con mắt của một số trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX</h2>
Đằng sau câu chuyện về tính ưa dùng hàng ngoại, thật
ra có ẩn dấu những vấn đề lớn lao của mối quan hệ giữa
cộng đồng người Việt mình với các cộng đồng mà chúng ta
có tiếp xúc trong suốt trường kỳ lịch sử.
Trong các công trình nghiên cứu văn hóa của một quốc
gia, thường người ta không quên để riêng một phần nói về
lịch sử giao lưu văn hóa của nước chủ nhà với các nước
khác, các nền văn hóa khác.
Nhu cầu tự nhận thức buộc người ta phải làm vậy.
Không một dân tộc nào chỉ sống khép kín mà không
quan hệ với các cộng đồng khác.
Tối thiểu thì trong mối quan hệ này, các dân tộc sẽ
học hỏi để ngày mỗi trở nên mạnh mẽ hơn giàu có hơn.
Còn nói cho to tát ra thì đây chính là chỉ số đánh
dấu trình độ trưởng thành của mỗi dân tộc với tư cách
một bộ phận của nhân loại.
Trong quá trình này, ý thức về ta và người nẩy sinh,
nó cũng là một khía cạnh làm nên tâm thế làm người, một
hằng số lặp đi lặp lại ở nhiều thế hệ.
Hiện trong các công trình nghiên cứu về văn hóa VN,
vấn đề này gần như chưa được đặt ra.
Song ở dạng những nhận xét tạt ngang, nó đã được
các nhà trí thức các nhà hoạt động văn hóa trong quá khứ
quan tâm và phát biểu đây đó.
Mấy năm trước chúng tôi đã trích lục một số ý kiến
này để đưa vào mục Người xưa cảnh tỉnh, in rải rác trên
mặt báo.
Nay xin hệ thống hóa lại và giới thiệu chúng theo trình
tự thời gian mà các tác giả đã phát biểu. Các đầu đề
nhỏ là do người biên soạn đặt.
<h2>Sống như mơ ngủ</h2>
Nước ta từ ngày Pháp sang bảo hộ trên mấy mươi năm,
người mình học Tây học chỉ làm được việc phiên dịch nói
phô mà thôi, không có ai hấp thu được chỗ tinh tuý, phăn
(phanh) tìm đến nơi màu nhiệm về mà đào tạo ra học trò
để làm việc vẻ vang cho nòi giống. Trái lại, bụng không
một hạt gạo mà nói chuyện thi thư (1), tay không nửa đồng
mà tự xưng Khổng Mạnh. Có lẽ da thịt huyết tuỷ của
người nước mình mấy ngàn năm nay đã bị cái hấp lực của
huyết dẫn người Tàu chi phối hết cả, nên ngày nay đành làm
nộm rối cho người Tàu mà không tự biết chăng? Không thế
thì sao lửa đốt bên da mà không biết nóng, sét đánh ngang
trán mà không biết sợ, thày hay bạn giỏi ở một bên mà
không biết gắng sức bắt chước bước theo. Thậm nữa trằn
trọc tráo trở, một hai toan tìm một nước thứ ba nào yêu
thương mình mà vui lòng làm tôi làm tớ.
Hiện trong lúc ngủ say mới tỉnh, xu hướng chưa định, học
mới học cũ ngả đường phân chia công hội thương hội
chương trình chưa nên, thành hiện ra một cái quái tượng,
đầy nhà rối rít ồn ào, chưa giải quyết vội được.
(1) Nghĩa gốc: Kinh Thi và Kinh Thư. Ở đây chỉ việc học
hành ở trình độ cao
<div class="rightalign"><strong><em>Phan Châu Trinh</em></strong>
<em>Hiện trạng vấn đề, 1907</em></div>
<h2>Tuỳ tiện cẩu thả trong giao lưu tiếp xúc</h2>
Xét nước ta các đời thụ phong Trung quốc chỉ là chính
sách ngoại giao cho nên coi là trò chơi, không coi là vẻ vang.
Kẻ lấy Trung quốc làm ỷ lại, ắt là vào thời cuối (1): vua
nhác, tôi nịnh, binh bị không sửa sang, coi họ như cha mà quên
điều nanh ác. Thời cuối các đời Trần, Lê đều có, mà
triều ta (2) lại càng nhiều.
Sứ thần ngày xưa làm nhục được người Trung quốc coi
như vinh dự. Những kẻ đi việc sứ đời sau lấy việc được
một bài thơ, bài văn, một lời than tiếng cười của sĩ phu
Trung quốc trở về để khoe khoang với bạn bè làm vẻ vang.
Mặt này lại là một điều suy sút của sĩ phu nước ta.
(1) tức giai đoạn suy tàn của một triều đại
(2) triều ta đây tức là nhà Nguyễn
<div class="rightalign"><em><strong>Phan Châu Trinh</strong>
Nước Việt Nam mới sau khi Pháp Việt liên hiệp, 1912</em></div>
<h2>Sang đến xứ người cũng không biết đường học hỏi </h2>
Người nước ta thường tự xưng là đồng loại, đồng
đạo, đồng văn (1) với Nhật Bản, thấy họ tiến thì nức
nở khen, chứ không khi nào chịu xét vì sao họ được tiến
tới như thế ? Họ chỉ đóng tàu đúc súng mà được giàu
mạnh hay họ còn trau dồi đạo đức sửa đổi luân lý mới
được như ngày nay?
Tôi rất lấy làm lạ cho những người đã qua Nhật về,
không đem cái hay cái tốt về cho dân nhờ mà chỉ làm giàu
thêm tính nô lệ!
Hay là người mình như kẻ đã hư phổi rồi cho nên một
nơi có thanh khí như nước Nhật mà cũng không thở nổi chăng?!
Lấy lịch sử mà nói thì dân tộc Việt Nam không phải
là không thông minh, thế thì vì lẽ nào ở dưới quyền bảo
hộ hơn 60 năm nay (2) mà vẫn còn mê mê muội muội bịt mắt
vít tai không chịu xem xét không chịu học hỏi lấy cái hay
cái khéo của người.
(1) cùng theo đạo Khổng cùng sử dụng chữ Hán
(2) tính tới thời điểm tác giả nói trong bài này, nước
Pháp mới đô hộ nước ta 60 năm
<div class="rightalign"><em><strong>Phan Châu Trinh</strong>
Đạo đức và luân lý Đông Tây, 1925</em></div>
<h2>Dễ ỷ lại</h2>
Tục ngữ có câu rằng Tháp đổ đã có Ngô xây – Việc gì
vợ goá lo ngày lo đêm. Tháp đó là tháp của ta, ta không xây
được hay sao? Nghểnh đầu nghểnh cổ trông ngóng, nếu Ngô
không sang thì vạn tuế thiên thu chắc không bao giờ có tháp.
Tháp đổ mặc tháp, khoanh tay đứng dòm, nghiễm nhiên một
đống bồ nhìn rồi hẳn. Hỏi vì cơn cớ làm sao? Thì chỉ vì
ỷ lại.
<div class="rightalign"><em><strong>Phan Bội Châu</strong>
Cao đẳng quốc dân,1928</em></div>
<h2>Thạo sử người hơn sử mình</h2>
Sĩ tử khắp nước ta làu thông kinh sách mà không biết
đất đai của nước ta và nòi giống dân ta như thế nào.
Họ chỉ biết Hán Cao Tổ, Đường Thái Tông mà không
biết Đinh Tiên Hoàng, Lê Thái Tổ ra làm sao.
Họ chỉ biết Khổng Minh, Địch Nhân Kiệt, mà không
biết các bề tôi Tô Hiến Thành, Trần Quốc Tuấn thờ vua giúp
nước như thế nào.
Họ chỉ biết núi Thái Sơn cao chót vót, sông Hoàng Hà cao
thăm thẳm, nhưng không hề hay biết núi Tản Viên từ đâu
tới, sông Cửu Long ở Nam Kỳ phát nguyên từ nơi nào.
Ưa chuộng phong tục nước ngoài cho nên bao nhiêu nghi lễ
về quan hôn tang tế (1), chúng ta đều bắt chước người Trung
Hoa cả.
Người nước ta lại còn lấy kỹ nghệ nước ngoài làm
ưa thích. Đã không chịu học hỏi cách biến chế, óc sáng
kiến của họ, mà lại đi tiêu thụ hàng hoá giúp cho họ. Đa
số những vật liệu như đồ sứ hàng tơ lụa, hàng thêu, hàng
đoạn (2)…, chúng ta đều đi mua sắm từ bên Trung quốc về
dùng. Rồi dần dà lâu ngày, linh hồn của dân ta tự nhiên bị
đổi dời, trí não của dân ta tự nhiên bị bưng bít mà ta
không hề biết, chỉ vì cái cớ chúng ta chuyên trọng Bắc sử
(3) mà thôi.
(1) Các việc thuộc về đình đám, ma chay, cưới xin v..v..
(2) Hàng dệt bằng tơ, mặt bóng mịn
(3) Tức lịch sử Trung Hoa
<div class="rightalign"><em> <strong>Hoàng Cao Khải</strong>
Việt sử yếu, 1914</em></div>
<h2>Học đòi làm dáng một cách sống sượng</h2>
Cứ chiều đến, độ sáu bảy giờ, đứng ở góc hồ
Hoàn Kiếm, trông kẻ đi qua người đi lại, thấy ngứa mắt
quá. Nhất là trông mấy ông ăn mặc quần áo Tây. Gớm sao mà
khéo bắt chước, giá sử sự học hành, sự buôn bán mà cũng
bắt chước được khéo thế thì hay quá! Ông cổ cồn trắng,
cổ nút xanh, nút đỏ, đầu thì mũ cỏ, tay thì ba toong, giày
thì bóng nhoáng, hai ngón tay thì khéo gẩy gẩy cái nách áo
gi-lê. Ông ngồi xe thực khéo lấy dáng. Ngày xưa cái ô lục
soạn, cái điếu thuốc lá bọt. Nay những cái ấy đã cho là
đồ cũ rồi. Cái xe Nhật Bản bây giờ cũng bỏ. Bây giờ có
xe cao su, êm hơn mà ngồi ưỡn ra bệ vệ hơn nhiều. Tay cầm
quyển sách hay là cái nhật trình (1), mắt giả lờ trông thì
lại ra tuồng (2) nữa.
Em (3) thực là người hiếu (4) sự duy tân. Cách ăn mặc An
Nam đội cái khăn bằng cái rế, búi tóc như quả bưởi, áo
lướt tha lướt thướt, giày lẹp cà lẹp kẹp, móng tay gãi
đầu như người rũ chiếu, thì cũng bẩn lắm thực. Em cũng
muốn rằng người An Nam ăn mặc cho gọn gàng sạch sẽ diện
mạo tinh nhanh, nhưng mà thấy những trò sài sơn (5) của các
ông cũng ngứa mắt lắm.
(1) báo ra hàng ngày
(2) trông có vẻ phường tuồng
(3) bài này in trong mục Nhời đàn bà của Đăng cổ tùng báo,
ký Đào Thị Loan nên tác giả xưng em
(4) ưa thích
(5) chúng tôi chưa tra cứu được chỉ đóan là làm dáng ăn
diện
<div class="rightalign"><em><strong>Nguyễn Văn Vĩnh</strong>
Đăng cổ tùng báo, 1907</em></div>
<h2>Thị hiếu tầm thường</h2>
Cái lý thú của nước Nam ta nhỏ mọn lắm.
Kìa cái đồng hồ từ tám mươi đời thì quấn vải tây
điều, kết quả găng. Nọ núi non bộ khéo chắp tỉ mỉ trong
trồng cây uốn con phượng. Cầu quán con con, thuyền bé lí tí.
Câu đối với tranh thì hết tứ thời phong cảnh lại đến
thiên lý giang sơn.
Thi hoạ nhỏ nhen, thi chẳng ra thi hoạ chẳng ra hoạ.
Giang sơn treo cửa sổ, sơn thuỷ để đầu giường. Hoành phi
câu đối thì chữ nghĩa đẹp phẩy mác hơn đẹp ý tình (1).
Đồ chạm đồ cẩn thì tỉ mỉ con dơi già quả mướp non,
người ngoại quốc mua cho cũng là thương công hơn trọng khéo.
Ghế giường bàn tủ dáng dấp nặng nề.
Nói tóm lại thì người Nam mình chưa cái gì là cái khéo. Mà
càng bắt chước Tây bắt chước Tàu bao nhiêu, càng xấu bấy
nhiêu.
Người mỗi ngày một hay, vi xảo là thông ngôn ông Tạo hoá
(2). Ta mỗi ngày một đổ (3), vi xảo là cơn hứng chí điên
cuồng. Học chẳng phải mà bắt chước chẳng phải.
Xảo nghệ muốn noi theo ngoại quốc, là phải noi lý tưởng
chớ không nên bắt chước phù hoa. Kẻo mà khéo thêm ra chẳng
thấy đâu, lại đang nghề nguyên lành hoá nghề lang lố (4).
(1) phẩy mác là tên gọi các nét trong chữ Hán.
(2) vi xảo: sự kỹ lưỡng khéo léo; cả câu ý nói sự hoàn
chỉnh của sản vật đạt đến mức như là tự nhiên sinh ra
đã vậy.
(3) kém đi, hỏng đi
(4) Nghĩa như nhố nhăng
<div class="rightalign"><em> <strong>Nguyễn Văn Vĩnh</strong>
Đăng cổ tùng báo, 1907</em></div>
<h2>Vay mượn tuỳ tiện thêm thắt lung tung </h2>
Ngày nay có cải lương (1) gì, thì chỉ sợ rằng trái
đạo lý cũ của mình.
Đạo lý cũ của mình là thế nào có ai biết đâu? Con
khóc cha mà cúng phải tìm trong Thọ mai gia lễ hay là Văn công
gia lễ, xem ngày xưa ở bên Tàu các ông ấy khóc cha ra làm sao,
thì cứ thế mà khóc.
Gián hoặc (2) trong hai cách có điều gì khác nhau thì
cũng biết vậy, lúc túng việc thì vớ được quyển nào theo
quyển ấy. Gọi là cho nó theo một lệ nào đó, thì là nhà văn
phép.
Trong cả các trò chơi, như hát tuồng, hát chèo cũng hay
bắt chước những cách vô lý.
Tấn tuồng thì lấy trong các sự tích của Tàu, mà lúc
ra hát thì quên cả đến thời đến xứ (3). Cứ nhân chỗ nào
hát được mấy câu nam thì nam (4) cho mấy câu. Chỗ nào có
dịp khôi hài thì khôi hài. Thấy người xem có mấy người dễ
cười, thì làm mãi.
(1) cũng tức là cải cách
(2) thỉnh thoảng, giá như
(3) thời ở đây tức niên đại thời gian, xứ tức
hoàn cảnh không gian
(4) nam: vốn được hiểu là những gì mang tính cách
thuần Việt. Đọc chệch thành nôm. Chữ nam thứ hai thì dùng
như một động từ
<div class="rightalign"><em><strong>Nguyễn Văn Vĩnh</strong>
Tật huyền hồ sáo hủ, Đông dương tạp chí, 1913</em></div>
<h2>Học không biết cách</h2>
Về đạo cương thường cứ nói rằng ta thâm nhiễm (1)
của Tàu nhiều lắm rồi, nhưng tôi xét ra chưa có điều gì
gọi là thâm nhiễm cả.
Trong hết cả số người theo Nho học thì hoạ là có
mấy ông vào bực giỏi, hiểu biết được đạo Khổng Mạnh.
Còn những bực nhoàng nhoàng thì thường cứ thấy người ta
học cũng học, học cho thuộc cách mà thôi, chứ không có
định trong bụng rằng theo những điều nào, kháp (2) đạo ấy
vào tính tình riêng của người nước mình nó ra sao...
Vua Gia Long bỏ luật Hồng Đức (3) đi, mà làm ra cả
một pho luật mới chép tuốt cả của Tàu, cả từ điều
nước mình có, cho đến những điều mình không có, cũng bắt
chước. Thành ra luật pháp cũng hồ đồ. Cương thường đạo
lý toàn là giả dối hết cả, không có điều gì là có kinh có
điển.
(1) ảnh hưởng sâu sắc
(2) tức khớp, ghép lại cho khít, cho phù hợp
(3) bộ luật cổ của nước ta có từ thời Lê, tham
khảo nhiều từ bộ luật của đời Đường
<div class="rightalign"><em><strong>Nguyễn Văn Vĩnh</strong>
Đông dương tạp chí, 1913</em></div>
<h2>Học đòi vặt vãnh bỏ qua chuyện lớn</h2>
Quái lạ cho người đời, hễ ai bảo cải lương lối nhà
cửa ở, hay là cải lương ách ăn mặc bắt chước theo lối Âu
Tây, thời đua nhau như vịt; còn nhỡ ai khuyên bảo nên cải
lương những thói xấu nết hư -- chốn hương thôn không nên
tranh giành kiện tụng nhau, ở với bè bạn thời phải giữ
lòng trung tín -- thời dẫu nói rát cổ bỏng họng cũng chỉ
lờ đi, chớ không thèm nghe.
<div class="rightalign"><em><strong>Nguyễn Bá
Học</strong>
Di ngôn, do Nguyễn Bá Trác thuật, Nam Phong, 1921</em></div>
<h2>Nặng tính hiếu kỳ</h2>
Cái tính hiếu kỳ là cái bệnh chung trong lối học của
ta, xưa kia học chữ Tàu, đọc sách Tàu, lâu dần quá mê
chuộng mà khinh rẻ những cái của mình.
Cái gì của Tàu cũng cho là hơn mà chịu khó nghiên cứu,
cái gì của mình cũng cho là dở là kém không thèm nhìn tới.
Thành ra núi sông đình miếu nước Tàu thì biết mà
núi sông đình miếu nước mình thời không hay; danh lam thắng
tích bên Tàu thì rõ mà danh lam thắng tích nước mình thì không
tường; lịch sử địa dư nước Tàu thì thiệp liệp (1), mà
lịch sử địa dư nước mình thời mịt mù; phong tục nhân
vật nước Tàu thời tường tất mà phong tục nhân vật nước
mình thời tối tăm.
Mà có phải mình thiếu gì cái đẹp cái hay, cái đáng
ngắm …
(1) cũng có hiểu ít nhiều
<div class="rightalign"><em><strong>Dương Quảng
Hàm</strong>
Học sao cho phải đường, Hữu thanh, 1921</em></div>
<h2>Không có can đảm là mình</h2>
Ông Dorgelès trong quyển Con đường cái quan có nói đến
thói hay bắt chước của người mình. Đại khái ông nói rằng:
"Ngày xưa người Tàu sang cai trị An Nam, người An Nam đều
nhất nhất theo Tàu cả. Nay người Pháp sang bảo hộ mới
được gần một trăm năm mà nhà cửa đã theo Tây thời rất
dễ dàng, mà nói đến tiếng An Nam thời khô khan, hình như
phải dịch tiếng mình ra tiếng nước ngoài.
... Khoa học có nói rằng giống thằn lằn hễ bám vào cây
nào thì lâu dần sẽ giống da cây ấy. Ở bên An Nam này thời
không thế, thằn lằn không đổi màu da mà chính cây đổi màu
da để lấy màu da thằn lằn."
Câu nói đau đớn thay mà xét người ta nói cũng phải.
Người viết văn phải có can đảm mà dịch những chữ
nước ngoài ra. Mới đầu có hơi ngang tai, sau dần rồi cũng
nghe được. Cụ Nguyễn Du không can đảm sao dịch nổi chữ tang
thương ra chữ bể dâu, chữ thiết diện ra chữ mặt sắt (1)...
Mà cũng lạ thay cho người mình không suy xét kỹ: Người
Tàu nói chữ vân cẩu tang thương có khác gì chữ mây chó chữ
bể dâu không. Ấy thế mà giá mình nói "Bức tranh mây chó
vẽ người bể dâu" (2) tất phần nhiều người cho là mách
qué!
Người Tàu trước kia làm gì có những tiếng cộng hoà,
cách mạng, cá nhân, vật lý học, kỷ hà học (3)... Vì lòng
sốt sắng làm cho tiếng nước nhà giàu thêm lên, nên họ không
ngại khó, rồi mới đặt ra được cái tiếng ấy.
Người mình thì không thế. Muốn dịch một chữ Pháp hay
chữ Anh ra tiếng nước nhà mà không dịch nổi, thì cứ việc
mở ngay tự vị (4) Tàu ra, trong ấy đã sẵn sàng cả rồi. Dù
người Tàu có dịch sai chăng nữa cũng mặc cứ cắm đầu cắm
cổ mà chép, ai biết đến đó mà lo.
(1) Hai câu nguyên văn trong Truyện Kiều: Trải qua một cuộc
bể dâu và Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình
(2) Một câu trong Cung oán ngâm khúc: Bức tranh vân cẩu vẽ
người tang thương
(3) Tức hình học
(4) Tức từ điển
<div class="rightalign"><em><strong>Nguyễn Duy Thanh</strong>
Muốn cho tiếng An Nam giàu, Phụ nữ tân văn, 1929</em></div>
<h2>Bắt chước không phải lối</h2>
Tính bắt chước vốn là tính tự nhiên của loài người,
dẫu ở nước nào cũng thế cả. Nhưng giá ta có sẵn cái tinh
thần tốt rồi chỉ bắt chước lấy những điều có bổ ích
thêm cho tinh thần ấy thì thật là hay lắm. Chỉ hiềm vì mình
để cái tinh thần của mình hư hỏng đi, mà lại mong bắt
chước sự hành động của người ta thì sự bắt chước ấy
lại làm cho mình dở hơn nữa.
Vì đã gọi bắt chước là chỉ bắt chước được cái
hình hài bề ngoài mà thôi còn cái tinh thần ở trong, phi(1) lâu
ngày nhiễm (2) lấy được mà hoá (3) đi thì khó lòng mà bắt
chước được. Thành thử bao nhiêu những sự bắt chước của
mình chỉ là làm loạn cả tính tình tư tưởng và phong tục
của mình.
Có lắm người vọng tưởng (4) rằng mình cố bắt chước
được người ngoài là mình làm điều có ích cho sự tiến hoá
của nòi giống. Không ngờ rằng sự bắt chước vội vàng quá
lại thành cái độc gây ra các thứ bệnh cho xã hội. Mà sự
lầm lỗi ấy chỉ mỗi ngày một thêm ra chứ không bớt đi
được.
(1) không phải
(2) thâm nhập
(3) thay đổi. Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu ghi: phàm
vật này mất đi mà vật kia sinh ra gọi là hoá
(4) nghĩ lầm
<div class="rightalign"><em><strong>Trần Trọng Kim</strong>
Nho giáo, 1930</em></div>
<h2>Óc sùng ngoại nặng nề</h2>
Anh thợ vẽ cầm lấy cái bút là vẽ ngay phong cảnh Cô tô
thành ngoại Hàn Sơn tự; thầy đồ cầm đến cái bút là tả
ngay lịch sử Hán Cao Tổ Trương Lương Hàn Tín; anh phường
tuồng ra trò là diễn ngay tấn Lưu Bị Quan Vũ Trương Phi.
Thổ sản thổ hoá (1) mà hễ cái gì tồi thì cho một
tiếng "nam "vào để giễu, như cái áo tơi gọi là áo cừu
nam sột soạt, anh chàng dở người mà hay bàn thời thế họ
gọi là Gia Cát nam. Cái gì tốt thì cho một tiếng "tàu "vào
để khen, như măng khô gọi là măng tàu.
Ấy cũng vì tư tưởng đã thiên di (2)như thế mà những
nhà chế tạo nội hoá rất khốn khổ, đồ tốt không bán
được phải thất nghiệp, mà những đồ thô bỉ tầm thường
thì may còn ngoi ngóp sống để kiếm ăn với những người quê
mùa nghèo khó.
(1) hàng trong nước làm ra
(2) biến chuyển
<div class="rightalign"><em><strong>Nguyễn Trọng Thuật</strong>
Điều đình cái án quốc học, Nam Phong, 1931</em></div>
<h2>Khi học hỏi người, thường thiếu tự tin</h2>
Cách học muốn cho bằng người thì phải biến hoá khác
đi. Nay cứ toàn mô phỏng, thấy không thể theo cho bằng
được, bèn sinh lòng tự tiện (1), là mình tự khinh cái tài
của mình; tự tiện quá rồi tự khí (2) tự bỏ cái tài của
mình, cho mình là đồ bỏ.
Mà đồ bỏ thật, vì học không có cái gì dùng được như
mẫu của người.
Cũng vì thế mà bao nhiêu cái hay không còn gì nữa.
Trước khi vì học thuật nước nhà mà hy vọng, ta phải
hết sức từ bỏ cái căn bệnh cẩu thả, cái tính tự tiện
tự khí. Không thì về xã hội lại cứ lười biếng a dua
không suy xét lựa chọn, không có cái tinh thần tự giác tự
tin. Về kẻ học giả lại cứ tham cận lợi (3), nhai văn nuốt
chữ, lấy học đường của nước văn minh làm con đường tắt
hiển vinh, học đến bao giờ cũng chung vô sở đắc (4).
(1) tự tiện đây là tự coi rẻ mình coi mình là hèn; khác
với tự tiện có nghĩa làm theo ý thích hiện nay hay dùng
(2 ) tự làm hỏng mình
(3) lợi ích trước mắt
(4) cuối cùng vẫn không có gì là của riêng mình
<div class="rightalign"><em><strong>Nguyễn Trọng Thuật</strong>
Điều đình cái án quốc học, 1931</em></div>
<h2>Chỉ biết học cái bề ngoài</h2>
Người mình vốn có cái thiên tính dễ đồng hoá, nghĩa là
có tư cách (1), dễ am hiểu dễ thu nạp lấy những gì khác lạ
với mình, dễ đem những điều hay điều dở của người ngoài
mà hoá làm của mình.
Nhưng cái tài đồng hoá đó thường thường chỉ là cái khoé
tinh (2), biết xem xét và bắt chước của người, phảng phất
ở bề ngoài, chứ không thấu triệt được đến chỗ căn để
(3), chỗ tinh tuý.
Tỉ như thợ An Nam thì phỏng chép tài lắm; những hình dáng
kỳ đến đâu, những kiểu cách lạ đến đâu, họ bắt
chước cũng được như hệt cả.
Cái cách đồng hoá dễ dàng thô thiển đó thiết tưởng
không phải là cái tính tốt.
Như học trò ta học rất mau, nhớ cũng rất mau, nhưng chưa
chắc đã hiểu được thấu, đã hoá được hẳn những cái
người ta dạy mình, và chưa chắc cái học tiếp thu được dễ
dàng như vậy nó đã làm cho óc được khôn ra, người được
chín ra chút nào.
Có những người mặc thì mặc theo đúng mốt tối tân ở
Paris, nói năng ba hoa đi đứng đường đột; bề ngoài như vậy
mà bề trong nghị luận mơ hồ, tư tưởng lộn xộn, không có
thống hệ (4), không biết bắt chước lấy cái lối nói năng
gãy gọn, biện lẽ phân minh như người Tây phương.
(1) nghĩa cũ: tài lực trình độ khả năng
(2) mánh khóe ranh ma
(3) gốc rễ
(4) ngày nay hay nói ngược lại: hệ thống
<div class="rightalign"><em><strong>Phạm Quỳnh</strong>
Giải nghĩa đồng hoá, Nam Phong, 1931</em></div>
<h2>Không có thì giờ lo đến văn hoá, đành đi vay mượn</h2>
Cả cuộc lịch sử của nước Nam là một cuộc chiến đấu
vô hồi vô hạn đối với người Tàu hoặc bằng võ lực,
hoặc bằng ngoại giao, hằng ngày chỉ nơm nớp sợ bị nội
thuộc lần nữa. Cái công của các tiên dân ta chống giữ cho
non sông đất nước nhà, can đảm vô cùng, kiên nhẫn vô cùng,
thật đáng cảm phục.
Nhưng cả tinh lực trong nước đều chuyên chú về một
việc cạnh tranh để sinh tồn đó, cạnh tranh với một kẻ
cường lân (1) hằng ngày nó đàn áp, để cố sinh tồn cho ra
một nước độc lập, còn có thì giờ đâu, còn có dư sức
đâu mà nghĩ đến việc khác nữa.
Cái quan niệm quốc gia bị nguy hiểm luôn nên thường lo
sợ luôn chiếm mất cả tâm tư trí lự, không còn để thừa
chỗ cho những quan niệm khác về văn hoá về mỹ thuật.
Nói riêng về học thuật thì đã sẵn cái học của Tàu
đó, tiêm nhiễm vào sâu từ thuở mới thành dân thành nước,
không thể tưởng tượng được rằng ngoài sách vở của thánh
hiền còn có nghĩa lý (2) gì khác.
(1) kẻ hàng xóm mạnh
(2) Cái lý thuyết phải theo
<div class="rightalign"><em><strong>Phạm
Quỳnh</strong>
Bàn về quốc học, 1931</em></div>
<h2>Tâm lý ỷ lại, chịu làm học trò suốt đời </h2>
Địa lý lịch sử, chính trị đều như hiệp sức nhau lại
mà gây cho nước ta một cái tình thế rất bất lợi cho sự
học vấn tư tưởng. Bao nhiêu những người khá trong nước
đều bị cái tình thế ấy nó áp bách trong mấy mươi đời
nên dần dần lập thành một cái tâm lý riêng, là cái tâm lý
ỷ lại vào người chứ không dám tự lập một mình ; trong
việc học vấn thì cái tâm lý ấy là tâm lý làm học trò
suốt đời.
Nước ta ở ngay cạnh nách nước Tàu, từ hồi ấu trĩ cho
đến lúc trưởng thành đều nấp bóng nước Tàu mà sinh
trưởng, khác nào như một cái cây nhỏ mọc bên một cái cây
lớn, bị nó " cớm " không thể nào nẩy nở lên được.
<div class="rightalign"><em><strong>Phạm Quỳnh</strong>
Bàn về quốc học,1931</em></div>
<h2>Học người cũng không xong</h2>
Phàm phóng chép (1) của người chỉ phóng chép được
những cái thô thiển trước, còn đến cái tinh tuý thì phải
công phu lắm mới nhập diệu (2) được.
Thử xét trong những kẻ tự xưng là hạng tân tiến (3),
mấy người đã học được đến nơi đến chốn? Mấy người
có thể đối đáp nghị luận với tây, nói những chuyện văn
chương mỹ thuật, chính trị triết học mà người ta phải
chịu phải phục? Hay là phần nhiều chỉ mới học mót được
mấy câu văn sáo đã đem ra mà huyễn diệu (4) đồng bào?
Ấy là không nói những kẻ học chữ tây cũng còn chửa
thông, nói một câu không khỏi sai mẹo, mà cũng làm ra mặt
thông thạo các lối văn minh mới, nhất thiết tự xưng là duy
tân cả, coi văn hoá cũ của nước nhà như cỏ rác hết.
Tưởng học được của người những gì hoá ra chỉ
học được những thói tự do rởm, bình đẳng xằng, những
cách du đãng phóng túng với cái tính khinh bạc ngạo mạn mà
thôi.
Lắm lúc trông thấy cái kết quả bất lương đó mà
ngờ rằng nếu học tây mà đến thế thì thà không học nữa
còn hơn.
Cái học kia làm cho người ta nước giàu dân mạnh của
khéo người khôn, có đâu lại tạo ra những cái quái vật như
vậy?!
Hay mình như cái đất xấu, hạt giống tốt trồng vào
rồi mọc lên cũng thành ra cằn cọc?
(1) bắt chước
(2) đi tới cái thần khí sâu xa của sự việc
(3) tức hạng hướng sự học sang Tây phương, hồi đầu thế
kỷ XX
(4) khoe khoang (với ai đó)
<div class="rightalign"><em><strong>Phạm Quỳnh</strong>
Phong hoá suy đồi, Nam Phong, 1932</em></div>
<h2>Chưa biết trở thành chính mình </h2>
Tôi không nhớ vị giáo sư Pháp nào, ở lâu năm bên ta,
đã nói: "Những thanh niên Việt Nam đào tạo ở trường học
mới, không có một tinh thần sáng tạo chắc chắn ".
Lời bình phẩm có vẻ vội vàng gắt gao, nhưng không
phải là không có một phần sự thực.
Vì sự thực cái bệnh ỷ lại là bệnh của ta và đã ăn
sâu vào trong xương tuỷ người nước ta, cơ hồ không gột
rửa được nữa.
Không phải bây giờ mà từ bao giờ, không phải ở trong
văn chương mà ở khắp các địa hạt, người Việt Nam đã tỏ
ra mình là một giống người sống một cách lười biếng và
cẩu thả.(...). Cẩu thả và biếng nhác trong sự ăn, sự mặc,
sự ở, nhất là trong sự phô diễn tư tưởng.
Tự ta, ta không hề cố gắng và tạo tác ra một cái gì
hoàn toàn của ta; ta chỉ muốn hưởng thụ những của sẵn và
cam tâm làm kiếp con ve của thơ ngụ ngôn (1).
Ta đã vay mượn của người hàng xóm từ một điệu
thơ nhỏ nhặt đến một đạo lý cao xa. Hồi xưa kia chúng ta
là những người Tàu, gần đây chúng ta là những người Tây,
chưa có một lúc nào chúng ta là những người Việt Nam cả.
(1) ý muốn nói vui chơi ca hát, không biết tính xa, và sẵn
sàng vay mượn để sống qua ngày. Lấy tích từ bài thơ ngụ
ngôn của La Fontaine Con ve và con kiến, bản dịch của Nguyễn
Văn Vĩnh.
<div class="rightalign"><em><strong>Lưu Trọng Lư</strong>
Một nền văn chương Việt Nam, Tao đàn 1939</em></div>
<h2>Hợm hĩnh quá đáng</h2>
Một vài ông vua nước Nam đã làm cho thần dân của các
ngài tưởng lầm rằng văn học nước mình cũng ngang hàng với
Trung quốc. Sự thác giác (1) ấy làm hại cho quốc dân từ lâu
nay, cái hại chẳng phải nhỏ.
Lê Thánh Tôn phê bình hai câu thơ của Thân Nhân Trung quan
đại học sĩ tại triều mình Quỳnh đảo mộng tàn xuân vạn
cảnh - Hàn giang thi lạc dạ tam canh hợm hĩnh cho rằng dù Lý
Bạch, Đỗ Phủ, Âu Dương Tu, Tô Thức (2)… cũng vị tất đã
nghĩ được ra.
Gần này người ta còn truyền tụng hai câu thơ phê bình
thi văn bản triều (3): Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán -- Thi
đáo Tùng Tuy thất Thịnh Đường.
Văn học chữ Hán đến triều Nguyễn đáng gọi là thịnh
hơn các triều khác; nhưng nếu bảo vượt qua cả Hán Đường
thì quá lố!
Những lời tự khoe ấy cần phải cải chánh.
(1) lầm tưởng
(2) các thi hào nổi tiếng trong lịch sử văn học Trung quốc.
(3) tức triều Nguyễn
<div class="rightalign"><em><strong>Phan Khôi</strong>
Khái luận về văn học chữ Hán ở nước ta,Tao
đàn,1939</em></div>
<h2>Trì trệ và bất lực</h2>
Bị ý thức hệ nho giáo bảo thủ lung lạc, bị nguỵ
thuyết của bọn Tống nho đưa lạc nẻo, bị chế độ thi cử
chi phối, đẳng cấp nho sĩ Việt Nam không còn một chút hoạt
lực (1) nào, không còn được một tính cách cấp tiến nào
nữa.
Bởi vậy họ đã chống tiến hoá chống cải cách.
Phụ hoạ với triều đình, họ đã lấy cái học bã giả
(2) của Tống nho dựng một bức trường thành ngăn các trào
lưu triết học khác không cho tràn tới địa hạt tri thức do
họ giữ đặc quyền.
Thiếu độc lập về tư tưởng, hoàn toàn phục tùng cổ
nhân Trung Hoa về cả mặt tình cảm, quá câu nệ về hình thức
thơ Tàu, -- đẳng cấp nho sĩ Việt nam chỉ sản xuất ra được
những lối thơ nghèo nàn. Nhiều tập thơ mài giũa công phu
nhưng không chút sinh khí.
Qua ngay hình thức của thơ, ta cũng thấy rõ tinh thần
bảo thủ của đẳng cấp nho sĩ, và sự bất lực của đẳng
cấp này trong mọi công cuộc sáng tạo xã hội có tính chất
cấp tiến.
(1) sức sống
(2)điều ai cũng biết.
<div class="rightalign"><em><strong>Lương Đức Thiệp</strong>
Việt Nam tiến hoá sử, 1944</em></div>
<h2>Thoả mãn với việc mô phỏng bắt chước</h2>
Vô luận là vấn đề gì, về quốc kế hay dân sinh cũng
như về luân lý hay triết lý, kẻ sĩ nước ta đều thấy các
thánh hiền Trung quốc giải quyết sẵn cho mình rồi, cái công
phu của mình chỉ là thuật lại để thực hành cho xứng đáng
chứ không cần phải sửa chữa thêm bớt chút gì.
Trái lại cái gì của Trung quốc có vẻ vĩ đại hay cao
siêu quá, thì chúng ta lại phải hãm lại cô lại cho vừa
với kích thước khuôn khổ của chúng ta.
Bởi thế chính trong thời kỳ toàn thịnh của nho học
nước ta, người ta thấy có những nhà nho kinh luân như Tô
Hiến Thành, nhà nho anh hùng như Trần Quốc Tuấn, nhà nho cao
khiết như Chu An, nhà nho khẳng khái như Nguyễn Trãi, mà
tuyệt nhiên vẫn không thấy một nhà tư tưởng một nhà triết
học nào.
Chúng ta chỉ có những nhà nho lao tâm khổ tứ để bắt
chước thánh hiền mà cư xử và hành động cho hợp với
đạo lý chứ không có nhà nho nào dám hoài nghi bất mãn với
đạo lý xưa mà băn khoăn khao khát đi tìm đạo lý mới.
<div class="rightalign"><em><strong>Đào Duy Anh</strong>
Việt nam văn hóa sử đại cương * 1950</em></div>
[*] Đây là bộ sách Đào Duy Anh viết ở Thanh Hóa những năm
kháng chiến chông Pháp. Không phải Việt nam văn hóa sử cương
1938
<h2>Nền văn hoá của kẻ yếu</h2>
Hình như sống dưới cái bóng của cái khối văn hoá Trung
quốc, sừng sững ở bên mình như cả núi Thái Sơn, văn hoá
chúng ta chỉ cố sức để man diên (1) ở trên mặt đất chứ
không có cái khuynh hướng trổ vọt lên trời.
Để sống còn, chúng ta chỉ cốt bám chặt lấy đất như
bám lấy cái nguồn sinh khí.
Cho nên chúng ta không có cái vinh dự là có những tổ tiên
chọc trời khuấy nước, làm chấn động thế giới bằng
những tư tưởng hay hành động, nhưng chúng ta lại đã may mắn
có được những tổ tiên cần cù, kiên nhẫn biết sống thiết
thực và biết tổ chức cuộc sống một cách thích đáng để
đối phó với vận mệnh khắc nghiệt của mình.
Cái giá trị tranh đấu chúng ta nhận thấy trong cái tính
chất thiết thực ấy lại tuồng như chỉ là tiêu cực.
Ngay trong văn hoá bình dân, cái văn hoá phát triển ở
ngoài phạm vi ảnh hưởng trực tiếp của Hán hoá, tuy có lộ
rõ cái tinh thần chống đối luân lý lễ giáo của nhà nho,
thế mà cũng chỉ là sự chống đối của kẻ yếu.
Có những người sau khi làm tròn phận sự một người
quân tử ở đời thì rũ sạch nợ trần đi tìm nhàn hạ ở
nơi thôn dã, hay có người bất bình với thời thế khiến mình
không thể làm tròn phận sự được mà đi tìm an ủi ở sơn
lâm.
Nhưng thảy đều là những người chỉ cầu tự nhiên cấp
cho những thú thanh cao để di dưỡng tính tình mệt mỏi, chứ
không ai dám đem tâm trí mà tìm tòi mà tra hỏi tự nhiên.
(1) bò lan như cây cỏ
<div class="rightalign"><em><strong>Đào Duy Anh</strong>
Việt Nam văn hoá sử đại cương, 1950</em></div>
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/9977), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét