Đinh Thị Duyệt - Chính sách ngoại giao với Phương Tây thời Minh Mạng

<em>SAU HAI CUỘC CÁCH MẠNG TƯ SẢN VÀ CÔNG NGHIỆP, CHỦ NGHĨA
THỰC DÂN PHƯƠNG TÂY ĐÃ BÀNH TRƯỚNG RA TOÀN THẾ GIỚI. RẤT
HIẾM THẤY MỘT QUỐC GIA CHÂU Á NÀO CÒN GIỮ ĐƯỢC NỀN ĐỘC
LẬP THỰC SỰ TRƯỚC LÀN SÓNG THỰC DÂN NÀY. XEM XÉT CHÍNH SÁCH
NGOẠI GIAO VÀ PHƯƠNG THỨC ỨNG XỬ ĐỐI VỚI CÔNG GIÁO THỜI
MINH MẠNG TRONG MỘT BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỤ THỂ, TÁC GIẢ
VẠCH RA SỰ PHIẾN DIỆN CỦA QUAN ĐIỂM CHO RẰNG CHÍNH SÁCH
'BẾ QUAN TOẢ CẢNG' CỦA NHÀ NGUYỄN LÀ NGUYÊN NHÂN MẤT
NƯỚC THẾ KỶ XIX.</em>

Lâu nay trong nhận thức lịch sử vẫn tồn tại quan điểm phê
phán chính sách "bế quan toả cảng", đóng cửa đất nước
của triều Nguyễn đã dẫn tới bi kịch là Việt Nam bị mất
độc lập. Tuy nhiên tới những năm gần đây, bằng các nghiên
cứu sâu hơn trong chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn đã cho
thấy thực tế không hoàn toàn như vậy. Đặc biệt Đại Nam
thời vua Minh Mạng, đất nước đã không hoàn toàn đóng cửa
mà chỉ có thể coi là sự cảnh giác cần thiết trước những
thay đổi của thời đại và chính Minh Mạng cũng rất nỗ lực
để đưa đất nước của ông hoà chung nhịp điệu ấy, chỉ
tiếc rằng ông không đủ thời gian cho kế hoạch dài hơi mà
ông đã có ý định thực hiện từ rất sớm. Qua nguồn tư
liệu từ chính sử nhà Nguyễn cho thấy suốt thời gian trị
vì, Minh Mạng đã nghiên cứu và tìm hiểu kỹ phương Tây vừa
để thực hiện cho chiến thuật phòng thủ chống lại phương
Tây, vừa là một lựa chọn và rốt cuộc chấp nhận một
đường lối mới với những cách nhìn và giải pháp mới. Tuy
nhiên phái bộ đầu tiên tới châu Âu do ông cử đi đã không
thể thực hiện được ý đồ của triều đình buộc phải quay
về mà không được tiếp ở cấp cao tại Pari cũng như tại
Luân Đôn(1. Khi đoàn sứ giả trở về nước thì vua Minh Mạng
đã mất do ngã ngựa, vì vậy chúng ta không thể tìm hiểu
được hồi kết của chính sách ngoại giao với người Tây
dương dưới thời vua Minh Mạng, song không thể phủ nhận rằng
nhận thức về phương Tây của ông đã đưa tới trạng thái
ấm lạnh khác nhau ở từng thời kỳ nhưng cuối cùng là sự
thay đổi lớn lao về mặt tư tưởng là chấp nhận thực tế
và ông sẵn sàng mở rộng cánh cửa quốc gia để đón luồng
gió mới, tuy nhiên thời gian đã không ủng hộ ông.

<div class="boxright220"><img src="http://danluan.org/files/u1/sub02/vua.jpg"
width="231" height="299" alt="vua.jpg" /></div>
Tiếp nhận vương triều kho bước vào tuổi 30 – ở độ tuổi
mà nhận thức chính trị sắc bén nhất, đồng thời ở độ
tuổi này đủ thời gian cho ông thay đổi quan điểm của mình
trước những vấn đề lớn. Đất nước mà ông tiếp quản
vừa trải qua một thế kỷ dài loạn lạc binh đao, gần 20 năm
cầm quyền của vua Gia Long chưa thể quy tụ lòng người về
một mối. Triều đình vẫn phải lựa chọn giải pháp phân
quyền có điều kiện: trực trị miền Trung, gián trị miền
Bắc và miền Nam qua việc lập Bắc thành tổng trấn và Gia
Định thành tổng trấn. Tiếp nối vua cha Gia Long, ông vừa lao
củng cố nội trị, phát triển kinh tế, giáo hoá thuần phong,
vừa theo dõi và quan sát các nước trong khu vực, đề phòng
mối hoạ từ bên ngoài, mặt khác Minh Mạng còn gánh thêm một
nhiệm vụ, một nỗ lực xoá bỏ quuền lực địa phương khi
nó trở thành một trở lực cho sự thống nhất lãnh thổ khi
những ý đồ mang tính chất cát cứ, ly tâm muốn tách khỏi
triều đình qua động thái của Lê Văn Duyệt, Nguyễn Thành
Nhân mà ông được tiếp nhận (dù cho những thông tin tới tai
ông có chính xác hay không) cũng khiến ông thận trọng và cảnh
giác hơn với các cựu thần có công thiết lập vương triều.
Để rồi từ đó có thể đi tới liên hệ hành động bài trừ
công giáo của ông cũng chính là cách hạ bệ uy tín cá nhân
của những người mà ông lo rằng sẽ lợi dụng lực lượng
này để chiếm đoạt quyền lực. Nhãn quan chính trị của Minh
Mạng bị chi phối mạnh mẽ bởi những sự kiện liên tiếp
xảy ra với đất nước ông và các nước láng giềng khi thời
kỳ Minh Mạng cầm quyền, các thế lực thực dân bắt đầu can
thiệp vào Đông Nam Á theo những cách thức bạo lực hơn thì
hiển nhiên bằng tất cả khả năng có thể, ông cố gắng nâng
cao khả năng phòng vệ cho đất nước của mình là lựa chọn
số một.

<h2>Thái độ của Minh Mạng với Kitô giáo và nguyên nhân</h2>

Chắc hẳn Minh Mạng không thể quên người giúp đỡ, đồng
thời là cố vấn thân cận của cha ông cũng chính là một giáo
sĩ truyền đạo. Và chính vị giáo sĩ này đã mang tới bản
hiệp ước giữa Nguyễn Ánh với triều đình Pháp mà nếu nhìn
lại nội dung của bản hiệp ước này, người ta sẽ không
thể vô tư khi xem hoạt động giáo sĩ chỉ là sự truyền đạo
thông thường(2). Từ Bá-đa-lộc, Nguyễn Ánh đã hi vọng nhận
được sự viện trợ về mặt vật chất, nhân lực, và những
viện trợ quân sự từ chính phủ Pháp để đánh lại nghĩa
quân Tây Sơn mà trong con mắt của người Pháp đó là những
kẻ tiếm quyền. Trong khi đó, Pigneau lại hi vọng sẽ nhận
được sự bảo trợ của hoàng đế cho những hoạt động
truyền giáo của ông. Chắc hẳn điều này sớm được đặt ra
trong những bàn luận của quan lại triều đình Huế và nó cũng
tác động tới nhận thức của Minh Mạng khi ông bước vào
tuổi trưởng thành đưa tới sự ác cảm của ông với Kitô
giáo. Ngay cả trước khi Minh Mạng lên ngôi hoàng đế thì lối
ứng xử của ông với các tín đồ Kitô giáo đã dẫn tới sự
lo lắng của cộng đồng giáo dân khi ông lên nắm quyền. Đầu
năm 1820, người ta đã quan sát thấy: với các tín đồ Kitô
giáo và người ngoại quốc, người ta lo ngại rằng chính sách
trục xuất khỏi vương quốc hoặc tiêu diệt họ sẽ được
ban hành vì ông ta (Minh Mạng) là kẻ thù không đội trời chung
của cả hai loại người kể trên(3.

Tuy nhiên, trong quá khứ không phải ông là người đầu tiên thi
hành biện pháp cứng rắn với tôn giáo này và cũng không phải
ngay khi cầm quyền, ông đã thi hành ngay biện pháp đuổi giáo
sĩ và giết hại giáo dân. Sự hà khắc trong chính sách của
triều đình Huế đối với Kitô giáo và giáo sĩ chỉ thực sự
bắt đầu từ năm 1833. Cũng nên nhìn nhận rằng chính sách
cấm đạo của vua Minh Mạng hoàn toàn nhắm vào mục đích duy
trì trật tự xã hội mà nhà vua tin rằng là bị đe bởi những
du hặc của đạo Gia tô(4). Nhất là khi những cuộc khởi nghĩa
hay âm mưu lật đổ ông bị phát hiện đều có sự tham gia
của lực lượng giáo dân và sự ủng hộ của giáo sĩ nước
ngoài như cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi, hay hành động lôi
kéo giáo dân và giáo sĩ trong âm mưu lật đổ ngai vàng của
người cháu gọi ông bằng chú ruột. Vì vậy không nên nhìn
nhận chính sách tôn giáo của triều Nguyễn như một biểu
hiện của "bế quan toả cảng". Sự ác cảm của Minh Mạng
đối với Kitô giáo còn là do những thông tin sai lệch từ
những cận thần mang tới cho ông: Tả phó đô ngự sử viện
Đô sát Phan Bá Đạt tâu rằng: "…Mã Song khai rằng thầy
thuốc nước hắn, nhân người sắp chết, khoét lấy con mắt,
phơi khô, hợp với hai vị a nguỵ và nhữ hương, tán nhỏ chế
thuốc, trị bệnh ho đờm. Lại tục truyền rằng tà giáo Tây
dương thường khoét mắt người, và cho một trai, một gái, ở
chung nhà có tường ngăn cách, lâu ngày động dục tình, nhân
đấy đập cho chết bẹp, lấy nước (xác chết đó) hoà làm
bánh thánh, mỗi khi giảng đạo cho mọi người ăn, khiến cho
mê đạo không bỏ được. Cả đến người theo đạo, khi trai,
gái, lấy vợ chồng, thì đạo trưởng đem người con gái vào
nhà kín, với danh nghĩa là giảng đạo, thực là để dâm
ô"(5). Điều này mang tới mối lo ngại thực sự cho nhà vua
bởi theo nhãn quan Nho giáo của ông thì đó đều là những
điều cấm kỵ, phạm vào thuần phong mỹ tục – nền tảng
đạo đức cơ bản mà ông muốn dựa vào để giáo hoá dân
chúng.

Dưới thời vua Gia Long, do mối quan hệ thân thiết trước đây
với những giáo sĩ người Pháp mà tình cảm của nhà vua với
hệ tư tưởng mới này khá cởi mở. Tuy nhiên vì một bê bối
chính trị nào đó(6), vua Gia Long cũng dần dần lạnh nhạt với
các cố vấn người Pháp dù vẫn tiếp tục duy trì mối quan
hệ nhưng sự bành trướng của người dân châu Âu ở Đông Nam
Á khiến vua Gia Long thêm e ngại, nhất là khi người Anh chiếm
Tân Gia Ba. Nhà vua thấy cần phải giao hảo với người phương
Tây nhưng không thể biệt đãi một quốc gia đặc biệt nào(7).
Hẳn nhiên những thay đổi trong ứng xử của vua cha với những
người bạn cũ sẽ tác động mạnh mẽ tới vị thái tử thứ
4 khi lên nắm quyền, ở đúng thời điểm các quốc gia phương
Tây cố gắng thương lượng với Đại Nam để tìm đạt những
đặc quyền chính trị và thương mại, những mưu toan và mục
đích của họ làm cho triều Nguyễn vô cùng lo ngại.

Bản thân Minh Mạng cũng cảnh giác cao ảnh hưởng cảu đạo
Công giáo bởi ông nhận thấy các nước châu Á (đáng chú ý
là Ấn Độ và nhiều nước Đông Nam Á) từng mở cửa quan hệ
với các liệt cường phương Tây đều bị biến thành thuộc
địa: Trong khi đó các nước Nho học khác triệt để ngăn cấm
Kitô giáo vẫn được an toàn như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật
Bản. Từ những phái viên được cử tới Trung Quốc, chắc
chắn Minh Mạng biết điều gì xảy ra với các tín đồ Kitô
giáo ở những quốc gia này và có thể ông cố gắng theo gương
họ(8).

<h2>Sự thay đổi trong chính sách ngoại giao với phương
Tây</h2>

Không thể phủ nhận sự ác cảm của Minh Mạng với Kitô giáo
là rào cản, trở ngại trong giao thiệp của ông với các nước
phương Tây. Tuy nhiên điều đó không thể ngăn cản ông tìm
hiểu hay nghi ngờ mọi thứ đến từ nước ngoài, bản thân
ông là một người yêu thích địa lý, lịch sử, kỹ thuật và
phát minh khoa học phương Tây. Tự ông đã mày mò tìm hiểu
cách sử dụng "cái ống nhòm" do người Tây dương tặng và
không tiếc lời khen là tuyệt diệu(9). Dù cho chưa có chính
sách thúc đẩy quan hệ giao thương nhưng sự giao thiệp với
các nước phương Tây thông qua quan hệ buôn bán vẫn diễn ra
chính thức với tư cách triều đình. Năm Minh Mạng thứ 2
(1821), có người Phú Lãng Sa dâng quốc thư và sản vật địa
phương cùng đến với Thắng, đậu thuyền ở Đà Nẵng. Đem
thư dịch là xin thông thương. Vua giao đìh thần bàn, rồi hạ
lệnh cho ty Thương bạc đưa thư trả lời nhận cho, và biếu
nhiều phẩm vật(10). Trong chính sử còn ghi nhận viên quan Bộ
Hộ là Lê Công Tường phụng mệnh triều đình đi bán đường
cát cho người Pháp ở cửa biển Đà Nẵng, nhẹ dạ ăn của
đút sau bị cắt chức phải phát đi hiệu lực(11). Đầu thời
Minh Mạng (1820), đã có thương nhân Hoa Kỳ đến giao thương ở
Gia Định: "Thành Gia Định dâng chim hạc đen và lợn vàng
nước Ma Ly Căn"(12).

Tuy nhiên, khi thương nhân người Anh đến không mang theo quốc
thư của triều đình là không đủ tư cách nên bị từ chối
bởi không hợp theo luật lệ của nước Đại Nam, nhân đó nhà
vua sai hữu ty bàn định điều lệ về việc các nước đến
buôn, trong đó không phân biệt thuyền buôn đến từ các nươc
trong khu vực hay đến từ Tây dương đều tuân theo quy định
chung(13). Thái độ của Minh Mạng khá ôn hoà khi tuyên bố tất
cả các quốc gia đều được tự do mậu dịch với điều
kiện phải tôn trọng luật lệ Đại Nam. Tình hình của các
quốc gia láng giềng cũng tác động mạnh mẽ tới thái độ
của nhà vua đối với người Tây dương, đặc biệt là người
Anh. Nhân sứ giả nước Xiêm tới, vua Minh Mạng có buổi bàn
luận về cuộc chiến tranh Anh – Miến Điện với phái đoàn
Xiêm "Nước Xiêm và nước Miến Điện có thù với nhau đời
đời, nay nước Miến Điện bị người Hồng Mao đánh, người
Xiêm có hả lòng không?" Sứ giả trả lời "Có". Vua cười
nói rằng "Nước Xiêm có nước Miến Điện như nhà có phên
giậu, nếu Hồng Mao đánh mà lấy được, thì thế rồi tất
đến nước Xiêm. Người mưu việc nước Xiêm nên lo chứ
chẳng nên vui". Theo nhà vua người Xiêm nên lo vì sau đó
nước Xiêm sẽ lâm vào tình thế nguy hiểm hơn bởi láng giềng
của họ sẽ là một nước phương Tây hùng mạnh(14). Dù mang
trong lòng nỗi lo về sự xâm nhập của phương Tây ta còn thấy
nhà vua có ứng xử khá tế nhị, tánh làm mất lòng hoặc chí
ít là khong cho người Anh hay người Pháp có "duyên cớ" để
can thiệp vào công việc nội bộ. Sự thật là Minh Mạng e
ngại rằng nếu nhường cho người Pháp một vài đặc quyền
thương mại thì người Anh cũng sẽ đòi hỏi, điều đó còn
cho thấy sự khôn khéo, thận trọng tỏng quan hệ bang giao với
các nước Tây dương của nhà vua: "Năm trước nước Anh Cát
Lợi nhiều lần dâng lễ, trẫm đều từ chối không nhận, nay
chẳng lẽ lại cho Phú Lãng Sa thông hiếu"(15).

Sự thận trọng trong quan hệ giao thương với người phương
Tây là có căn cứ kho sự nhòm ngó ngày càng lộ liễu. Binh
thuyền nước Phú Lãng Sa đến đậu ở cửa biển Đà Nẵng
muốn xin thông hiếu song lại đưa hung tin về việc người Anh
muốn xâm chiếm Quảng Đông và nhắn nhủ triều đình Huế
đừng giúp Quảng Đông, bên cạnh đó cảnh giác triều đình
Huế về mối hệ luỵ này, rồi lấy cớ khảo sát khoa học
lên núi Tam Thai xem xét, đòi vẽ địa đồ Bắc Thành. Tiếp
nhận thông tin của người Pháp, nhà vua cả cười mà rằng:
"Nước ấy muốn mượn việc đó làm ơn với ta để mong
đạt kế muốn giao hiếu đó thôi. Nước Hồng Mao xâm lấn
nước Thanh có can hệ gì đến ta!" Tuy nhiên người ta lại
thấy ngược lại, thông tin từ các nước láng giềng là mối
quan tâm đặc biệt của nhà vua. Năm Minh Mạng thứ 7 (1826), khi
sứ giả Xiêm vào kinh yết kiến, nhà vua lại một lần nữa
bàn bạc với sứ giả về chiến tranh giữa Anh và Miến Điện.
Sau lại mở địa đồ trỏ bảo bầy tôi rằng "Trẫm nghe nói
nước Xiêm La cùng nước Hồng Mao có hiềm khích, chợt có dùng
binh thì Hà Tiên là chỗ hai nước xung đột nhau, ta nên tính
toán ra sao để phòng việc không ngờ"(16). Một cách gián
tiếp, triều đình Huế đã thể hiện mối lo ngại của mình
trước các thế lực Tây dương bằng hành động mang tính thăm
dò những cơ sở mà người phương Tây đặt trong khu vực. Năm
Minh Mạng thứ 4 (1823), nhà vua sai Cai cơ Ngô Văn Trung và Tuần
hải đô dinh Hoàng Trung Đồng đi Hạ Châu, vua dụ rằng:
"Chuyến đi này không phải để mua hàng hoá, chính là muốn
biết núi sông, phong tục, nhân vật của nước ngoài. Bọn
ngươi đến nơi phải xem kỹ la bàn, ghi chép rõ ràng cho biết
phương hướng". Động thái thăm dò phương Tây của triều
đình Huế cũng được người nước ngoài nhìn nhận: "Ngoài
việc thực hiện những thương vụ cho nhà vua, các phái viên đi
sứ còn làm nhiệm vụ điều tra những cơ sở phương Tây trong
vùng. Năm 1825, vua đã gửi hai đội vũ trang và một đoàn quan
lại tới vùng Singapour để mua hàng len và hàng thuỷ tinh. Sau
mới phát hiện là những viên quan này cũng tới để tường
trình những điều kiện và quan điểm của những thuộc địa
châu Âu ở eo Malacca"(17). Nguỵ trang dưới mục đích mua hàng
hoá và vũ khí, Minh Mạng đã phái nhiều đoàn sứ giả đến
các nước trong khu vực Đông Nam Á, Nam Á, đặc biệt là Đông
Nam Á hải đảo để tìm hiểu những hoạt động của người
phương Tây ở cơ sở của họ. Theo thống kê của Giáo sư Chen
Ching-ho, từ năm 1778 đến năm 1847, không kể 18 cuộc đi sứ
không có cứ liệu chính xác, ông đã liệt kê có tới 11 cuộc
tới Batavia, 6 cuộc tại Singapour, hai cuộc xuống vùng Tiều tây
dương, 2 lần tới Penang, 2 lần tới Semarang, 2 lần đến Luzon,
1 lần đến Joho và 1 lần đến Malacca. Không tính những cuộc
đi sứ mà cứ liệu chưa chính xác thì trong tổng số 29 chuyến
đi xuống vùng Hạ Châu thì có tới 18 chuyến đi được thực
hiện dưới thời vua Minh Mạng. Một mật độ cao hơn hẳn cho
thấy sự quan tâm của nhà vua tới vùng biển này, nơi mà
người phương Tây đã xác lập được căn cứ từ lâu.

<center><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub02/chc3adnh-sc3a1ch-ngoe1baa1i-giao-2.jpg"
width="600" height="357" alt="chc3adnh-sc3a1ch-ngoe1baa1i-giao-2.jpg"
/></center>

Có lẽ những báo cáo của phái viên đi sứ ít nhiều đã làm
thay đổi chính sách ngoại giao của triều đình Huế, dù vẫn
cẩn trọng từ chối ký kết những hiệp ước thương mại
chính thức với các quốc gia phương Tây nhưng Minh Mạng lại
không ngăn cản các thương gia đên buôn bán ở Việt Nam. Năm
1825, nhà vua còn cho gửi thư hỏi vị khâm sứ Anh ở Tân Gia Ba
tại sao các thương nhân Anh lại không tới buôn bán tại các
thương khẩu Việt Nam. Ngoài ra trong ghi chép của những phái
viên đi sứ cũng hé cho chúng ta biết nhiệm vụ quan trọng mà
triều đình Huế giao phó cho họ. Tiêu biểu nhất là ghi chép
của Phan Huy Chú trong Hải trình chí lược khi Phan tự nhận
việc ghi lại về sự trạng của người Man Di ở các đảo xa,
tình hình người vật các xứ lạ như góp phần nhỏ cho việc
"quan phong"(18) của Thánh triều. Rất có thể việc ghi lại
Hải trình chí lược là yêu cầu của Minh Mạng đối với phái
viên Phan Huy Chú bởi trong lời dẫn, Phan gián tiếp ám chỉ
điều này. Sách làm xong vào tháng 5 (Âm lịch) năm Minh Mạng
thứ 14 (1833) thì tháng 9 năm ấy Phan lại được khôi phục
chức vụ Tư vụ ngạch ngoại giao bộ Công, chứng tỏ Minh
Mạng đánh giá cao việc làm của phái bộ trong chuyến công cán
tới Hạ Châu năm trước. Trong những ghi chép của Phan Huy Chú,
Lý Văn Phức hay Cao Bá Quát là những bản được biết đến
nhiều nhất, người ta thấy rằng những sứ giả Việt Nam tỏ
ra không quan tâm nhiều lắm tới cư dân bản xứ mà chú ý
nhiều hơn tới những hoạt động kinh tế, hệ thống hành
chính, tổ chức quân sự và sự cạnh tranh của người Tây
dương cùng kỹ nghệ hiện đại của họ. "Hồng Mao ở cách
Đại Tây Dương đi thuyền mất hơn 5 tháng. Chỉ vì tàu thuyền
của họ vũ khí sắc bén, nên họ có thể vượt biển khơi mà
cướp đảo xa, chiếm lấy mà thống trị. Mấy trăm năm nay
người Đồ Bà bèn trở thành tôi đòi của họ, phải chia nhau
vào ở nơi rừng núi, chịu nộp thuế lệ. Tuy có lúc muốn
chống lại người Hồng Mao nhưng sức không làm nổi, đành
để cho họ trói buộc mà chịu sai khiến"(19). Qua đó Phan Huy
Chú đã chỉ ra nguyên nhân mất nước không thể cưỡng lại
của người Đồ Bà trước sự báo cáo của những đoàn đi
sứ xuống vùng Hạ Châu mà Minh Mạng đã nhanh chóng đốc thúc
việc đóng tàu thuyền theo kỹ nghệ phương Tây, và thành công
đầu tiên đến vào năm 1839.

Về thủ tục hải quan của Riau, ghi chép của Phan Huy Chú cho ta
thấy sự gọ nhẹ và thái độ không chút e dè khi tiếp đón
những đoàn thuyền từ xứ khác tới ở những trụ sở do
người Tây dương quản lý: "Khi thuyền mới đến thì đã
thấy một chiếc thuyền tuần tra treo cờ trắng đi tới. Có 5
người lính tới hỏi xem thuyền khách có bao nhiêu người, đi
hướng nào. Họ biên chép rồi đi ngay". Tường trình này có
đưa tới sự so sánh để rồi thay đổi thủ tục hải quan mà
triều đình Minh Mạng tiến hành đối với các thuyền buôn
đến từ nước ngoài hay không? Song ta thấy rằng tới những
năm cuối triều Minh Mạng, các sứ thần Tây dương đến Việt
Nam được tiếp đón cởi mở và thân thiện hơn. Mục lục
châu bản triều Nguyễn năm Minh Mạng thứ 19 còn ghi lại chi
tiết cảnh giao thương diễn ra dưới thuyền của người Anh
trong không khí tôn trọng, nhiệt thành: "Võ Văn Giải, Lý Văn
Phức tâu: "Tối ngày mùng 6 này, phụng dụ tới Đà Nẵng
để tiếp chuyện với người Anh Cát Lợi tới Đà Nẵng hôm
trước. Lúc tới tàu thì chủ tàu là Yết Giả chào mừng vui
vẻ mời ngồi nói chuyện và xem hàng hoá, lựa mua một vài
hàng tốt để đem về dâng. Hai bên đều tỏ ý nhã nhặn có
lễ độ cho mời người dưới thuyền lên bờ mua đồ cần
dùng". Trong khi trước đó thủ tục hải quan của triều đình
Huế khá chặt chẽ với nhiều công đoạn, thông thường tàu
thuyền các nước đến cảng Đà Nẵng. sau khi thông báo có
quốc thư và lễ vật xin đệ trình lên nhà vua với các quan
sở tại, tàu thuyền của họ sẽ được cập cảng, hiển
nhiên phải bị khám xét, sau đó được cử lên bờ có sự
giám sát của quan binh địa phương mua những nhu yếu phẩm cần
thiết như thực phẩm, nước uống, than củi… Và tất cả ở
lại trên tàu chờ quan địa phương viết báo cáo về kinh xin
chỉ thị của nhà vua. Thời gian mà họ phải đợi tính từ khi
tàu cập cảng có thể là 10 hoặc 15 ngày(20).

<h2>Kết luận</h2>

Thế kỷ XIX là thời kỳ chuyển hướng lịch sử không chỉ
với Việt Nam mà cũng là tình hình chung của nhiều nước
phương Đông khi các thế lực thực dân đã can thiệp vào khu
vực một cách trực tiếp hơn. Lúc bấy giờ, các nước phưong
Tây đã tiến hành xong hai cuộc đại cách mạng là cách mạng
tư sản và cách mạng công nghiệp, chủ nghĩa tư bản cũng dần
chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế
quốc thì phương Đông nói chung, trong đó có Việt Nam vẫn ở
thời kỳ phong kiến. Nhà Nguyễn được dựng lên trong bối
cảnh đất nước trải qua một thời kỳ chia cắt kéo dài, sự
thống nhất về lãnh thổ và chủ quyền mới chỉ đạt được
tương đối, Minh Mạng phải gánh vác nhiệm vụ đưa đất
nước của ông bước qua giai đoạn khủng hoảng song những
biến đổi khôn lường của tình hình khu vực đã buộc ông
phải lựa chọn một thái độ thận trọng, đôi khi là cảnh
giác cao. Dưới thời vua Minh Mạng, quy định về việc cho tàu
thuyền phương Tây chỉ được đậu ở cửa biển Đà Nẵng
được thực hiện chặt chẽ nhất. Đạo dụ năm 1835 thể
hiện thái độ kiên quyết của nhà vua: "…Tàu Tây đậu tại
cửa Hàn, còn các cửa biển khác không được vào, phép nước
rất nghiêm, chẳng nên làm trái… Từ nay người Tàu phải đi
tàu buôn nước Tàu, mới cho vào cửa biển buôn bán, người
Tây phải đi tàu nước Tây vào cửa Hán, không được ghé vào
cửa khác, có lỗi"(21). Chỉ cho phép tàu nước Tây được
đậu tại cửa biển Đà Nẵng còn là mục đích tránh sự nhòm
ngó bởi cửa biển này cách kinh đô Huế 100km, một khoảng
cách có thể coi là an toàn.

Có thể thấy chính sách đối ngoại cảu Minh Mạng đối với
các nước phương Tây khá mềm dẻo, tế nhị bằng một nỗ
lực cao nhất tránh làm mất lòng các nước thái cường cùng ý
định tìm hiểu để rồi cố gắng đưa đất nước tiến gần
hơn phương Tây theo cách của ông mà vẫn giữ được những
nền tảng đạo đức cơ bản. Tuy nhiên cuộc chiến tranh nha
phiến năm 1839 bùng nổ với sự can thiệp bằng vũ lực của
người Anh ở Quảng Châu càng khiến vua Minh Mạng ý thức
được nguy cơ mà Việt Nam phải đương đầu trước sự bành
trướng của chủ nghĩa thực dân: Một mặt nhà vua cho phòng
vệ những nơi hiểm yếu trên bờ biển Đại Nam, đặt thêm
pháo đài ở Hải Phòng, xây thêm pháo đài ở cửa biển Thị
Nại, chia lính thú tuần phòng ở đảo Côn Lôn, đảo Phú
Quốc. Mặt khác, chính Minh Mạng trên cơ sở thăm dò thái độ
của các cường quốc châu Âu đã sửa đổi chính sách ngoại
giao. Năm 1840, nhà vua cho người di Penang rồi sang Calcutta xem
người Anh dự bị chiến sự Trung Hoa thế nào, cho tàu sang
Djakara xem người Hoà Lan toan tính ra sao. Trong châu bản triều
Minh Mệnh còn ghi lại khi thị lang Võ Đức Khuê điều trần
về việc thông thương, có đề nghị không nên để thuyền
ngoại quốc tới Đại Nam, và không nên để người Đại Nam
tới ngoại quốc vì sợ người ngoại quốc tới thì việc
nước sẽ bị khuy du như nhà Thanh để người Anh tới mà Trung
Hoa rối loạn. Vua Minh Mạng cho bản điều trần ấy là bất
thông "lời nói không ý thức, không thi hành được"(22).

Trong văn hoá đầu thế kỷ XIX, sự xâm nhập của phưong Tây
sang phương Đông véctơ lực không thể cưỡng lại thì Minh
Mạng vẫn là con người của truyền thống, thế nên sự
"chấp nhận" phương Tây của ông cũng trên tâm trạng vừa e
dè, vừa cởi mở lại đan xen tam lý bất ổn vừa ngưỡng mộ,
vừa xem thường với một nỗ lực muốn thoát khỏi nhưng bị
chi phối bới nhận thức về sức mạnh không thể cưỡng chế
trước ưu thế kỹ thuật phương Tây. Đó chính là thách thức
trong việc lựa chọn lối ứng xử trước một xu thế mới. Tuy
vậy xuyên suốt trong chính sách ngoại giao với người Tây
dương dưới thời vua Minh Mạng vẫn toát lên sự mềm dẻo,
tính thích nghi với những điều kiện mới và hoàn cảnh mới.
Lịch sử không thể đặt ra những chữ "nếu", vì vậy
chúng ta không thể biết được nỗ lực tiếp theo của ông như
thế nào trong ý định hoá giải phương Tây kho ông đã nhận ra
rằng ông không thể không mở cửa đất nước của mình.

<h2>CHÚ THÍCH:</h2>

1. Xem Lê Thành Khôi, Le Viet Nam, Histoire et civili-sation, 1955,
tr.370.

2. Nhà vua Nam Hà và hội đồng nhà nước sẽ nhường vĩnh
viễn cho hoàng đế Cơ đốc, những người thừa kế và nối
ngôi sau này cảng biển và lãnh thổ Han – san (vịnh Tu – ron
và bán đảo) và những đảo lân cận từ Faifo phía Nam và Hai
wen phía Bắc. Mọi tôn giáo và tín ngưỡng đều được tự do.

3. John White, A Voyage to Cochin China, tr.267.

4. Nguyễn Thế Anh, Kinh tế xã hội Việt Nam dưới thời các vua
triều Nguyễn, Nxb Văn học, H.2008.

5. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, t.4, Nxb
Giáo dục, H.2007,tr.837.

6. Mặc dù bề ngoài ông không có biểu hiện thay đổi nào trong
cách đối xử của ông với những sĩ quan Pháp phục vụ mình,
tuy nhiên người ta cho rằng tính cách người Pháp đã làm tổn
thương lớn đến lòng quý trọng của ông từ khi ông được
biết về cách đối xử bất nhân và mang tính xúc phạm mà gia
đình bất hạnh của nhà vua phải chịu đựng bởi đám người
hèn hạ, dã man và vô đạo đó. Dẫn theo J. Barrow, Một chuyến
du hành đến xứ Nam Hà năm 1792-1793, Nxb TG, H.2008, Nguyễn Thừa
Hỷ dịch.

7. Nguyễn Thế Anh, Sdd, tr.229.

8. Choi Byung Wook, Vùng đất Nam bộ dưới triều Minh Mạng, Nxb
TG, H.2011, tr.111.

9. Đại Nam thực lục, t.2, tr. 628.

10. Nt, tr.131.

11. Nt, tr.17.

12. Nt, tr.63.

13. Nt, tr.226.

14. Nt, tr.372.

15. Nt, tr.388.

16. Nt, tr.522.

17. Xem Wong Lin Ken, 1960, tr.155-156.

18. Quan phong là quan sát phong tục, thời cổ vua Trung Quốc cử
người ghi chép phong tục của các nước để phân biệt cái
hay, cái dở.

19. Phan Huy Chú, Hải trình chí lược, bản dịch của Phan Huy
Lê, Tạ Trọng Hiệp, tr.151-152.

20. Taboulet, Georges, La Geste francaise en Indochine, dẫn theo Võ Văn
Dật, Lịch sử Đà Nẵng 1306-1950, 1974, tr.136.

21. Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều chính biên toát
yếu, Nxb Thuận Hoá, Huế, 1998, tr.198.

22. Châu bản triều Minh Mạng, tập 79, tờ 90-92.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10134), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét