Trương Đình Trung - Nội chiến Lybia nhìn từ góc độ khác

Với việc phe phiến loạn, dưới danh xưng Transitional National
Council (TNC), đang dần dần kiểm soát toàn bộ thủ đô Tripoli,
thanh toán những cứ điểm cuối cùng của lực lượng chính
phủ Gaddafi, cuộc nội chiến Libya có lẽ đang đi vào giai
đoạn cuối, hoặc sẽ kết thúc sự cầm quyền của một chế
độ đã kéo dài 42 năm qua trên quốc gia này, hoặc chí ít cũng
giảm thiểu phạm vi cai trị của chế độ ấy và đẩy Libya
vào tình trạng phân ly vốn đã có mầm móng từ lâu trong cơ
cấu xã hội của quốc gia này. Các tổ chức quốc tế, các
chính phủ trên thế giới đang lần lượt thừa nhận NTC như
là đại diện hợp pháp của Libya thay cho chính phủ của Đại
Tá Gadhafi. Chủ tịch của TNC, ông cựu Bộ Trưởng Tư Pháp
Mustafa Abdul Jalil trong chính phủ Gaddafi trước kia, ngay cả đã
được Tổng Thống Obama của Mỹ tiếp kiến hôm thứ Ba vừa
rồi bên lề một phiên họp quốc tế tại Liên Hiệp Quốc ở
Newyork.

<div class="boxright200"><img
src="http://danluan.org/files/u23/DANLUAN0100076.jpg" /><div
class="textholder">Mustafa Abdel Jalil (trái) gặp TT Obama (phải) tại
Newyork ngày 20/9/2011.</div></div>

Cuộc nội chiến Libya tuy gần như sắp qua rồi, nhưng hậu quả
của nó về nhiều mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, đối
với đất nước và người dân Libyan chắc sẽ còn kéo dài khá
lâu. Còn đối với công luận trên thế giới thì cuộc nội
chiến này, có sự can thiệp từ bên ngoài dưới danh nghĩa Liên
Hiệp Quốc, vẫn còn để lại những vấn đề về lịch sử,
bối cảnh chính trị và pháp lý quốc tế rất đáng duyệt xét
và thảo luận. Mọi chuyện đã xảy ra khá nhanh đến độ một
số khá đông trong chúng ta dường như chưa kịp thu thập những
thông tin trung thực về tình hình xã hội Liyba suốt hơn 40 năm
dưới chế độ Gadhafi, về quan hệ đối ngoại của chế độ
đó đối với các quốc gia trong Vùng và các cường quốc, về
động cơ chính trị và tính chất pháp lý của sự can thiệp
quốc tế vào cuộc nội chiến vừa qua.

Trước hết, do vô tình hay cố ý, cuộc nội chiến Libya đã
được giới truyền thông Tây Phương lồng vào trong bối cảnh
chung của phong trào biểu tình đòi dân chủ của người Ả
rập, một phong trào thường được gọi là " Cách mạng Hoa
Lài" từ Egypt, Tunisia, Bahrain, Yemen, Syria, v.v...Tuy nhiên, trên
thực tế có những khác biệt rất lớn giữa tình hình Libya và
các quốc gia khác trong phong trào vừa nói. Sự khác biệt điển
hình nhất là giữa Ai Cập và Libya.

<h2>SỰ KHÁC BIỆT TRONG CÁC BIẾN ĐỘNG GIỮA EGYPT và LIBYA.</h2>

<strong>1. Về phía người biểu tình - chống đối:</strong> Ở
Egypt thì người biểu tình là thường dân, đa số thuộc lớp
trẻ, sinh viên, học sinh, công nhân và tiểu thương, và số
người này biểu tình bất bạo động. Trong lúc đó ở Libya,
thành phần chống đối, ngoài thường dân ra, còn có các viên
chức chính phủ và quân nhân đào ngũ ly khai, và sự chống
đối mang tính chất bạo động với súng AK-47, súng phóng lựu,
những dàn cao xạ tối tân, cả hoả tiển và ngay cả với
chiến đấu cơ Mig-23. Nghĩa là ở Libya, không phải là những
người dân thường nổi dậy biểu tình đòi Dân chủ như đã
xãy ra ở Ai Cập, Tunisia, Bahrain hay Yemen. Thật ra, thì đã không
hề có biểu tình đòi dân chủ ở Libya, mà chỉ có sự nổi
loạn vũ trang của phe phiến loạn.

<strong>2. Về phía chính quyền:</strong> Ở Egypt, ngoài lực
lượng cảnh sát đàn áp người biểu tình ra, quân đội lại
có thái độ ôn hoà đối với người biểu tình. Hơn nữa
chính quyền lại nằm hoàn toàn trong tay quân đội. Người
biểu tình chỉ đòi TT Mubarak từ chức mà không hề đòi thay
đổi chế độ do quân đội lãnh đạo. Trong khi đó ở Libya,
có ngay sự ly khai trong giới chức chính quyền và quân đội.
Tình hình của Libya mang tính chất của một cuộc nổi loạn và
nội chiến giữa các bộ lạc trong nước, chứ không chỉ là
sự nổi dậy đòi Dân chủ như ở Egypt. Và tình hình nội
chiến đó bắt rễ từ lâu trong sự khác biệt lâu đời giữa
hai vùng Đông-Tây Libya và trong tính chất tranh chấp giữa các
bộ lạc vẫn tồn tại trong xã hội Libya.

Điểm đáng chú ý nữa, là khác với ở Ai Cập và Tunisia, ở
Libya không có đảng phái đối lập và công đoàn, trừ tổ
chức Libyan Islamic Fighting Group (LIFG). Dân số tập trung nhiều
ở nông thôn hơn thành thị. Quân đội và giới thượng lưu ít
chịu ảnh hưởng của Tây phương, ít lệ thuộc vào quân viện
của Mỹ.

<strong>3. Về quan hệ đối ngoại; đặc biệt là với
Mỹ</strong>: TT Egypt Mubarak được các chính phủ Mỹ ủng hộ
mạnh mẽ, xem là đồng minh chiến lược ở Trung Đông suốt 30
năm qua. Suốt thời gian đó, ngoài viện trợ kinh tế, quân
viện của Mỹ hằng năm dành cho quân đội Egypt của Mubarak
trung bình là 1.3 tỉ dollars/ năm. Ngay cả đến lúc này, sau khi
Mubarak xuống rồi, sự ủng hộ của Mỹ đối với quân đội
Egypt chưa có dấu hiệu thay đổi.

Nhưng quan hệ Mỹ-Libya thì hoàn toàn khác. Trước đây các
chính phủ Carter, Reagan đã tỏ ra rất thù địch với TT Muamma
Gadhafi. Quan hệ hai bên đã nhiều lúc bị gián đoạn. Gadhafi
đã từng bị Mỹ xem như một kẻ khủng bố, chịu trách nhiệm
về việc bắn hạ máy bay dân sự Pan Am Flight 103 năm 1988. Chỉ
từ năm 2003 trở đi, quan hệ Mỹ-Libya mới hoà dịu, sau khi
Gadhafi công khai từ bỏ việc sở hữu Vũ Khí Huỹ Diệt Hàng
loạt (WMD) và hoả tiển tầm xa, chấp nhận bồi hoàn cho gia
đình các nạn nhân của chuyến bay Pan Am 103. Từ đó quan hệ
hai bên trở nên hoà dịu hơn, và đến 31/5/ 2006 thì có quan hệ
chính thức. Mặc dù vậy, khác biệt chính ở đây là mối quan
hệ của Mỹ đối với Muamma Al Gadhafi không giống như đối
với Mubarak, và quân đội Libya không lệ thuộc quân viện của
Mỹ như quân đội Egypt, vì Egypt là đồng minh chiến lược
của Mỹ, còn Libya thì chưa bao giờ.

<strong>4. Về mức sống:</strong> Một cách tổng quát thì, phần
nào do sự chênh lệch quá xa về dân số giữa hai quốc gia:
Egypt có 83 triệu dân, Libya chỉ có chừng 6.3 triệu, mức sống
của hai bên rất khác biệt. Trong khi có đến 40% dân Egypt có
thu nhập không quá 2$/ ngày và lợi tức bình quân chỉ chừng
1,300 dollars/người, thì thu nhập bình quân đầu người của
Libya đến gần 10,000 dollars/ người (số liệu năm 2004 của
World Bank). Yếu tố quan trọng là trữ lượng dầu hỏa của
Libya có đến chừng 44 tỉ thùng, gấp hơn 10 lần trữ lượng
của Egypt. Vẫn còn nhiều vùng chưa được thăm dò đầy đủ
và có một số chuyên gia về dầu hoả cho rằng trữ lượng
thật sự của Libya còn lớn hơn con số hiện nay khá nhiều.

Đến đây thiết nghĩ cũng nên điểm qua về bối cảnh xã
hội-kinh tế của Libya trước nội chiến.

Libya có chừng 140 bộ lạc lớn nhỏ, trong đó có chừng 30 bộ
lạc với dân số đáng kể, sống tập trung vào ba vùng quan
trọng; đó là: Tripolitania, với thủ phủ là Tripoli nằm trên
bờ Địa Trung Hải về phiá Tây Bắc Libya; kế đến là
Cyrenaica với Benghazi làm thủ phủ, ở phía Đông Bắc, trải
dài từ bờ Địa Trung Hải vào tận sa mạc Sahara; và Fezzan
nằm trong nội địa với sa mạc mênh mông.

Trong ba vùng kể trên, thì Tripolitania và Cyrenaica là quan trọng
nhất. Tripolitania nằm về phía Tây từ lâu là căn cứ địa
của Gadhafi. Còn vùng Cyrenaica thì trong lịch sử đã từng có
khuynh hướng không thần phục Tripoli và tỏ ra gần gũi thân
thiện với Ai Cập hơn. Điều này giúp hiểu dễ dàng hơn nổ
lực ly khai hiện nay của người ở vùng này. Chính vua Idris,
người bị Gadhafi lật đổ năm 1969, sinh ra từ vùng này. Đây
là lý do tại sao trong những ngày đầu nội chiến, người ở
đây đã treo cờ cũ của chế độ quân chủ Libya. Cyrenaica cũng
là vùng đất của những nhóm cực đoan Hồi giáo, như nhóm
Libyan Islamic Fighting Group (LIFG) là nhóm đã bị Gadhafi trấn áp
trong nhiều năm qua.

Phân bố ra ba vùng trên có 4 bộ lạc quan trọng nhất là
Gadhafa, Warfallah, Zuwaya và Magariha; trong đó đông đảo nhất là
bộ lạc Warfallah chiếm gần 1/6 dân số Libya, có dân cư sống
ở cả hai vùng Tripolitania và Cyrenaica. Bộ lạc lớn thứ hai là
Magahira ở vùng Fezzan. Bộ lạc Gadhafa tuy không lớn nhất, nhưng
Gadhafa lại có quan hệ huyết thống với bộ lạc Warfallah và
được sự ủng hộ mạnh mẽ của bộ lạc này trong nhiều
năm. Mặc dầu vậy, năm 1993 một số thành viên của Warfallah
đã liên kết với bộ lạc Magahira âm mưu đảo chánh Gadhafi,
nhưng không thành, bị Gadhafi dùng không quân đè bẹp. Trong
biến động hiện nay, có nhiều thủ lãnh của Warfallah đứng
vềp phe nổi dậy, chống lại Gadhafi. Bộ lạc hiện chống
đối Gadhafi mạnh nhất là Zuwaya, cư trú đông đảo ở vùng
Cyrenaica.

Lịch sử cơ cấu bộ lạc của Libya như nên trên đây sẽ là
yếu tố xã hội quan trọng định hình tương lai hậu chiến,
cả đối nội lẫn đối ngoại, sắp đến của Libya.

<h2>KINH TẾ - XÃ HỘI LIBYA DƯỚI CHẾ ĐỘ GADHAFI</h2>

Kể từ năm 1969 đến nay, Libya đã có nhiều thay đổi rất
đáng chú ý.

Về mặt lý thuyết, Gadhafi và nhóm sĩ quan trẻ ủng hộ Ông
trong cuộc đảo chính đã có tham vọng chấm dứt sự bất công
xã hội do chế độ thuộc điạ và chế độ quân chủ tạo ra,
xây dựng một chế độ xã hội chủ nghĩa dựa trên những giá
trị tốt đẹp truyền thống của Hồi giáo kết hợp với một
sự phân phối lợi tức công bằng nhằm giảm thiểu sự bất
bình đẳng lớn giữa các thành phần trong xã hội.

Trước năm 1969, xã hội Libya tổng quát có ba giai cấp chính:
giai cấp thượng lưu gồm hoàng tộc, các giới chức cao cấp
trong chính phủ và những gia đình giàu có nhất. Kế đến là
một giai cấp trung lưu nhỏ bao gồm các chức sắc tôn giáo,
tiểu thương, tiểu điền chủ, các nhà xuất nhập cảng, giới
doanh nhân dầu hoả, chuyên gia các ngành, công chức, v.v…Cuối
cùng là đại đa số dân thuôc giai cấp nông dân, thợ thủ
công và công nhân. Lợi tức phân phối trong xã hội giữa các
giai cấp là rất chênh lệch.

Kỹ nghệ dầu hoả phát triển dẩn đến việc thành hình đời
sống đô thị với sự gia tăng ngày càng nhanh thành phần
chuyên viên và công nhân trẻ có trình độ kỹ thuật khá hơn
nhờ được đào tạo ngày càng đầy đủ hơn trước. Điều
này ảnh hưởng rõ rệt đến sự thay đổi cơ cấu giai
cấp-xã hội của Libya. Đồng thời vai trò của quân đội cũng
ngày càng trở nên quan trọng. Nền độc lập quốc gia giúp cho
ra đời ngày càng nhiều các sĩ quan Libyan thay thế các cấp
chỉ huy Tây Phương, hình thành một tầng lớp quân nhân bản
xứ với ảnh hưởng chính trị ngày càng tăng. Gadhafi và nhóm
Sĩ Quan Tự Do (Free Officer Movement) đã ra đời trong bối cảnh
đó với hạt nhân chính trị là Hội Đồng Tư Lệnh Cách Mạng
(Revolutionary Command Council, RCC), trở thành lực lượng ưu tú
trẻ và nhóm này được sự ủng hộ ngày càng tăng của giai
cấp trung lưu, nông dân và giới thợ thuyền thành thị.

Chủ trương của RCC, do Gadhafi cầm đầu, là tước dần quyền
lực và tài sản của tầng lớp thượng lưu, thu hút sự hậu
thuẩn của giai cấp trung lưu và giới nghèo, tăng cường sự
kiểm soát của nhà nước đối với kinh tế quốc gia, tạo ra
cơ cấu chính trị mới, đặt trọng tâm vào sự tái phân phối
lợi tức và tạo cơ hội đồng đều cho mọi thành viên trong
xã hội thông qua những biện pháp như xác lập mức lương tối
thiểu, chính phủ trực tiếp quản lý thị trường nhân dụng
và thực hiện quốc sách trợ cấp xã hội.

Công đoàn Xã hội Chủ nghĩa Ả Rập (Arab Socialist Union, ASU)
được thành lập năm 1971 và xử dụng như một công cụ huy
động quần chúng nhằm thực hiện những chủ trương cải cách
chính trị-xã hội nêu trên. Mục tiêu chính của ASU là xoá
bỏ, bằng phương cách hoà bình, sự cách biệt lớn giữa các
giai cấp, nguồn gốc của thảm kịch đấu tranh giai cấp ngấm
ngầm trong xã hội. Về mặt này thì Gadhafi và những sĩ quan
đồng chí hướng đã có một chủ trương thực tiển trong
việc đối phó với vấn nạn xung đột giai cấp trong xã hội.
Tuy vẫn đề cao Socialism, nhưng Gadhafi đã không áp dụng một
cách mù quáng học thuyết đấu tranh giai cấp sắt máu của Karl
Marx và Lenine, trái lại đã biết dung hoà giữa nhu cầu bình
đẳng xã hội và truyền thống Hồi giáo của xứ sở mình.
Đến năm 1973 chính phủ Libya còn đưa ra luật đòi hỏi các
công ty lớn phải chia lợi nhuận cho nhân viên của mình, đưa
công nhân tham gia ban giám đốc và thành lập các cơ quan liên
hiệp tư vấn với sự tham gia đồng đều giữa quản trị viên
và công nhân.

Mặc dù không cổ súy đấu tranh giai cấp, nhưng Gadahfi và RCC,
trên thực tế, vẫn thực hiện một số biện pháp nhằm thu
hẹp dần ảnh hưởng xã hội, các ưu đãi và quyền lực kinh
tế của giới thượng lưu. Một số chiến dịch công kích
nhắm vào giới "tiểu tư sản quan liêu" (bourgeois bereaucrats)
được thực hiện trong nhiều năm .Kế đến là những hạn
chế áp dụng đối với các thương nhân tư doanh được đưa ra
vào khoảng năm 1975. Đến khoảng năm 1978, luật về giới hạn
đầu tư tư nhân trong lãnh vực địa ốc được ban hành, mỗi
gia đình nhỏ (vợ chồng và con cái vị thành niên) chỉ được
phép sỡ hữu một căn nhà, số nhà dư ra sẽ bị chính phủ thu
mua. Nhiều giới hạn khác cũng được áp dụng đối với
ngoại thương và kỹ nghệ. Ngoại thương hoàn toàn thuộc về
độc quyền của các công ty quốc doanh (public corporations). Ngành
bán sĩ tư nhân (whole sale) hoàn toàn bị loại bỏ.

Ngoài ra một nổ lực chính khác của Gadhafi và RCC là xóa đi
sự phân tranh cố hữu giữa Đông và Tây Libya, giữa Tripolitania
và Cyrenaica, nhằm tạo dựng sự thống nhất và khẳng định
căn cước chính trị cho quốc gia Libya. Nhiều nổ lực đã
được đưa ra để xoá bớt lằn ranh chia rẽ giữa các bộ
tộc, loại dần ảnh hưởng của các tộc trưởng và của các
chức sắc tôn giáo; xử dụng trình độ giáo dục làm tiêu
chuẩn tuyển chọn nhân tài thay cho các quan hệ huyết thống và
tôn giáo như trước kia.

Những cải cách trên của Gadhafi và RCC đã thay đổi bộ mặt
của Libya một cách đáng kể. Do tính cách bình đẳng xã hội
cao, Libya khác hoàn toàn với phần đông các quốc gia sản xuất
dầu hoả khác. Lương bổng cao hơn, các dịch vụ giáo dục và
y-tế được phổ quát và tốt hơn; mức độ tích lũy tài sản
xã hội vào tay tư nhân cũng giảm đi nhiều. Cũng là chế độ
độc tài ở Trung Đông, nhưng so với Ai Cập hay Saudi Arabia thì
sự khác biệt hiện ra rất rõ ràng. Chẳng hạn về kinh tế,
GDP (tổng sản lượng quốc gia) chia trên đầu người của Libya
năm 2008 ước tính chừng 14,400 dollars/ người trong khi chỉ số
đó ở Ai Cập trong cùng năm chỉ được chừng 5,400 dollars/
người. Về mặt công bằng xã hội, ở Saudi Arabia, hoàng tộc
và toàn bộ những người có quan hệ hôn nhân nội ngoại với
hoàng tộc tổng số chừng khoảng từ 60,000 đến gần 100,000
người nắm hầu hết quyền lực kinh tế trong tay, chiếm hữu
hơn 40% tổng tích sản của cả nước chỉ chừa 60% còn lại
cho gần 26 triệu người khác! Về dân trí, tỉ lệ mù chữ ở
Libya cũng thấp hơn Saudi Arabia: 13.2% so với 15%; trong khi ở Ai
Cập thì đến 33.6%! Trong bảng xếp hạng phát triển nhân sinh
thế giới năm 2009 (Human Development Report), Libya được xếp ở
hạng 55, trong khi Saudi Arabia đứng hạng 59, còn Ai Cập thì ở
hạng 123, thua cả Việt Nam CS ở hạng 116! Điều đáng chú ý
ở đây là Saudi Arabia và Ai Cập là hai quốc gia có chế độ
độc tài khắc nghiệt nhất ở Trung Đông, là đồng minh thân
cận được Mỹ ủng hộ từ hơn 30 năm qua.

Về mặt Y tế tỉ lệ bác sĩ/bệnh nhân ở Libya theo thống kê
năm 2007 là chừng 1/750; so với 1/1900 ở Ai Cập và Việt Nam; ở
Mỹ là 1/390. Mọi công dân được hưởng miễn phí những săn
sóc y tế căn bản. Hệ thống săn sóc y tế là một hổn hợp
cả công lẫn tư. So với các quốc gia khác ở Trung Đông thì
hệ thống y tế của Libya tương đối tốt; việc chích ngừa
cho trẻ em được thực hiện rộng rãi và cưỡng bách trên
toàn quốc; hệ thống cung cấp nước uống được cải thiện
rất nhiều từ suốt mấy mươi năm qua.

Trong lãnh vực giáo dục, trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 15
bị đặt dưới hệ thống cưỡng bách giáo dục và hoàn toàn
miễn phí. Có chừng hơn 800,000 học sinh cấp I &II và chừng hơn
700,000 học sinh cấp III và khoảng 300,000 sinh viên đại
học.(Số liệu năm 2000).

Những đổi thay chính trị, vừa nêu ở trên, đã được thực
hiện theo những gì Gadhafi viết ra trong quyền Green Book. Đó là
một bộ sách ba tập đưa ra lý thuyết về Third International
Theory với chủ đề chính yếu là thiết lập một hệ thống
kinh tế-chính trị khác với cả hệ thống tư bản của Mỹ
lẩn hệ thống cộng sản của Liên Xô; một sự phối hợp
giữa các nguyên tắc đạo đức của Hồi Giáo với sự bình
đẳng xã hội dựa trên một nền dân chủ trực tiếp (direct
democracy).

Về cơ cấu chính quyền, toàn quốc được phân định ranh
giới thành 1500 công xã (communes) được quản trị bởi các Ủy
ban Nhân dân (peoples' committees) do dân trực tiếp bầu ra; các
uỷ ban này có chức năng cai trị và hoạch định ngân sách
trong địa phương của mình với sự phê chuẩn của một cơ
quan dân cử khác của công xã, có vai trò như Hội Đồng Nhân
dân. Các công xã này thuộc về 34 khu tự quản (municipalities)
trên toàn quốc, cùng với cơ cấu Uỷ ban và Hội Đồng tương
tự. Đến lượt mình, các uỷ ban của khu tự quản này sẽ
đệ trình các vấn đề về ngân sách và chính sách lên cho
Quốc Hội Nhân dân (General People's Congress, GPC) của toàn Libya;
GPC gồm cả chức năng Lập pháp,Hành pháp, và Tư pháp; các bộ
trưởng cũng như thẩm phán sẽ từ cơ quan này mà ra. Đó là
trên nguyên tắc, trên thực tế thì chính Gadhafi nắm quyền,
hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, trong việc bổ nhiệm các bộ
trưởng và các viên chức cao cấp khác trong chính phủ.

Những việc đầu tiên khi lên cầm quyền của Gadhafi là hoàn
thiện việc giành chủ quyền quốc gia. Chính quyền mới đã
tịch thu tất cả tài sản của các kiều dân Do Thái, tịch thu
tài sản và trục xuất hơn 45,000 kiều dân Ý, những người
đã di cư đến Libya trong thời thuộc điạ. Cùng lúc, chính
phủ Gadhafi đã yêu cầu Anh và Mỹ rút toàn bộ các căn cứ
quân sự ra khỏi lãnh thổ Libya; ngày được ấn định là 28/3
và 11/6/1970. Hai ngày này và ngày 7/10/1970, là ngày trục xuất
người Ý, về sau đã được dùng như ngày quốc lễ của Libya.
Ngoài ra chính phủ Gadhafi còn làm áp lực buộc các công ty dầu
hoả Tây Phương phải tái thương lượng các hợp đồng khai
thác dầu hoả trước đây và phải nhượng lại phần lớn
doanh lợi cho Libya.

Đối ngoại, ngoài thái độ bài Tây Phương, chống chế độ
thuộc điạ và tích cực cổ suý cho cuộc đấu tranh giành
độc lập của các quốc gia nhược tiểu, chính phủ của
Gadhafi, ít nhất cho đến khoảng năm 2009, rất chống Do Thái.
Lúc đầu Gadhafi chống lại mọi đàm phán với Do Thái trong
vấn đề Palestine; sự chống đối mạnh mẽ đến độ đã gây
ra bất hoà sâu sắc giữa Gadhafi và Anwar Sadat của Ai Cập, và
ngay cả với Yasir Arafat, chủ tịch Phong trào Giải phóng
Palestine. Gadhafi cho rằng để giành lại cho người Palestine
những gì đã mất thì không còn con đường nào khác ngoài
đấu tranh bằng bạo lực. Vì vậy Gadhafi trong nhiều năm
trước đây đã chống lại mọi cuộc đàm phán với DoThái
trong vấn đề Palestine, tích cực tài trợ và huấn luyện cho
các tổ chức đấu tranh bạo động của người Palestine. Những
năm sau này, tuy không còn tài trợ cho các nhóm đó, Gadhafi vẫn
chống lại đề nghị về "hai quốc gia" cho vấn đề Do
Thái-Palestine. Trong một bài báo viết cho New York Times, Gadhafi
đưa ra đề nghị về một quốc gia, chung cho cả người Do Thái
lẫn Palestine, với tên gọi là Isratine và rằng người tị nạn
Palestine nên được quyền hồi cư về nguyên quán trước năm
1948. Tất nhiên những đề nghị đó của Gadhafi bị phiá Do
Thái phản đối và bác bỏ. Lập trường của Gadhafi đối với
vấn đề Do Thái là một trong những trở ngại lớn nhất trong
mối quan hệ Mỹ - Libya.

Chính phủ Gadhafi cũng đã đạt được những thành tựu đáng
kể trong lãnh vự săn sóc y-tế, giáo dục, nhà ở, quyền của
phụ nữ và một số dịch vụ xã hội căn bản. Chế độ
"Xã hội Chủ nghiã Hồi giáo" do Gadhafi khởi xướng, cộng
với số dân ít và dự trữ dầu hoả lớn đã biến Libya trở
nên một xã hội khá phồn thịnh và bình đẳng ở Trung Đông.
Và tuy là một nhà độc tài, Gadhafi đã cho khai sinh một hệ
thống chính trị tản quyền (decentralization), nổ lực xây dựng
bước đầu nền dân chủ trực tiếp ở các địa phương với
sự tham gia rộng rãi của dân chúng trong một số lãnh vực. Tuy
nhiên, nhìn chung thì sự đàn áp đối lập vẫn thường xảy ra

Vấn đề hối lộ của các viên chức nhà nước là một quan
tâm lớn. Năm 1975 một đạo luật cứng rắn đối với tệ
nạn này đã được áp dụng, theo đó viên chức nhận hối lộ
sẽ bị án đến 10 năm tù giam cộng với tiền phạt bằng hai
lần số tiền nhận hối lộ. Kẻ đút lót hối lộ có thể
bị án đến 5 năm và bị phạt tiền đến 500 LD (LD Libyan Dinar,
tiền Libya, 1LD~0.82dollars)

<h2>VỀ MẶT ĐỐI NGOẠI</h2>

Đáng chú ý nhất là mối quan hệ Mỹ - Libya.

Do thái độ bài Do Thái, kịch liệt chống chế độ thuộc
địa, đề cao phong trào giành độc lập của các nước thứ
ba, công khai chỉ trích Tây Phương trên mọi diễn đàn quốc
tế của Gadhafi, ngay từ đầu quan hệ Libya-Mỹ đã không đầm
ấm. Có thể tạm chia quan hệ Libya-Mỹ ra các giai đoạn như
sau:

Từ khoảng năm 1969-1986: Ngay từ khi lên nắm quyền, chính phủ
Gadhafi đã lập tức thực hiện chính sách quốc gia Arab, đóng
cửa các căn cứ quân sự Anh-Mỹ trên đất Libya, trục xuất
các đại công ty dầu hoả của Mỹ, đặt tất cả các nguồn
tài nguyên, đặc biệt là dầu hỏa, dưới sự quản trị của
các công ty quốc doanh của chính phủ. Căng thẳng nhất trong
giai đoạn này là việc chính phủ của Gadhafi, năm 1973, tuyên
bố lãnh hải rộng 12 hải lý ở vịnh Sidra dọc duyên hải
của Libya. Phía Mỹ liền tiến hành chiến dịch Freedom of
Navigation, đòi tự do hải hành trong khu vực. Năm 1981 khi Ronald
Reagon lên cầm quyền, tình hình càng căng thẳng hơn; tháng
8/1981 Reagan cho một hạm đội lớn với hai chiến hạm lớn
Forrestal và Nimitz vào thao dượt trong hải phận 12 hải lý mà
Libya đã tuyên bố. Ngày 19/8/1981 hai chiến đấu cơ Sukhoi Su-22
của Libya nghênh chiến với phi cơ hải quân Mỹ và bị hai
chiến đấu cơ F-14 của Mỹ bắn hạ ngay trên vùng trời vịnh
Sidra.

Giai đoạn từ 1986-1999 :Những năm sau đó chính phủ Mỹ loan tin
là chính phủ Libya đang dùng các tổ chức khủng bố để tấn
công viên chức và công dân Mỹ ở nước ngoài. Vụ tấn công
toà đại sứ Mỹ ở Khartoum, Sudan được quy là do nhóm khủng
bố được Libya tài trợ. Tháng 12/1985 một vụ khủng bố tấn
công ở Rome và phi trường Vienne khiến 5 người Mỹ thiệt
mạng, có bằng chứng cho thấy là có sự dính líu của
Libya.Lập tức, tổng thống Regan cho phong toả các tích sản
của Libya ở Mỹ; đồng thời tháng 3/1986 một cuộc đụng độ
khác giữa hải quân hai bên xảy ra tại vịnh Sidra khiến 58
thuỷ thủ Libya thiệt mạng. Tháng Tư/1986 một qủa bom nổ ở
một hí viện tại Tây Bá Linh, nơi thường có quân nhân Mỹ
đến du hí, giết chết một quân nhân Mỹ và làm bị thương
hàng trăm người khác, trong đó có 50 quân nhân Mỹ. Có tin là
cơ quan tình báo Mỹ đã phát hiện là vụ nổ do toà đại sứ
của Libya ở Bá Linh ra lệnh.

Ngày 14/5/1986, chiến dịch không tập mang tên El Dorado Canyon gồm
hơn 30 chiến đấu và oanh tạc cơ F-111 của Mỹ, bay từ ngoài
Địa Trung Hải và từ căn cứ ở Anh qua, đã dội bom xuống
Tripoli và Bengazhi của Libya. Kết quả có hơn trăm thường dân
Libya thiệt mạng, trong đó có cô con gái nuôi của Gadhafi; và
nhiều người khác bị thương trong đó có hai con trai của
Gadhafi. Về phiá Mỹ thì 1 máy bay F-111 bị bắn hạ và hai phi
công mất tích.

Để trả đuả, ngày 15/4 tàu tuần tra Libya đã bắn hoả tiển
vào một trạm viễn thông của hải quân Mỹ ở Địa Trung
Hải, nhưng không gây thiệt hại đáng kể. Hai năm sau, 1988, phi
cơ dân sự Pan Am 747, chuyến bay 103, của Mỹ bị nổ bom trên
không phận Lockerbie của Tô Cách Lan, giết chết tổng cộng 270
người. Cuộc điều tra kết thúc năm 1991 với kết quả cho
biết rằng chính phủ Libya có dính líu vào vụ này. Từ năm
1992 trở đi Liên Hiệp Quốc bắt đầu cấm vận Libya, đòi
chính phủ Libya phải giải giao nghi can của vụ nổ bom.

Giai đoạn từ 1999-2006: Năm 1999, chính phủ Gadhafi đồng ý
giải giao nghi phạm vụ Pan Nam 103 nói trên cho toà án Tô Cách
Lan xét xử. Và sau đó chính phủ Libya chấp nhận bồi thường
cho các gia đình nạn nhân theo như đòi hỏi của Mỹ và Liên
Hiệp Quốc. Số tiền bồi thường là 2.7 tỉ dollars được
chuyển cho gia đình nạn nhân năm 2003. Sau đó việc cấm vận
đã được chấm dứt. Cùng năm Gadhafi tuyên bố từ bỏ việc
sỡ hữu vũ khí huỷ diệt hàng loạt và vũ khí nguyên tử. Từ
đó trở đi quan hệ Mỹ-Libya trở nên hoà dịu hơn, các công ty
dầu hoả của Mỹ bắt đầu được phép trở lại Libya. Đến
năm 2006 quan hệ bình thường giữa hai quốc gia được chính
thức tái lập.

Libya của Gadhafi luôn chống lại Al-Qaeda. Bằng chứng là trong
những cuộc mật đàm giữa Mỹ thời TT Clinton và Libya ở Geneva
năm 1999, đại diện của Libya hưởng ứng việc chống Al-Qaeda.
Libya cũng thỏa thuận mở các nhà máy hoá chất cho quốc tế
kiểm tra. Các cuộc mật đàm đó do đại sứ Saudi Arabia ở Mỹ
là hoàng tử Bandar Bin Sultan làm trung gian.

Theo bác sĩ Ronald Bruce St. John, của cơ quan The International
Advisory Board of The Journal of Libyan Studies, thì sau 9/11 Libya cộng
tác mật thiết với Mỹ trong mặt trận chống khủng bố
Al-Qaeda, cơ quan tình báo của Libya đã cung cấp toàn bộ tin
tức liên quan đến Al-Qaeda cho phía Mỹ. Gadhafi ngay cả đã treo
thưởng 1 triệu dollars cho những ai cung cấp tin tức về các
tổ chức Hồi giáo cực đoan chống chính phủ. Sỡ dĩ như vậy
là vì trong một thời gian dài Gadhafi đã từng là mục tiêu
tấn công của các nhóm Al-Qaeda ở Trung Đông.

Trong cuộc nội chiến hiện nay,nhìn bề ngoài Mỹ dường như
không có lợi ích quốc gia gì thiết thực và lớn lao ở Libya.
Mặt khác, hai cuộc chiến Iraq và Afghanistan chưa giải quyết
xong và đang cầm chân một lực lượng quân sự quan trọng của
Mỹ. Điều đó chắc đã khiến Ngũ Giác Đài hết sức cân
nhắc trong việc trực tiếp đưa quân vào tham chiến ở một
quốc gia có tầm chiến lược thấp như Libya. Bởi vì việc đó
sẽ khiến cho lực lượng dự trữ chiến lược toàn cầu của
Mỹ bị dàn mỏng ra, khiến cho khả năng phản ứng cấp thiết
đối với những vùng khác trên thế giới sẽ bị thu hẹp một
cách đáng ngại. Chưa kể là một khi đã đưa quân vào thì
cuộc chiến tất nhiên sẽ mở rộng, thời gian bình định để
lập chính quyền mới sẽ kéo dài, tổn phí sẽ lên cao hơn;
ngay ở Afghanistan không thôi, đã tốn mất gần 2 tỉ dollars/
tuần. Có lẽ vì vậy mà Bộ trưởng QP Robert Gates trước đây,
khi điều trần trước Quốc Hội, đã khẳng định rằng Mỹ
sẽ không đưa bộ binh vào Libya.

Tuy nhiên sâu bên trong, Mỹ có những lý do quan trọng để can
thiệp vào Libya. Từ mấy mươi năm qua, Libya do Gadhafi lãnh đạo
là một quốc gia có mức độ tự chủ, độc lập rất cao
đối với sự chi phối của các chính phủ Mỹ. Gadhafi, một
mặt hoà hoãn với Mỹ, để khỏi tiếp tục bị cấm vận,
nhưng mặt khác lại muốn gia tăng quan hệ với Trung Quốc và
Nga để duy trì tư thế độc lập của mình. Ngược lại phía
Trung Quốc và Nga cũng muốn gia tăng ảnh hưởng của mình ở
Phi Châu qua sự trung gian của Libya-Gadhafi, một nước đang có uy
tín ở Phi Châu. Như vậy rõ ràng dù đã trở lại hoà hoãn
với nhau, Mỹ vẫn luôn xem Libya của Gadhafi là cái gai trong mắt
cần phải thanh toán bằng biện pháp "regime change".

<em>(Còn tiếp)</em>

California 20/9/2011

<strong>Trương Đình Trung</strong>
____________________________

http://www.npr.org/player/v2/mediaPlayer.html?action=1&t=1&islist=false&id=140642290&m=140643674
http://siteresources.worldbank.org/INTEEI/Data/21836829/EGY08.pdf
http://countrystudies.us/libya/45.htm. Source: U.S. Library of Congress
http://siakhenn.tripod.com/capita.html.
http://hdrstats.undp.org/en/indicators/99.html.
http://bigthink.com/ideas/21237.
Ibid. Cùng nguồn trên.
http://www.c-spanvideo.org/program/298688-4
http://www.nytimes.com/2004/01/23/opinion/why-libya-gave-up-on-the-bomb.html
http://www.mepc.org/journal/middle-east-policy-archives/libya-and-united-states-faustian-pact.
http://www.cbc.ca/news/world/story/2011/03/31/libya-nato-un-gadhafi.html?ref=rss
http://www.stratfor.com/analysis/20110323-europes-libya-intervention-france-and-united-kingdom
http://www.stratfor.com/analysis/20110318-egyptian-involvement-libya.
http://www.stratfor.com/analysis/20110311-libyan-foreign-investment-and-foreign-policy-africa
http://www.herald.co.zw/Jean-Paul Pougala.
http://www.un.org/ga/search/view_doc.asp?symbol=A%2F64%2FPV.3&Submit=Search&Lang=E
Blanchard, Christopher M., US Congress Report Service, August 2009.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10038), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét