nhận ra một kết quả đáng buồn cho quan niệm "có tiền là
có tất cả". Công bằng mà nói, bóng đá Việt Nam ngày nay
về đại thể có khá hơn hai thập niên trước kể từ sau khi
các "đại gia" bắt đầu tham gia "sân cỏ" và mạnh tay
chi tiền hơn các ông bầu quốc doanh. Nhưng sự đầu tư đó
cũng chỉ đưa bóng đá Việt Nam tới một cái ngưỡng nhất
định như ngày hôm nay, chưa làm cho người hâm mộ có thể
"ngước nhìn" và sảng khoái.
Với những người yêu bóng đá, bên cạnh một vài mùa giải
sôi động là những ngày tháng thất vọng não nề với cái
nhìn mù mịt cho tương lai. Tiền đã không thể vực bóng đá
Việt Nam lên như kỳ vọng và không đủ để mang lại một
tương lai tươi sáng cho cuộc chơi làm say phần lớn hành tinh
này. Chưa kể, nó còn mang lại nhiều hệ lụy khiến các cơ
quan pháp luật phải vào cuộc, không ít cầu thủ vướng vòng
lao lý, không ít ông bầu thất vọng với cách cư xử thực
dụng quá đáng của những học trò cưng, những người thầy
tâm huyết từng gắn bó nhiều năm với bóng đá Việt Nam cũng
buộc lòng dứt áo ra đi tìm hạnh phúc trong tình yêu bóng đá
ở những phương trời khác… Có thể nói, đó chính là hậu
quả của tình trạng đầu tư "thừa tiền nhưng lại thiếu
chất xám".
Câu chuyện bóng đá thực ra cũng chỉ là một trong rất nhiều
điển hình của thực trạng nền kinh tế xã hội Việt Nam ngày
nay. Sau hơn hai thập niên đổi mới, thu nhập bình quân đầu
người của Việt Nam tăng lên khoảng 5-6 lần (từ 180 USD năm
1986 lên 1115 USD năm 2010). Thực đáng mừng vì dân ta đã sống
tốt hơn trước, nhưng so với thế giới xung quanh thì thực ra
không có gì phải đáng tự hào. Hơn nữa nếu nhìn sâu vào
trong bản chất của sự tăng trưởng ta có đủ lý do để quan
ngại về tính thiếu bền vững của cấu trúc nền kinh tế
hiện tại.
Để nâng cao gấp 5-6 lần tăng trưởng tổng sản phẩm quốc
nội tính theo đầu người, Việt Nam cần tới 25 năm. Trong khi
một số nước xung quanh ta chỉ cần từ 10 – 15 năm hoặc còn
ít hơn như thế. Điều đáng nói là giai đoạn phát triển
trước của những quốc gia này đã tạo điều kiện vững
chắc cho sự phát triển rất năng động trong giai đoạn tiếp
theo. Trong khi ở Việt Nam thì ngược lại, những năm gần đây
đã bắt đầu đi vào các khó khăn kinh tế mang tính cơ cấu
khiến nhà chức trách đang phải quyết liệt tìm kiếm lối ra.
Từ năm 2007 đến nay (trừ năm 2009) lạm phát liên tục ở mức
hai con số. Hiệu quả kinh tế cũng ngày càng thấp hơn so với
tiền của và công sức đầu tư. Cụ thể là chỉ số ICOR
(Incremental Capital – Output Ratio: Hệ số sử dụng vốn) từ
nhiều năm nay là trên 6 (trong khi ở các nước xung quanh chỉ
số này là 2-3). Có thể nói, kinh tế Việt Nam trong thời gian
qua tăng trưởng chủ yếu dựa vào đầu tư mới, lao động
chất lượng thấp, khai thác quá mức tài nguyên và môi
trường, tỷ lệ tổn thất, thất thoát nhiều tới mức khó
kiểm soát.
Một trong những lợi thế của nền kinh tế Việt Nam thời kỳ
đầu phát triển nay đã không còn phù hợp nữa, đó là "nhân
công giá rẻ". Việt Nam đang bước qua giai đoạn thuận lợi
nhất trong việc tận dụng yếu tố "dân số vàng" để phát
triển, khi mà phần đông những người lao động Việt Nam đang
trong độ tuổi sung sức nhất lại không được đào tạo,
không có nghề chuyên môn cần và đủ cho nhu cầu phát triển.
Họ phải luôn chấp nhận một sự cạnh tranh đáng buồn và
nghiệt ngã với giá cả cho loại hàng hoá đặc biệt là sức
lao động bằng một cái giá rẻ mạt. Các chương trình đô
thị hoá, công nghiệp hóa ngày càng phát triển theo diện rộng
mỗi năm ngốn mất hàng chục nghìn héc-ta đất nông nghiệp
cũng khiến cho hàng vạn thanh niên lao động nông thôn không còn
việc làm theo truyền thống. Song nhà chức trách vẫn chưa có
các chương trình và giải pháp tương xứng để đào tạo,
chuyển đổi nghề nghiệp thích hợp cho số lao động khổng
lồ này. Tất nhiên, phần đông trong số họ, lại tiếp tục
bán sức lao động của mình với những cái giá rẻ mạt cho
các công ty mọc lên ngay chính trên mảnh đất mà xưa kia gia
đình, hay bạn bè họ từng canh tác; tệ hơn nữa là họ buộc
phải "tha phương cầu thực" tại các thành phố đang phát
triển như vũ bão nhưng lại rất thiếu quy hoạch.
Việt Nam được xem là đất nước của nhiều nghìn năm Văn
Hiến, từng đứng vững vàng bên cạnh những người láng
giềng khổng lồ sau hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước.
Phần lớn là nhờ vào tố chất đặc biệt của con người
Việt Nam , "Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, song hào kiệt
đời nào cũng có" (Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi). Các
nhà nghiên cứu quốc tế, các công ty hàng đầu thế giới khi
tiếp xúc với lao động Việt Nam cũng đều đánh giá cao phẩm
chất, năng lực tiềm tàng của con người Việt Nam . Không ít
trí tuệ Việt Nam đã và đang đóng góp cho những công trình
khoa học, những viện nghiên cứu mang tầm vóc quốc tế. Thế
nhưng, sau nhiều thập kỷ phát triển chúng ta vẫn cứ phải
chấp nhận yếu tố "nhân công giá rẻ" trong danh sách các
lợi thế về cạnh tranh, vì sao?
Có thể nói rằng chất lượng giáo dục của Việt Nam đang là
một trong những yếu tố quan trọng kiềm hãm sự phát triển
của đất nước. Không một nhà hoạch định chính sách quốc
gia nào lại không hiểu giáo dục là một trong những nhân tố
đầu tiên và chủ lực, quyết định cho mọi sự thành công
của tất cả các kế hoạch phát triển. Giáo dục bao gồm
chính sách đào tạo nguồn nhân lực đồng thời với chính
sách sử dụng nhân tài là một hệ thống tổng hòa cùng kích
thích nhau để phát triển. Trong một nền kinh tế lấy sự tăng
trưởng con số làm thành tích và cũng là đích đến thì tất
yếu sẽ sản sinh ra một hệ thống đào tạo cũng sính thành
tích tương tự.
Chuyên gia cao cấp của Liên hiệp quốc ông Vũ Quang Việt nhiều
năm trước đã từng cảnh báo giáo dục Việt Nam yếu kém
không phải vì thiếu tiền. Ông Việt đã sử dụng các con số
thống kê để cho thấy ngoài việc hàng năm ngân sách quốc gia
phải chi cho giáo dục khoảng 20% GDP, giáo dục Việt Nam còn
nhận từ xã hội với tinh thần "tôn sự trọng đạo",
hiếu học của người Việt cũng một với khoảng tương tự.
Như vậy, khoảng 30-40% nguồn lực của đất nước hàng năm là
chi cho giáo dục, con số này vượt xa cả những nước có nền
giáo dục hàng đầu trên thế giới (chỉ vào khoảng 12-15% GDP
hàng năm), thế nhưng đáng buồn là giáo dục Việt Nam vẫn cứ
mãi "lẹt đẹt" chạy theo nhu cầu của phát triển, nếu
không muốn nói là đang trở thành một lực cản đáng kể
trước yêu cầu bức thiết về nguồn nhân lực chất lượng
cao xứng đáng cho nhu cầu phát triển.
Đáng buồn thay, trong lúc "nhân tài như lá mùa thu", tình
hình "chảy máu chất xám" từ khu vực công sang khu vực tư,
có vốn đầu tư nước ngoài hay ra hẳn nước ngoài lại đang
ngày càng trở nên phổ biến. Điều đó chứng tỏ, không chỉ
chính sách đào tạo, phát triển nhân tài của ta đang bất cập
mà ngay cả chính sách tuyển chọn, sử dụng, đãi ngộ nhân
tài cũng đang có vấn đề.
Sông có thể cạn, núi có thể mòn, rừng vàng biển bạc ngày
mai rồi cũng sẽ cạn kiệt, thế nhưng nguồn nhân lực chất
lượng cao (mà đặc biệt là những tài năng đỉnh cao) là một
dạng tài nguyên không bao giờ vơi cạn. Chất lượng nguồn
nhân lực của Việt Nam hiện đang còn rất thấp so với khả
năng cho phép và tiềm lực của dân tộc ta. Đây chính là một
trong các bất ổn khiến cho nền kinh tế của chúng ta phát
triển không bền vững và kém hiệu quả từ nhiều năm qua.
Cần phải thấy rằng con tàu Việt Nam không thể thiếu vắng
đội ngũ tinh hoa tiến tiến của dân tộc vận hành nó trên
đại dương đầy sóng gió và cũng nhiều bất trắc của thế
giới ngày nay.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10173), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét