rằng, quan hệ đối tác Việt - Mỹ sẽ tiếp tục đóng góp
tích cực vào các nỗ lực chung để thúc đẩy hoà bình, ổn
định và phát triển khu vực cũng như trên thế giới. Hai
nước chúng ta có những cơ hội lớn để thúc đẩy hơn nữa
hợp tác song phương và đa phương"- Bộ trưởng Phạm Bình
Minh.</div>
Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu nội dung cuộc nói
chuyện của Ngoại trưởng Phạm Bình Minh tại Hội đồng Đối
ngoại Mỹ (CFR), một think-tank hàng đầu về chính sách đối
ngoại của Mỹ ngày 27/9.
<em><strong>BOB WOODRUFF:</strong> Xin chào tất cả mọi người. Tôi
là Bob Woodruff.</em>
<em>Như mọi người đã biết, người sẽ nói chuyện hôm nay là
Phạm Bình Minh, Bộ trưởng Ngoại giao nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam. Và ông sẽ có cơ hội đưa ra bài phát
biểu tại đây, có lẽ khoảng 10 phút hoặc lâu hơn, sau đó
mọi người sẽ đưa ra câu hỏi.</em>
<em>Tôi chỉ có chút lưu ý trước khi chúng ta bắt đầu, các
bạn có thể tắt điện thoại, dĩ nhiên nếu cần có thể sử
dụng chế độ rung và hãy nhớ, tất cả được lưu lại. Bạn
có thể thấy các máy quay ở đây, nên hãy thận trọng những
gì bạn nói.</em>
<em>Và tôi xin giới thiệu Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình
Minh.</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Tiến sĩ Richard Haass,
các quý ông, quý bà, tôi xin cám ơn Hội đồng Đối ngoại vì
đã mời tôi trong buổi thảo luận này. Và cám ơn tất cả các
bạn đã tham dự.
Chúng tôi xem Hội đồng Đối ngoại là một đối tác quan
trọng và đánh giá cao sự quan tâm của các bạn trong sự phát
triển quan hệ Việt - Mỹ. Chúng tôi nhớ lại chuyến thăm của
hội đồng năm 1993 khi hai nước chúng ta vẫn chuẩn bị cho
việc bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ. Chúng ta
bình thường hoá năm 1995.
Và năm ngoái, chúng tôi vui mừng tiếp đón Tiến sĩ Richard Haass
và đoàn đại biểu hội đồng thăm Việt Nam. Tôi tin rằng,
chuyến thăm này đã giúp các thành viên của hội đồng hiểu
rõ hơn về đất nước và nhân dân chúng tôi trong các lĩnh
vực cải cách.
Và hôm nay tôi rất vinh dự có cơ hội này để chia sẻ với
các bạn những suy nghĩ của chúng tôi về chính sách đối
ngoại của Việt Nam. Chúng tôi đã theo đuổi một chính sách
đối ngoại nhất quán của độc lập, tự chủ, hợp tác, phát
triển, đa phương hoá và đa dạng hoá các mối quan hệ, tích
cực và chủ động hội nhập quốc tế. Và chúng tôi có một
khẩu hiệu mà chúng tôi đã quyết tâm là đáng tin cậy, là
người bạn, là đối tác đáng tin cậy và một thành viên có
trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Định hướng tích cực và chủ động hội nhập quốc tế là
yếu tố mới trong chính sách đối ngoại của chúng tôi được
thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ 11 đầu năm nay. Đây
là bước ngoặt trong chính sách đối ngoại của chúng tôi vì
trước đây chúng tôi chủ yếu tập trung vào hội nhập kinh
tế, nhưng giờ đây chúng tôi mong muốn hội nhập trong tất
cả các lĩnh vực, không chỉ có kinh tế mà còn là trao đổi
chính trị, ngoại giao, an ninh, quốc phòng, văn hoá, xã hội.
Sự thành công của Việt Nam với tư cách thành viên không
thường trực tại Hội đồng Bảo an LHQ trong nhiệm kỳ 2008 và
2009, chủ tịch ASEAN năm 2010, hợp tác với các quốc gia và LHQ
trong nhiều lĩnh vực như an ninh, an toàn hạt nhân; biến đổi
khí hậu; thực hiện Các Mục tiêu Thiên niên kỷ...; tích cực
chuẩn bị tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình và tích cực
tham gia các cuộc đàm phán Quan hệ đối tác xuyên Thái Bình
Dương là một số ví dụ trong chính sách đối ngoại của
chúng tôi.
Chúng tôi hướng tới mục tiêu thúc đẩy hơn nữa các quan hệ
đối ngoại, nâng tầm quan hệ với các đối tác hàng đầu,
thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với những cường
quốc lớn và các trung tâm kinh tế toàn cầu là những ưu tiên
của chúng tôi. Chúng tôi đã thiết lập quan hệ đối tác
chiến lược với Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn
Quốc, Anh và Tây Ban Nha. Tôi hy vọng trong tương lai gần, Việt
Nam sẽ có quan hệ đối tác chiến lược với những cường
quốc khác, trong đó có Mỹ. Đồng thời, chúng tôi nỗ lực
làm việc để tăng cường quan hệ của mình với những bạn
bè và đối tác truyền thống cũng như tham gia các tổ chức
quốc tế, đặc biệt là LHQ.
Về lĩnh vực kinh tế, hiện tại, chính phủ Việt Nam xác
định, nhiệm vụ hàng đầu là ổn định kinh tế vĩ mô, tạo
điều kiện để nền kinh tế tiếp tục phát triển nhanh và
bền vững. Cùng với nhiều nỗ lực toàn diện khác, nỗ lực
giảm thiểu và hợp lý chi tiêu công đã góp phần ổn định
kinh tế vĩ mô, giải quyết các thách thức do tác động của
cuộc khủng hoảng kinh tế/tài chính toàn cầu và thiết lập
nền tảng cần thiết để thực hiện kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội của chúng tôi trong giai đoạn 2011-2020 - những
gì chúng tôi gọi là chiến lược kinh tế xã hội với mục
tiêu năm 2020 Việt Nam sẽ trở thành một nước công nghiệp
theo hướng hiện đại.
Để đạt được mục tiêu trên, trong nhiệm kỳ này, chính
phủ của chúng tôi đang tập trung vào ba nhiệm vụ chính: thứ
nhất, đơn giản hoá các thể chế kinh tế thị trường nhằm
tạo ra một sân chơi bình đẳng và cải cách hành chính; thứ
hai, phát triển nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực
chất lượng cao; thứ ba, xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng
thích hợp. Cùng lúc đó, chúng tôi coi hợp tác kinh tế quốc
tế là nhân tố quan trọng cho chiến lược phát triển kinh tế
của Việt Nam, và đây sẽ là ưu tiên cho quan hệ đối ngoại
của Việt Nam trong những năm tới.
Chúng tôi đang làm việc với các nước ASEAN để bước vào
kỷ nguyên hợp tác mới theo Hiến chương ASEAN, phấn đấu để
xây dựng một cộng đồng ASEAN vào năm 2015 trên cơ sở ba trụ
cột chính - chính trị, an ninh, kinh tế và xã hội - và thúc
đẩy vai trò trung tâm của ASEAN trong một cấu trúc khu vực.
Chúng tôi hy vọng thúc đẩy hơn nữa quan hệ đối tác giữa
ASEAN và các cường quốc lớn thông qua tăng cường đối
thoại, hợp tác, xây dựng lòng tin và ngoại giao phòng ngừa
với quan điểm phát triển một cơ chế và cơ cấu bền vững
để đảm bảo hoà bình, ổn định và phát triển bền vững
trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Chúng tôi hoan nghênh
chính sách tăng cường hợp tác với các nước trong khu vực
của tất cả quốc gia, bao gồm nước Mỹ.
Với hoà bình và an ninh, đây luôn luôn là ưu tiên hàng đầu
của chúng tôi. Chúng tôi hướng tới LHQ để tiếp tục các
nỗ lực phối hợp và chặt chẽ nhằm thúc đẩy giải pháp
hoà bình cho các cuộc nội chiến và xung đột địa phương ở
một số khu vực trên thế giới, đặc biệt tại Bắc Phi và
Trung Đông, trong khi ngăn chặn các xung đột khác có thể bùng
nổ.
<center><img src="http://danluan.org/files/u1/sub02/MG6720_1317893378.jpg"
width="480" height="270" alt="MG6720_1317893378.jpg" /></center>
<center><em>Bộ trưởng Phạm Bình Minh. Ảnh: Phạm
Hải</em></center>
Một điều cần thiết lâu dài là chúng ta cần gieo trồng văn
hoá hoà bình, đối thoại và thúc đẩy giải pháp hoà bình cho
tranh chấp. Việt Nam ủng hộ các nỗ lực nhằm chấm dứt bạo
lực và tăng cường tái thiết, hoà giải quốc gia tại
Afghanistan, tại Iraq.
Liên quan tới vấn đề nóng hiện nay tại Đại hội Đồng -
đó là đơn xin trở thành thành viên đầy đủ của LHQ của
Palestine - chúng tôi có thể nói rằng, chúng tôi công nhận nhà
nước Palestine năm 1988 và đã luôn ủng hộ cuộc đấu tranh
của người Palestine cho các quyền không thể xâm phạm của
họ, bao gồm quyền thành lập một nhà nước độc lập và có
chủ quyền, cùng tồn tại hoà bình với Israel, với các
đường biên giới thiết lập trước tháng 6/1967. Đó là lý do
tại sao, chúng tôi nghĩ chúng tôi sẽ ủng hộ hồ sơ của
Palestine xin trở thành thành viên đầy đủ của LHQ, nhưng
(dường như) hiện tại, cuộc thảo luận vẫn đang ở vòng
Hội đồng bảo an mà chưa được đưa lên bàn của Đại hội
Đồng.
Việt Nam nhất quán chính sách ủng hộ vã thúc đẩy giải trừ
quân bị nói chung và toàn diện, với ưu tiên hàng đầu cho ba
trụ cột của vấn đề hạt nhân - cụ thể là, giải trừ
hạt nhân, không phổ biến hạt nhân và sử dụng hoà bình năng
lượng cũng như công nghệ hạt nhân. Chúng tôi tham gia tất cả
các văn kiện quốc tế lớn cho việc giải trừ vũ khí huỷ
diệt hàng loạt, bao gồm CTBT, NPT, BWC và CWC. Chúng tôi cũng
thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo các cơ chế
liên quan của LHQ đặc biệt là cơ chế do Hội đồng Bảo an
LHQ thiết lập.
Chúng tôi ủng hộ mạnh mẽ LHQ trong việc biến kết quả của
Hội thảo đánh giá Hiệp ước Không phổ biến Hạt nhân 2010
và Hội nghị cấp cao về An ninh và An toàn hạt nhân trở thành
các kết quả cụ thể, làm sống công tác của hội nghị giải
trừ quân bị và xúc tiến tham gia các cuộc đàm phán giải
trừ quân bị đa phương. Và trong khu vực của chúng tôi, trong
Đông Nam Á của chúng tôi, chúng tôi cùng với các nước ASEAN
đang làm việc để thúc đẩy hiệp ước về Đông Nam Á - khu
vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân, và chúng tôi mong
rằng, tất cả các nước, đặc biệt là các nước có vũ khí
hạt nhân, sẽ ký kết và phê chuẩn nghị định thư kèm theo
hiệp ước.
Trong khi thực hiện chính sách đối ngoại, chúng tôi coi Mỹ là
một đối tác có ý nghĩa chiến lược hàng đầu. Khi Tổng
thống Bill Clinton và Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt quyết
định bình thường hoá quan hệ của chúng ta 16 năm trước,
rất khó có thể hình dung được rằng sẽ có ngày chúng ta
đạt được sự phát triển như thế này. Cơ chế đối thoại
và tham vấn hiện nay đã tạo ra một khuôn khổ mạnh mẽ cho
sự phát triển liên tục trong quan hệ song phương ở nhiều
lĩnh vực khác nhau, từ quan hệ chính trị - ngoại giao tới kinh
tế, thương mại, an ninh, quốc phòng, giáo dục, khoa học và
công nghệ, hỗ trợ nhân đạo...
Hợp tác kinh tế hiện nay là điểm nhấn trong quan hệ song
phương của chúng ta, với hơn 18 tỷ USD trong kim ngạch thương
mại. Tôi nhớ rằng năm 1995, kim ngạch thương mại mới chỉ
là vài trăm USD và giờ đây nó gấp 180 lần so với con số năm
ấy. Ngày càng nhiều công ty Mỹ kể cả các tập đoàn ùang
đầu, đang đầu tư và không ngừng mở rộng thị trường của
họ ở Việt Nam. Tiềm năng to lớn cho hợp tác kinh tế của
chúng ta tồn tại kể từ khi hai bên và các đối tác khác cùng
thoả luận về Quan hệ Đối tác xuyên Thái Bình Dương - met
trong những thoả thuận thương mại lớn nhất và tự do nhất
trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Các lĩnh vực hợp tác khác cũng đạt được thành tựu rất
ấn tượng, đặc biệt là trong trao đổi giữa nhân dân hai
nước. Việc Mỹ gần đây trở thành điểm chọn lựa của hơn
13.000 sinh viên là lý do vì sao Việt Nam đang trở thành một
trong những điểm chọn lựa của du khách Mỹ.
Hai bên cũng đã hợp tác tốt trong việc tìm kiếm người mát
tích, trong các hoạt động nhân đạo như HIV/AIDS, rà phá bom
mìn, giải quyết vấn đề chất độc da cam.
Ngoài ra, hợp tác an ninh quốc phòng đã có tiến triển tích
cực. Tại cuộc đối thoại về chính sách quốc phòng lần
thứ hai gần đây diễn ra ở Washington, D.C., hai bên lần đầu
tiên đã ký kết các bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng,
đây là ví dụ cho sự hợp tác giữa Việt Nam và Mỹ.
Xây dựng động lực tích cực trong các quan hệ, Việt Nam và
Mỹ đang tiến hành các cuộc thảo luận về việc nâng tầm
quan hệ hướng tới quan hệ đối tác chiến lược. Tháng
7/2010, trong chuyến thăm Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 15 năm bình
thường hoá quan hệ, Ngoại trưởng Hillary Clinton đã chuyển
tải thông điệp của Tổng thống Obama để nâng tầm mối quan
hệ chúng ta lên một tầm cao hơn, hướng tới quan hệ đối
tác chiến lược. Tôi tin rằng, đây là lúc hơn bao giờ hết
để chúng ta đưa mối quan hệ hai nước sang một giai đoạn
hợp tác tiếp theo.
Hôm qua tôi đã có cuộc họp rất hiệu quả với Ngoại
trưởng Clinton về vấn đề này. Bà tin tưởng mạnh mẽ rằng,
mối quan hệ của chúng ta được tăng cường hơn nữa sẽ giúp
chúng ta thực hiện sự hợp tác tích cực, xây dựng và nhiều
mặt - một mối quan hệ tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi,
vì hoà bình, ổn định và phát triển như trong tuyên bố chung
của lãnh đạo hai nước. Chúng tôi cũng cho rằng, quan hệ
đối tác Mỹ - Việt tốt hơn không chỉ có nghĩa chỉ thúc
đẩy lợi ích chung mà còn có lợi cho lợi ích của mỗi bên
trên tinh thân hiểu biết và tôn trọng độc lập và chủ
quyền.
Ở bức tranh lớn hơn, tôi tin tưởng rằng, quan hệ đối tác
Việt - Mỹ sẽ tiếp tục đóng góp tích cực vào các nỗ lực
chung để thúc đẩy hoà bình, ổn định và phát triển khu vực
cũng như trên thế giới. Hai nước chúng ta có những cơ hội
lớn để thúc đẩy hơn nữa hợp tác song phương và đa
phương. Tôi hy vọng rằng, Hội đồng Đối ngoại và các bên
liên quan khác trong quan hệ Việt - Mỹ sẽ tích cực tham gia vào
tiến trình này vì các lợi ích lâu dài của hai quốc gia và
nhân dân hai nước. Tôi xin kết thúc phát biểu của mình tại
đây và rất cám ơn sự chú ý của mọi người.
<em><strong>WOODRUFF:</strong> Rất cám ơn ông. Rất hay. Tôi biết
rằng tôi sẽ chỉ đưa ra một số câu hỏi trong khoảng 15 phút
sau đó là để ngỏ cho các câu hỏi khác dành cho ông. Mặc dù
vậy, lần đầu tiên, tôi cũng muốn nói - với ý kiến cá nhân
- tôi nghĩ tôi với ông cùng độ tuổi. Ông 52 tuổi còn tôi 50.
Trong thời gian Chiến tranh Việt Nam, tôi và ông đều còn rất
trẻ, dĩ nhiên, tôi ở Detroit, và ông ở Hà Nội.</em>
<em>Vậy, ông nhìn nhận thế nào và ông đã nghĩ gì về Mỹ
hồi ấy? Chúng tôi biết rằng đã có thay đổi lớn từ đó
tới nay. Nhưng tôi chỉ muốn hỏi, ông đã từng nhìn nhận
thế nào và ông đã nghĩ gì?</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Vâng, như ông từng
đề cập, đó là thời gian xảy ra chiến tranh, và chúng ta còn
rất trẻ. Tôi có thể nói tôi rất nhỏ khi ấy. Tôi nhớ khi
Hà Nội bị đánh bom vì tôi tôi sống ở Hà Nội. Và lúc bị
đánh bom, tôi đã phải sơ tán về vùng nông thôn. Và từ nông
thôn, hàng đêm, tôi nhìn lên bầu trời, thấy như máy bay thả
bom. Dĩ nhiên, đó là sự thù hận. Và sau đó, năm 1975, khi đủ
tuổi, tôi vào trường ngoại giao. Và tôi đã học ngoại giao
để trở thành một nhà ngoại giao, với ước mơ mà chúng ta
có thể, các bạn biết đấy, là bình thường hoá quan hệ
giữa Việt Nam và Mỹ. Nên trong lĩnh vực này, giờ đây, trong
năm 1995 thì ước mơ đã thành hiện thực. Và các bạn biết
đấy, những ngày nay, chúng ta đang nỗ lực nâng tầm quan hệ
ấy.
<em><strong>WOODRUFF:</strong> Ông biết rằng, tôi biết ông đã có
sự ủng hộ rất lớn để cố gắng làm gia tăng quan hệ giữa
Việt Nam và Mỹ. Có khi nào ông thậm chí hình dung ra rằng, ông
sẽ ở đây, tại nước Mỹ thời gian trước không?</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Thời điểm nào?
<em><strong>WOODRUFF:</strong> Vâng, trở lại những năm 1970?</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Không (cười). Thời
gian đó là không vì trước năm 1975 - không thể biết chiến
tranh khi nào sẽ chấm dứt. Nên nó giải thích vì sao tôi không
thể hình dung sẽ ở Mỹ.
<em><strong>WOODRUFF:</strong> Vậy lần đầu tiên, lần đầu tiên
là khi nào ông nghĩ về điều này?</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Đó là khi - vào
những năm 1980, khi tôi làm việc tại bộ ngoại giao. Và thời
điểm đó, tôi làm ở chúng tôi gọi là Vụ Tổ chức Quốc
tế. Và công việc của tôi khi đó liên quan trực tiếp tới
công việc của LHQ. Nên tôi đã tới New York tham dự các phiên
họp của LHQ.
<em><strong>WOODRUFF:</strong> Tôi biết, một lần nữa với tư cách
cá nhân, là những gì mà cha ông, ý tôi là, quan điểm của cha
ông, suy nghĩ của ông ấy về loại hình công việc ông đã
làm?</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Vâng, ông biết
rằng, chúng tôi có một chính sách khi chúng tôi bình thường
hoá quan hệ với Mỹ, chúng tôi có khẩu hiệu rằng, khép lại
quá khứ và hướng tới tương lai. Vì vậy, với mọi nỗ lực
để bình thường hoá giữa hai nước, đó là hoàn hảo.
<em><strong>WOODRUFF:</strong> Và đó là lý do tại sao, cuối cùng,
đó là câu hỏi cuối cùng của tôi về quá khứ. Hãy hướng
tới - hiện tại và tương lai. Các bạn biết đấy, chắc chắn
khi nhìn vào - sự thay đổi về kinh tế ở đất nước này là
rất to lớn. Và trong tất cả các nước Đông Nam Á, tôi chưa
từng tới Việt Nam. Đó là nước duy nhất tôi chưa từng
đến.</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> (không nghe rõ)
<em><strong>WOODRUFF:</strong> Vì vậy đó là lý do chính vì sao tôi
muốn gặp ông, để tối có thể đến thăm ông. Tôi đã sống
ở Trung Quốc, tại Bắc Kinh năm 1988 và 1989. Sau đó, chúng tôi
đã chứng kiến một đất nước mới bắt đầu có những
đổi thay đáng kể. Nhưng nếu nhìn vào số người mới thoát
nghèo, thoát nghèo ở Trung Quốc, tôi nghĩ có khoảng 300 triệu
người thoát nghèo trong 30 năm qua. Tôi nghĩ, với nước ông,
đã có khoảng 75% dân số được xem là trong mức nghèo, rồi
hiện nay giảm xuống còn 14%, từ năm 1990 tới nay. Ông nhìn
nhận nền kinh tế thế nào và lý do cho sự phục hồi theo
thời gian?</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Với Việt Nam trong 10
năm qua, chúng tôi duy trì tỉ lệ tăng trưởng kinh tế khoảng
7% - 7-8%, và điều đó đã góp phần giảm nghèo rất lớn,
đồng thời chính phủ có một chính sách ưu tiên cho người
nghèo. Đó là lý do vì sao, với Các mục tiêu phát triển thiên
niên kỷ, đây là một trong các mục tiêu chúng tôi đã hoàn
thành trước - trước thời hạn - đặt ra cho năm 2015.
<em><strong>WOODRUFF:</strong> Và ông có con số tăng trưởng hàng
năm trong nền kinh tế. Tôi nghĩ lạm phát bây giờ vào khoảng
18%?.</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> 18% lạm phát, vâng,
trong năm nay. Và đó là một trong những thách thức lớn nhất
với kinh tế Việt Nam.
<em><strong>WOODRUFF:</strong> Nên ông sẽ làm gì?</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Chính phủ giờ đây
có thông qua một số giải pháp. Một trong số đó là kiểm
soát chi tiêu công, giảm các dự án. Việc đầu tư vào một
số dự án không hiệu quả nên chúng tôi giảm các dự án đó.
Đồng thời, giảm tỉ lệ lãi suất. Nhưng lạm phát vẫn cao.
Trong tháng này, dường như đã tốt hơn một chút, nhưng vẫn
ở mức rất cao.
<em><strong>WOODRUFF:</strong> Giờ chuyển sang căng thẳng khu vực,
dĩ nhiên là, chắc chắn là với Trung Quốc, nước giờ đây
mạnh nhất toàn châu Á. Ông có e ngại về điều này không? Ý
tôi là trước khi Trung Quốc coi Biển Đông như một đường
lưỡi bò lớn để họ có quyền với khu vực biên giới dọc
theo biển của Việt Nam. Việc này tiếp tục thế nào mà không
có xung đột, nếu không gọi là một cuộc chiến, ông nghĩ
điều gì sẽ xảy ra khi nỗ lực kiểm soát những gì Trung
Quốc đang cố gắng áp đặt lên các ông?</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Ông biết rằng, với
Trung Quốc ở thời điểm hiện tại, chúng tôi có - những gì
chúng tôi mô tả về mối quan hệ là sự hợp tác toàn diện.
Và Trung Quốc là một trong những đối tác chiến lược của
chúng tôi. Trung Quốc nằm trong số bảy nước chúng tôi có quan
hệ đối tác chiến lược. Và quan hệ giữa Việt Nam với Trung
Quốc là tốt đẹp trong mọi lĩnh vực.
Về khía cạnh kinh tế. Chúng tôi có trao đổi thương mại,
khoảng 20 tỉ USD. Về chính trị, chúng tôi đã trao đổi các
chuyến thăm cấp cao. Văn hoá, giáo dục và các khía cạnh khác
là tốt.
Chỉ có một vấn đề tồn tại. Những gì mà ông đề cập -
đó là đường lưỡi bò. Đường lưỡi bò không có căn cứ
pháp lý. Không hề có nền tảng pháp lý cho đường lưỡi bò.
Cả Trung Quốc và Việt Nam đều là thành viên tham gia công
ước LHQ về luật biển, năm 1982. Công ước này công nhận
vùng đặc quyền kinh tế của một nước gắn với vùng biển.
Và Việt Nam có vùng đặc quyền kinh tế trên biển trong 200
hải lý. Và đường lưỡi bò chạm tới thềm lục địa không
chỉ của Việt Nam, mà còn của Philippines và những nước khác
ở Đông Nam Á. Đó là lý do vì sao nó không phù hợp với Công
ước LHQ về Luật biển - công ước mà Trung Quốc và Việt Nam
đều là thành viên tham gia.
<em><strong>WOODRUFF:</strong> Và vì vậy, dĩ nhiên, ĐNA có thể là
vùng chiến tranh hải quân lớn hơn những nơi khác trên thế
giới bởi vì biển.</em>
<em>Về mối quan hệ với quân sự Mỹ, tôi nghĩ rằng việc
hạn chế ngân sách của nước tôi phần nào đó làm suy giảm
tiền năng quân sự, ông biết đấy, trong làm việc và các
hoạt động ở khu vực gần Việt Nam và chắc chắn là cả
Trung Đông. Nếu Mỹ về phương diện sức mạnh quân sự và
trợ giúp các ông, ông nghĩ sẽ ảnh hưởng thế nào và ông
thấy cần Mỹ thiết lập sức mạnh thế nào, đặc biệt ở
Đông Nam Á?</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Ông biết rằng ở
Biển Đông, có ba phương diện của vấn đề. Tranh chấp lãnh
thổ phải được giải quyết thông qua giải pháp hoà bình của
quốc gia liên quan. Phương diện thứ hai của Biển Đông là sự
ổn định, an ninh trong khu vực. Bất kỳ điều gì xảy ra ở
Biển Đông sẽ ảnh hưởng tới hoà bình và ổn định của
các nước trong khu vực, dĩ nhiên là gián tiếp tới các quốc
gia khác.
Và phương diện nữa từ hàng hải, tự do hàng hải. Vì vậy,
bất cứ điều gì xảy ra ở Biển Đông sẽ ảnh hưởng tới
tự do hàng hải, và dĩ nhiên, ảnh hưởng tới các nước khác,
không chỉ có Mỹ, Nhật hay Ấn Độ...
Vì vậy chúng ta thấy rằng, nỗ lực của các nước trong và
ngoài khu vực là làm cho Biển Đông ổn định. Chúng tôi đánh
giá cao nỗ lực đó.
<em><strong>WOODRUFF:</strong> Tôi biết, ông đã tin tưởng vào vấn
đề này trong một thời gian dài. Giờ đây, ngân sách của
chúng tôi, thực sự là ông biết đấy, khá khó khăn trong hiện
tại, nhưng ngân sách của các ông, cũng như phần lớn ở Đông
Nam Á - ngân sách dành cho quân sự hiện lại gia tăng, và tỉ
lệ nhập khẩu vũ khí gia tăng. Ông thấy Việt Nam đang mua
sắm các loại vũ khí khác trước như thế nào, và nước nào
các ông đang nhập khẩu vũ khí ngoài Nga và chuyện này thay
đổi theo thời gian thế nào?</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Không, trong sự so
sánh về ngân sách chi tiêu cho quân sự, ngân sách của Việt Nam
là rất nhỏ.
<em><strong>WOODRUFF:</strong> Nhỏ nhưng đang gia tăng?</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Rất nhỏ. Nếu ông
so sánh với phần trăm GDP, mà chúng tôi có đủ vũ khí để
bảo vệ đất nước. Đó là mục tiêu duy nhất. Và chắc chắn
ở thời điểm hiện tại, chúng tôi mua vũ khí từ Nga. Đó là
sự thực. Chúng tôi chỉ cần có đủ vũ khí để bảo vệ
đất nước. Đó là mục tiêu của chúng tôi.
<em><strong>WOODRUFF:</strong> Ông biết đấy, tôi từng nói về
sự bành trướng của Trung Quốc, và chúng tôi nhìn vào mọi
nơi từ Brazil tới Angola - Angola, nơi Trung Quốc hiện diện,
để lấy dầu và Brazil, thì nơi Trung Quốc cần nhiều hơn,
lương thực và đậu nành và danh sách các nước ngày càng gia
tăng đáng kể. Với các nước láng giềng ở phía đông nam ở
châu Á, khu vực ảnh hưởng chủ yếu mà Trung Quốc đang cố
gắng gia tăng, phần lớn là vì, khai thác dầu khí và những
tài nguyên tương tự từ các khu vực này trở về nước
họ.</em>
<em>Liệu đó có thể là một lí do giải thích vì sao sẽ có
một cuộc xung đột lớn, rất lớn là bởi vì Trung Quốc gặp
khó khăn khi đưa năng lượng và lương thực về nước của
họ?</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Phân tích việc này
khá khó. Ông biết đấy, các cuộc xung đột - nguyên nhân gây
ra xung đột có thể xuất phát từ nhiều lý do khác nhau, hãy
nói trường hợp cụ thể
<em><strong>WOODRUFF:</strong> Ví dụ về nhập khẩu dầu, qua
đường biển ở Malacca?</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Ở đâu?
<em><strong>WOODRUFF:</strong> Đi qua biển hướng tới Trung Quốc,
phần lớn từ Trung Đông.</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Tôi không có con số
dự trữ dầu ở Biển Đông. Nên tôi không biết tài nguyên
dầu ở Biển Đông có thể ảnh hưởng thế nào, có thể dẫn
tới xung đột thế nào. Điều này khác với tình hình ở Trung
Đông. Trung Đông hoàn toàn là nơi xung đột có thể xuất phát
từ dầu.
<em><strong>WOODRUFF:</strong> Tôi biết, chúng ta sẽ để ngỏ vấn
đề này cho các câu hỏi trong vòng một phút, nhưng còn về
nhân quyền ở Việt Nam? Ông thấy thay đổi thế nào cách đây
10 năm, 20 năm và đặc biệt là quyền tự do tôn giáo?</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Ông nói ông chưa
từng tới Việt Nam phải không?
<em><strong>WOODRUFF:</strong> Chưa, và tôi vẫn đang chờ ông, chờ
lời mời của ông.</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Vâng. Và tôi biết
có những người trong căn phòng này từng ở Việt Nam và đã
thấy nhiều thay đổi ở Việt Nam đặc biệt từ năm 1975 cho
tới nay. Và một điều không thể thay đổi: đó là cam kết
của chúng tôi để bảo vệ nhân quyền ở Việt Nam. Nếu các
bạn nhìn vào những chính sách của Việt Nam, chúng tôi - các
chính sách của chúng tôi luôn luôn tập trung vào cải thiện
mức sống tốt hơn cho người dân, và song song với đó là các
quyền của người dân. Đó là cam kết của chúng tôi.
Tất nhiên, có sự tiếp cận khác nhau về quyền con người. Vì
thế, đó là lý do tại sao hàng năm chúng tôi thực hiện rất
nhiều cuộc đối thoại với các nước khác nhau, trong đó có
Mỹ, về vấn đề nhân quyền.
<em><strong>WOODRUFF:</strong> Như thế nào, thế nào về quan hệ
với người Việt tại hải ngoại? Ông biết đấy, với Mỹ,
chúng tôi rõ ràng có rất nhiều người gốc Việt...</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Như tôi đề cập,
đó là sự tiếp cận khác nhau của chương trình nghị sự về
nhân quyền. Ngày nay, rất nhiều người Việt Nam, mà ông gọi
là "người Việt ở nước ngoài" đã trở về Việt Nam thăm
viếng bạn bè, gia đình, hay làm ăn. Và dĩ nhiên, một phần
của cộng đồng ấy vẫn chưa trở lại Việt Nam, vì họ biết
chúng tôi có một cuộc chiến ở Việt Nam. Và vẫn tồn tại
những hiểu lầm, thậm chí là thù hận. Đó có thể là lý do
vì sao một số người vẫn chưa hồi hương, nhưng chúng tôi,
chúng tôi hoan nghênh tất cả họ trở lại (nghe không rõ).
Chúng tôi luôn mở rộng cửa.
<em><strong>WOODRUFF:</strong> Cuối cùng, chúng ta hãy nói, chắc
chắn về sự tăng trưởng kinh tế và những gì ông đã đề
cập, ông vẫn xem Việt Nam là một nước cộng sản, nước tư
bản chủ nghĩa hay sự cân bằng giữa hai bên, khác biệt hẳn
so với trước?</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> (Cười) Chúng tôi có
- chúng tôi có đảng - Đảng Cộng sản. Như tôi đề cập trong
bài phát biểu, chúng tôi vừa mới tiến hành Đại hội đảng
toàn quốc lần thứ 11. Và chúng tôi thông qua - thứ ông gọi
là kinh tế thị trường - vì nó phù hợp với sự phát triển
của Việt Nam. Nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục là một nước
cộng sản. Như cái tên gọi của Việt Nam - Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam.
<em><strong>WOODRUFF:</strong> Dứt khoát là tên như vậy rồi.</em>
<em>Cám ơn ông rất nhiều. Bây giờ dành cho các câu hỏi
khác.</em>
<em><strong>Larry Pressler:</strong> Việt Nam dường như đang vướng
mắc giữa một nền kinh tế nhà nước và kinh doanh tự do. Và
ví dụ, trong các thoả thuận tự do thương mại và đầu tư -
tôi làm việc trong một ban điều hành tại Quỹ Việt Nam, và
chúng tôi thấy có nhiều khó khăn trong đầu tư, hay giải
quyết với thị trường chứng khoán hoặc sự minh bạch. Tôi
không có ý định chỉ trích, nhưng các ông đang có nền kinh
tế nhà nước hay sẽ chào mời nhiều hơn đầu tư nước
ngoài?</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Cám ơn câu hỏi của
bạn. Và bạn biết đấy, giờ đây ở Việt Nam, chúng tôi có
thị trường chứng khoán, cũng có các công ty tư nhân và dĩ
nhiên chúng tôi có các công ty nhà nước. Và hiện tại chính
phủ có chính sách mà các bạn gọi là cổ phần hoá doanh
nghiệp nhà nước. Vì thế, nhìn vào đó, bạn thấy chúng tôi
có - vẫn có công ty nhà nước, tư nhân - 100% vốn nước ngoài,
công ty nước ngoài, liên doanh... Nên bạn có thể thấy sự
đầu tư hỗn hợp ở Việt Nam.
Và tất nhiên, chúng tôi chào đón mọi loại hình đầu tư ở
Việt Nam. Chúng tôi đối xử công bằng với đầu tư bên ngoài
cũng như nội địa. Chúng tôi công bằng, dành những điều
kiện thuận lợi cho tất cả các nhà đầu tư nước ngoài cũng
như trong nước. Chúng tôi có luật quy định điều đó.
<em><strong>Ken Roth đến từ Human Rights Watch:</strong> Tôi muốn
hỏi về vấn đề nhân quyền vì tôi nghe ông trả lời về
phát triển kinh tế, dĩ nhiên, đó là phần quan trọng, nhưng
tôi chưa nghe thấy các phần khác...</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Bạn biết rằng
Việt Nam là thành viên tham gia gần như tất cả công ước về
quyền con người. Và giống như Mỹ, chúng tôi cũng là thành
viên của - các bạn gọi là - Tuyên ngôn Toàn cầu về Nhân
quyền.
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Và chúng tôi tôn
trọng các đặc thù và tính phổ quát của nhân quyền. Cả các
quyền kinh tế, chính trị - đều ghi rõ trong hiến pháp của
Việt Nam.
Như bạn đề cập, một số cá nhân, vâng, như bất kỳ quốc
gia nào - nếu ai đó vi phạm hiến pháp, luật pháp, họ sẽ bị
xử lý theo đúng pháp luật.
Tôi nhớ cách đây ít năm, ví dụ chúng tôi đã có cuộc đối
thoại với Anh. Và họ nói vì sao chúng tôi kiểm soát - một
số kiểu biểu tình. Nhưng hãy nhìn vào Anh, đúng không nào? Ít
tuần hay ít tháng trước, họ đã thông qua - tôi không rõ quy
định hay điều gì đó - kiểm soát biểu tình sau những hỗn
loạn tại London hoặc điều tương tự. Vì thế, nếu có một
số quan ngại về an ninh, bạn phải thông qua các biện pháp.
Đó là điều bình thường. Nhưng chúng tôi tôn trọng nhân
quyền trong mọi lĩnh vực vì chúng tôi là thành viên của mọi
công ước nhân quyền.
<em><strong>Dinah PoKempner, từ Human Rights Watch:</strong> Tiếp tục
câu hỏi này, trong khi Việt Nam đã có có hồ sơ rất tốt về
việc ký kết các hiệp ước nhân quyền, thì lại có hồ sơ
kém thuyết phục hơn về sự Bộ trưởng Minh bạch trong việc
chấp thuận cơ chế nhân quyền LHQ hoặc các nhóm quốc tế
tới thăm. Ví dụ gần đây có cuộc tranh cãi, về khả năng
xuất khẩu một số sản phẩm từ sự cưỡng ép lao động. Và
tôi tự hỏi, kể từ khi Việt Nam có vai trò ngày càng nổi
bật trong các vấn đề quốc tế và ngoại giao, thì liệu có
sẽ bắt đầu trở nên mnh bạch hơn, và hoan nghênh các cơ chế
nhân quyền?</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Tôi không có thông
tin chính xác về điều đó. Chúng tôi hoan nghênh các chuyến
thăm.
<em><strong>Brett Dakin, thành viên tại hội đồng:</strong> Tôi
muốn thu hút sự chú ý sang tầm quan trọng của sông Mekong và
khu vực, và cụ thể là, một số tranh cãi khác thường gần
đây giữa Việt Nam và Lào về việc sử dụng sông Mekong cho
phát triển thuỷ điện. Nếu ông có thể bình luận về cách
tiếp cận của Việt Nam về vấn đề này, đặc biệt là về
dự án của Lào có thể theo đuổi để khai thác Mekong sản
xuất điện. Cám ơn ông.</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Cám ơn. Tôi sẽ
không mô tả nó là cuộc tranh chấp giữa Việt Nam và Lào. Bạn
biết đấy, dọc theo Mekong có sáu quốc gia. Chúng tôi có uỷ
ban - Uỷ hội Mekong kết hợp bốn nước liên quan. Lào, Thái
Lan, Campuchia và Việt Nam đều là thành viên uỷ hội. Và trong
uỷ hội, chúng tôi thoả thuận rằng, bất kỳ nước nào phát
triển thuỷ điện, ở dòng chính Mekong, phải thông tin cho các
thành viên khác trong uỷ hội về dự án, về việc sử dụng
cũng như chi tiết dự án.
Dĩ nhiên, thượng nguồn còn có hai nước khác. Họ phát triển
rất nhiều dự án dọc theo dòng chính, nhưng họ không thông tin
cho chúng tôi. Họ vẫn thiếte lập các dự án thượng nguồn.
Với Lào, Lào có ý định phát triển các dự án dọc theo sông
Mekong. Khi chúng tôi biết, khi Lào thông tin với uỷ hội Mekong
về dự án, các thành viên của uỷ hội, Việt Nam và những
nước khác, đã đề nghị Lào cung cấp chi tiết dự án. Đồng
thời, chúng tôi đề nghị nghiên cứu, nghiên cứu khoa học
để đảm bảo rằng, dự án nếu ảnh hưởng - tới những gì
mà bạn gọi là thay đổi dòng chính - dòng chảy - sẽ ảnh
hưởng tới nước hạ nguồn Mekong như Việt Nam và Campuchia -
vì nó sẽ ảnh hưởng tới khu vực sản xuất lúa gạo ở
Việt Nam.
Và giờ đấy, quá trình này là chúng tôi yêu cầu Lào cung cấp
chi tiết cho chúng tôi một cách khoa học về dự án. Và Lào
đã thuê một công ty, công ty Thuỵ Sĩ, tiến hành cái mà bạn
gọi là -
<em><strong>Người hỏi:</strong> Công ty tư vấn?</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Công ty tư vấn sẽ
tiến hành nghiên cứu việc sử dụng - trên đập Xayaburi. Và
họ sẽ thông tin cho chúng tôi với sự trợ giúp của nghiên
cứu này.
<em><strong>Elizabeth Bramwell từ Bramwell Capital:</strong> Tỉ lệ
tăng trưởng 7-8% của các ông rất ấn tượng. Và tôi tự
hỏi, nếu nó bền vững, trong thực tế là châu Âu và Mỹ đang
phát triển chậm lại, như 2% hay ít hơn; thì Việt Nam sẽ dịch
chuyển thế nào từ một thị trường xuất khẩu, nền kinh tế
hướng xuất khẩu sang một nền kinh tế hướng nội địa
nhiều hơn, hoặc hướng ASEAN.</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Cám ơn câu hỏi của
bạn. Như tôi đề cập, chúng tôi duy trì tỉ lệ tăng trưởng
- bạn biết đấy, trong 10 năm với tỉ lệ 7-8%. Và giờ đây,
tỉ lệ đăng ký là 5.5%. Nền kinh tê của chúng tôi phụ thuộc
rất nhiều vào xuất khẩu, chắc chắn như vậy. Và đó là lý
do vì sao chúng tôi phụ thuộc vào thị trường bên ngoài. Nếu
nhu cầu giảm sút, như ở Mỹ nếu bạn không chi tiêu nhiều,
thì sẽ khó khăn cho chúng tôi. Và hiện chính phủ đang tái cơ
cấu nền kinh tế. Đó là một vấn đề. Chúng tôi vẫn tiếp
tục tái cơ cấu kinh tế.
<em><strong>Người hỏi (không nghe rõ tên):</strong> Tôi làm việc
tại Quỹ LHQ, và là thành viên hội đồng. Cám ơn ông đã có
mặt ở đây.</em>
<em>Tôi nghĩ một số người đã rất ủng hộ để Việt Nam
giữ vai trò lớn hơn trên thế giới, đặc biệt với tư cách
thành viên Hội đồng Bảo an. Và tôi nghĩ nhiều người đã
thấy rằng, đi kèm với nó là trách nhiệm lớn hơn trên thế
giới. Và tôi biết cùng lúc đó, có những người thất vọng -
tiếp theo câu hỏi của Ken Roth - về đảm bảo các quyền tự
do tôn giáo.</em>
<em>Liệu có sự sửa đổi điều luật cho phép người dân có
thể hoạt động tôn giáo tự do, và phù hợp với trách nhiệm
lớn hơn của Việt Nam trên thế giới?</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Hãy tới Việt Nam và
nhìn nhà thờ vào Chủ nhật. Thậm chí tôi không thể vào nhà
thờ ngày Chủ nhật hay đêm giáng sinh. Nó quá đông đúc. Vì
thế, tôi không thấy bất kỳ điều gì, bạn biết đấy, kiểu
như phân biệt chống lại hoạt động tôn giáo ở Việt Nam.
Hãy tới thăm chúng tôi.
<em><strong>Jeff Laurenti từ Quỹ Century:</strong> Có chút gì đó
tiếp theo câu hỏi của Ken Roth và về quyền kinh tế. Doanh
nghiệp Trung Quốc lo lắng rằng, nhân công giá rẻ của Việt
Nam đang thu hút kinh doanh và đầu tư. Các công ty may mặc xem
Việt Nam là nơi lý tưởng vì không gặp phiền nhiễu với
nghiệp đoàn, chi phí nhân công thấp và lực lượng lao động
thuần tính.</em>
<em>Việt Nam có sự bảo vệ cho quyền người lao động thế
nào để họ có thể tổ chức nghiệp đoàn, hay nghiệp đoàn
hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của chính phủ? Ông nói
thế nào về việc tuân thủ từ Tổ chức Công nhân Quốc tế
(ILO) về sự tuân thủ các công ước quốc tế về quyền của
người lao động?</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Vâng, cám ơn bạn.
Ở Việt Nam, chúng tôi có công đoàn, các bạn có thể gọi là
công đoàn hay nghiệp đoàn. Và công nhân là thành viên của
công đoàn. Tôi nghĩ trong các nhà máy đầu tư nước ngoài cũng
như vậy, có công đoàn ở đó.
Chúng tôi khuyến khích, bạn biết đấy, người lao động có
thể nhận lương cao, thu nhập cao. Tôi không thấy bất kỳ hạn
chế nào về giá nhân công ở Việt Nam.
<em><strong>George Weiksner từ Credit Suisse:</strong> Tôi muốn chúc
mừng ông về việc bình thường hoá quan hệ với Mỹ. Tôi
muốn ông có thể có lời khuyên cho Cuba, nước đang cố gắng
bình thường hoá quan hệ, từ thành công của ông.</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Đó là câu hỏi khó,
vì mỗi nước có những đặc điểm và nền tảng lịch sử
khác nhau. Nên lời khuyên của chúng tôi có thể là kiên nhẫn
(cười). Chúng tôi có 20 năm sau 1975 đến 1995, 20 năm cho các
cuộc thảo luận bình thường hoá. Thời gian ấy đủ dài cho
sự kiên nhẫn, và bạn biết đấy, cả hai bên đều quan tâm
tới bình thường hoá quan hệ.
<em><strong>Richard Haass:</strong> Tôi hiếm khi đặt ra câu hỏi.
Tôi đang phá vỡ quy tắc của tôi. Tôi là Richard Haass làm việc
ở đây.</em>
<em>Ông nói một số điều rất thú vị trong phát biểu của
ông. Ông nói cuộc gặp của ông với ngoại trưởng, đã thảo
luận về khả năng một quan hệ đối tác chiến lược giữa
Mỹ và nước ông. Nên tôi tò mò về nội dung của quan hệ
đối tác ấy. Ông muốn thấy gì trong quan hệ của chúng ta ở
tương lai mà ông không thấy hiện tại? Và với mức độ nào
trước sự trỗi dậy của Trung Quốc hoặc điều gì đó thêm
vào?</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Tôi cũng rất tò mò
về nội dung (cười) của quan hệ đối tác chiến lược, vì
chúng tôi hiện vẫn đang thảo luận những gì thuộc phạm vi
của mối quan hệ ấy. Dĩ nhiên, chúng tôi tập trung ở mọi
khía cạnh, vì là một quan hệ đối tác chiến lược, chúng
tôi tin rằng nó sẽ bao trùm mọi quan hệ chính trị, kinh tế,
giáo dục, quốc phòng, an ninh, công nghệ... tất cả các lĩnh
vực ấy đều bao gồm trong quan hệ đối tác chiến lược, như
mối quan hệ đối tác chiến lược chúng tôi đã thiết lập
với các nước khác. Và dĩ nhiên chúng tôi có - hiện tại
chúng tôi có sáu hoặc bảy quan hệ đối tác chiến lược, và
không ai chống lại ai. Nên rõ ràng là, với quan hệ đối tác
chiến lược, chúng tôi muốn thúc đẩy quan hệ giữa hai nước
đồng thời góp phần cho hoà bình và ổn định trong khu vực.
Tôi tin là vậy.
<em><strong>Jim Harmon:</strong> 11, 12 năm trước, tôi là chủ tịch
Ex-Im Bank, và chúng tôi trở lại Việt Nam. Thời điểm đó,
chúng tôi nghĩ rất nhiều về việc bình thường hoá hơn nữa
quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam, sau đó chúng tôi mong rằng, các
doanh nghiệp nhà nước về tỉ lệ vốn và sản xuất sẽ giảm
đáng kể ở Việt Nam.</em>
<em>Ngày nay, tôi điều hành một quỹ đầu tư vào thế giới
đang phát triển, trong đó có Việt Nam và tôi có chút nản lòng
vì thực thế rằng, doanh nghiệp nhà nước vẫn tiêu thụ
khoảng 50% nguồn vốn quốc gia nhưng lại sản xuất 25% hoặc
đại diện cho 25% sản lượng. Và khi ông suy nghĩ về tái cơ
cấu kinh tế - và tôi biết rằng ông có thể làm điều đó -
ông sẽ tập trung vào tư nhân hoá hơn và có thể thậm chí
hạn chế các nhà đầu tư nước ngoài không được vượt quá
50% số lượng các công ty công hữu.</em>
<em>Vì vậy, có những điều ông có thể làm nhằm khuyến khích
đầu tư ở Việt Nam không chỉ từ Mỹ mà từ khắp nơi trên
thế giới. Và chính vì thế, tôi nghĩ nó cũng góp phần nào
với giải quyết lạm phát.</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Vâng, như tôi đề
cập rằng, giờ đây chính phủ đang nỗ lực tái cơ cấu kinh
tế (rong đó dĩ nhiên, có các doanh nghiệp nhà nước. Chúng tôi
có kế hoạch giảm bớt doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là
doanh nghiệp không có hiệu quả. Với các doanh nghiệp nhà
nước vẫn hiệu quả, chúng tôi tiếp tục giữ lại và duy trì
vì chúng có thể đóng góp cho tăng trưởng kinh tế của Việt
Nam.
Và như tôi đã nói, chúng tôi hoan nghênh mọi loại hình đầu
tư ở Việt Nam. Không có sự phân biệt nào giữa doanh nghiệp
nhà nước hay công ty nước ngoài. Có một sân chơi bình đẳng
cho tất cả các doanh nghiệp ở Việt Nam, cho mọi loại hình
đầu tư nước ngoài. Không biết liệu câu trả lời của tôi
đã phù hợp với câu hỏi của bạn hay chưa.
<em><strong>WOODRUFF:</strong> Cám ơn rất nhiều. Hãy giúp tôi tới
nước của ông sớm nhất có thể với lũ trẻ của tôi, chúng
cũng muốn đi (cười).</em>
<strong>Bộ trưởng Phạm Bình Minh:</strong> Cám ơn, Bob.
Cám ơn tất cả các bạn.
<em><strong>Nguyễn Huy (dịch từ website của CFR)</strong></em>
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10230), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét