năng quyền hạn riêng biệt?
Thực chất từ "nhà nước" rỗng tuếch không có gì cả,
cái mà chúng ta gọi lâu nay như bộ máy nhà nước, cơ quan nhà
nước, cán bộ nhà nước thực chất là chỉ một cơ quan của
một tổ chức cụ thể có tên gọi riêng. Ví dụ cơ quan quốc
hội, cơ quan chính phủ, cơ quan tòa án, cơ quan công an…
Lâu nay chúng ta gọi chung là cơ quan nhà nước, cán bộ nhà
nước là một thói quen không tốt, hình thành từ sự không
phân định được chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách
nhiệm của từng cơ quan riêng biệt. Điều này có gốc rễ từ
việc thiếu vắng kiến thức về tổ chức bộ máy chính quyền
của cả cán bộ lẫn người dân.
Việc gọi tên chung chung là cơ quan nhà nước giống như ta vẫn
gọi một người ngoại quốc là ông Tây. Nếu ta có kiến thức
để phân biệt thì sẽ gọi là ông người Pháp, người Mỹ,
người Đức, nhưng vì không thể phân biệt nên ta gọi chung là
ông Tây.
Chúng ta có Luật tổ chức quốc hội, Chủ tịch quốc hội;
Luật tổ chức chính phủ, Thủ tướng chính phủ; Luật tổ
chức tòa án, Chánh án tòa án nhân dân… Nhưng chúng ta không
có Luật tổ chức nhà nước, không có chủ tịch nhà nước (ta
có chủ tịch nước - có thể gọi tên khác là tổng thống
hoặc quốc trưởng - chứ không có chủ tịch nhà nước).
Chúng ta hoàn toàn có thể phân định rạch ròi từng cơ quan
riêng biệt để gọi đúng tên của nó và cần bỏ đi cách
gọi chung chung là cơ quan nhà nước, cán bộ nhà nước. Chúng
ta cần gọi đúng tên để xác định đúng thẩm quyền, trách
nhiệm.
Một số trường hợp có thể bỏ đi từ "nhà nước", Ví
dụ:
- Kho bạc Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ tài chính dưới
sự chỉ đạo của chính phủ vậy có thể gọi là kho bạc
chính phủ, kho bạc quốc gia hay kho bạc quốc gia việt nam
giống như Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam.
- Ngân hàng nhà nước là cơ quan trực thuộc Chính phủ, vậy
có thể gọi là ngân hàng chính phủ hoặc ngân hàng quốc gia,
hay ngân hàng quốc gia việt nam
- Thanh tra nhà nước, tên chính xác là Thanh tra chính phủ, Tổng
thanh tra chính phủ do Thủ tướng bổ nhiệm
Tự các cơ quan riêng biệt đã có khả năng đứng độc lập
và thực hiện được công việc của nó, vậy gom vào làm gì?
Xin thưa rằng, gom vào để tập trung quyền lực, Nhà nước
tập trung vào trong nó quyền lực. Quốc hội có quyền lập
pháp, quốc hội là cơ quan Nhà nước, do vậy Nhà nước nắm
quyền lập pháp. Chính phủ có quyền hành pháp, chính phủ là
cơ quan Nhà nước, do vậy Nhà nước nắm quyền hành pháp. Tòa
án có quyền tư pháp, tòa án là cơ quan Nhà nước, do vậy Nhà
nước nắm quyền tư pháp. Nhà nước theo đó tập trung vào
trong nó tất cả các quyền mà các cơ quan nằm trong nó có
sẵn.
Nhà nước gom vào trong mình mọi thứ quyền lực, và đã nói
đến "bên trong" thì có "bên ngoài" và "bên trên". Bên
ngoài là xã hội, bên trên là Đảng cộng sản. Biết bao nhiêu
điều của Hiến pháp quy định quyền hạn của Quốc Hội,
Chính phủ, Tòa án…, chỉ nhằm một mục đích phục vụ cho
luận điểm: Đảng cộng sản là lực lượng lãnh đạo nhà
nước và xã hội. Tới đây ta thấy một sự logic hợp lý của
việc sử dụng rộng rãi thuật ngữ nhà nước. Một sự thật
trần trụi về nhà nước là: Nằm trên nhà nước là Đảng
cộng sản, "nhà nước" đã thỏa mãn khi thể hiện được
vai trò công dụng của mình.
Như vậy là từ "nhà nước" thực ra rỗng tuếch, được
sử dụng để chỉ một bộ máy bao hàm trong đó các cơ quan
riêng biệt, đặt tất cả dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Nếu bỏ đi từ "nhà nước" mà vẫn muốn giữ nguyên lý
đảng lãnh đạo toàn bộ thì sẽ phải quy định: Đảng lãnh
đạo quốc hội, đảng lãnh đạo chính phủ, đảng lãnh đạo
tòa án, đảng lãnh đạo công an, đảng lãnh đạo quân đội,
đảng lãnh đạo mặt trận tổ quốc, đảng lãnh đạo hội
phụ nữ … Quy định như vậy thì không liệt kê hết được
và có vẻ thô bạo đi ngược lại với các mô thức chính
quyền mang các giá trị dân chủ phổ quát đã được quốc tế
thừa nhận.
<h2>Tóm lại</h2>
Bài viết này là bàn về việc sửa đổi Hiến pháp sao cho dân
chủ để từ đó hòng mong muốn có được xã hội dân chủ.
Nhưng chẳng thể nào tạo ra được một hiến pháp dân chủ khi
lảng tránh cội nguồn gốc rễ của hiến pháp. Muốn xây dựng
hiến pháp dân chủ chúng ta phải xem lại khởi nguyên của sự
hình thành nhà nước và căn nguyên đưa đến sự ra đời hiến
pháp.
Chúng ta hiểu rằng: Một hiến pháp mang các giá trị dân chủ
chưa chắc đã đem lại một đời sống dân chủ trên thực
tế. Tuy nhiên, một đời sống thực tế muốn dân chủ thì
tối thiểu bản hiến pháp của nó phải mang giá trị dân chủ.
Không thể nào có một đời sống dân chủ mà hiến pháp của
nó lại mang các giá trị phi dân chủ.
Trong việc xây dựng hiến pháp, chúng ta cần xác định đâu là
vấn đề quan trọng. Vấn đề nhà nước, cách thức tổ chức
thiết lập bộ máy nhà nước, hay là vấn đề ghi nhận các
quyền con người, quyền công dân và cách thức bảo vệ các
quyền đó là quan trọng? Bởi lẽ khi ta quan trọng hóa vấn
đề không thực sự quan trọng thì ta cũng sẽ nhầm lẫn không
coi trọng vấn đề vốn thực sự là quan trọng.
Qua bài viết này ta thấy rằng không một cơ quan nào có từ
nhà nước mà ta không thể phân định rạch ròi để gọi tên
chính xác của cơ quan đó và bỏ đi từ nhà nước. Rất nhiều
cơ quan tổ chức ở Việt Nam có thể bỏ đi từ đệm thừa
thãi nhà nước. Gọi một cách bao trùm chung chung là một thói
quen xấu và chỉ đem đến hệ quả xấu. Đó là sự thiếu
kiến thức phân định để có thể gọi tên chính xác cơ quan
đó để xác định trách nhiệm. Trong các cơ quan chính quyền,
có cơ quan mang chức năng giám sát hoạt động của cơ quan
khác, nếu gọi chung như thế thì cơ quan thực hiện và cơ quan
bị giám sát và cả cơ quan xử lý sai phạm cùng gom vào làm
một dễ dẫn đến sự tiêu cực, làm xóa nhòa đi gianh giới
chức năng, nhiệm vụ, bổn phận.
<em><strong>Luật sư Ngô Ngọc Trai</strong></em>
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10177), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét