(HNM) - EVN kinh doanh viễn thông là lĩnh vực ngoài ngành, nhằm
tận dụng lợi thế cơ sở vật chất và cũng phù hợp với
các quy định của pháp luật nhằm huy động các nguồn lực cho
đầu tư phát triển, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh
của doanh nghiệp.
Vấn đề không bình thường ở đây khi EVN xử lý sự thua lỗ
của viễn thông bằng cách chuyển khoản lỗ này sang phần kinh
doanh điện. Việc chuyển các khoản lỗ từ kinh doanh viễn
thông sang kinh doanh điện không chỉ làm sai lệch giá trị thực
của giá điện mà còn gây những hệ lụy khác về lòng tin
của người dân.
<h2>Thất bại viễn thông</h2>
Như chúng ta đã biết, EVN kinh doanh viễn thông với rất nhiều
lợi thế từ cơ sở vật chất của ngành. Tuy nhiên, kinh doanh
điện và kinh doanh viễn thông ở nước ta là hai lĩnh vực khác
nhau quá xa. Vì thế, nếu EVN mang tư tưởng kinh doanh điện sang
kinh doanh viễn thông thì sẽ rất bất cập. Bởi lẽ, kinh doanh
điện ở nước ta vẫn còn là độc quyền tự nhiên; viễn
thông thì phải cạnh tranh quyết liệt.
<center><img
src="http://hanoimoi.com.vn/Uploads/tuanphong/2011/9/14/EVN-telecom_jpg.jpg"
/></center>
<center><em>Việc chuyển các khoản lỗ viễn thông sang phần kinh
doanh điện không chỉ làm sai lệch giá trị thực của giá
điện mà còn làm mất lòng tin của người dân.</em></center>
Lợi thế về cơ sở vật chất cũng như nhân lực của EVN cũng
chính là cái bất lợi nếu EVN không tìm được cách điều
hành hợp lý. Đơn cử, hệ thống cáp quang có nhiều, đầy
đủ nhưng lại thiếu sự liên kết trong quản lý (EVNTelecom và
các điện lực, tổng công ty truyền tải cùng tham gia quản lý
và vận hành), một hệ thống truyền dẫn cáp quang trên 63
tỉnh, thành có nhiều đơn vị khác nhau quản lý và vận hành,
điều này dẫn đến chậm và phức tạp khi xử lý sự cố,
không đáp ứng được yêu cầu của khách hàng và đây chính
là yếu tố gây trở ngại trong điều hành và kinh doanh viễn
thông.
Bên cạnh đó, hầu hết các tuyến cáp quang (cả phần thiết
bị truyền dẫn lẫn cáp quang) trong địa bàn tỉnh lại do các
đơn vị điện lực tự đầu tư, không có quy hoạch tổng thể
toàn hệ thống 63 tỉnh, thành, thiếu tính đồng bộ, mạnh
đơn vị nào đơn vị ấy tổ chức đầu tư lắp đặt, sau đó
kết nối với mạng đường trục của EVNTelecom. Điều đó
dẫn đến dễ bị tắc nghẽn khi nhu cầu thực tế khách hàng
tăng lên (vì thiết bị truyền dẫn không đủ năng lực, trong
khi dung lượng và số sợi cáp quang dư thừa), vấn đề này
đã và sẽ tiếp tục cản trở việc kinh doanh viễn thông của
EVN khi cạnh tranh với VNPT và Viettel.
63 tỉnh, thành đều có đơn vị điện lực, vì thế đều có
thể kinh doanh viễn thông được. Đây là thế mạnh để phát
triển khách hàng. Vì vậy, sau khi được phép kinh doanh viễn
thông công cộng, ban đầu EVN là doanh nghiệp phát triển khách
hàng với tốc độ khá nhanh. Nhưng do nhiệm vụ chính của
điện lực là kinh doanh điện, chức năng chăm sóc khách hàng
không như viễn thông nên không giữ được khách hàng. Các đơn
vị điện lực đều phải thực hiện cùng lúc hai nhiệm vụ
là kinh doanh điện và kinh doanh viễn thông, trong khi đó
EVNTelecom là đơn vị kinh doanh viễn thông chính lại không tham
gia kinh doanh trực tiếp, không giao tiếp trực tiếp với khách
hàng mà phải thông qua các đơn vị điện lực. Do đó,
EVNTelecom không nắm bắt kịp thời nhu cầu và phản ảnh của
khách hàng. Điều này đã khiến cho EVNTelecom bị xếp hạng
chăm sóc khách hàng kém nhất trong các đơn vị kinh doanh viễn
thông.
Thêm nữa, CDMA là công nghệ duy nhất ở Việt Nam nên thiết
bị đầu cuối (handset - điện thoại mobile, điện thoại để
bàn không dây) không được xã hội hóa, không được bán trong
các cửa hàng bán lẻ thông thường trên thị trường mà phải
mua từ các cửa hàng của EVN. Điều này dẫn đến khách hàng
sử dụng thiết bị đầu cuối của EVNTelecom không thể sửa
chữa được ở cửa hàng điện thoại nào như công nghệ của
Viettel, Vinamobi… mà phải tìm đến địa điểm quy định, có
nơi một huyện mới có một điểm, rất bất tiện cho khách
hàng. Do không được xã hội hóa nên đã ảnh hưởng lớn
đến việc chăm sóc khách hàng.
Cũng vì thiết bị đầu cuối không xã hội hóa được nên giá
thành mua rất cao, trong khi đó muốn cạnh tranh trên thị
trường thì lại phải bán rẻ hơn giá mua. Để bù đắp vào
khoản chênh lệch này, EVNTelecom phải tính vào chi phí khiến cho
chi phí cao, càng mua nhiều thiết bị đầu cuối càng lỗ và
hệ quả là doanh thu mỗi ngày một giảm và kết quả là doanh
thu không bù được chi phí, dẫn đến kinh doanh bị lỗ.
Vì lý do trên, các tổng công ty điện lực không tiếp tục mua
thiết bị đầu cuối. Nhưng không mua thiết bị đầu cuối thì
sẽ không phát triển được khách hàng, không có thiết bị
để thay thế cho khách, dẫn đến khách hàng rời khỏi mạng
EVNTelecom và như vậy đồng nghĩa với việc thị phần bị teo
lại trong khi kinh doanh viễn thông đang phải đối mặt với
thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Cho đến thời điểm này, EVN đã đầu tư hàng nghìn tỷ đồng
cho dịch vụ 3G nhưng không kinh doanh hiệu quả do chỗ có sóng,
chỗ không. Cả dải miền Trung chỉ có Đà Nẵng có sóng nhưng
cũng không ổn định (do không đầu tư triển khai khu vực này).
Chất lượng mạng 3G như vậy không thể cạnh tranh được với
Viettel và VNPT cho nên rất ít khách hàng sử dụng dịch vụ 3G
của EVN. Doanh thu của 3G hiện nay (sau hơn một năm triển khai
kinh doanh 3G) chỉ từ 2,5 đến 3 tỷ đồng/tháng, thay vì với
mức vốn đã đầu tư thì doanh thu phải đạt ít nhất 10 lần
mới đủ hoàn trả vốn trong 10 năm khấu hao.
<h2>Chuyển lỗ cho các đơn vị điện lực!</h2>
Ngày 11-7-2008, EVN ban hành Quyết định số 415/QĐ-EVN-HĐQT về
việc ban hành Quy chế Quản lý tài chính đối với hoạt động
viễn thông công cộng áp dụng trong Tập đoàn Điện lực Việt
Nam, theo đó quy định, dịch vụ CDMA, đối với các thuê bao
trả sau, EVNTelecom mua thiết bị đầu cuối, các công ty điện
lực chịu chi phí hỗ trợ thiết bị đầu cuối theo tỷ lệ
45% thì được hưởng 45% doanh thu cước dịch vụ phát sinh;
EVNTelecom hưởng 55%.
Ở thời gian này, EVNTelecom đã vay tiền để mua thiết bị
đầu cuối và các thiết bị này được giao cho các đơn vị
điện lực bán. Như vậy, thiết bị đầu cuối này được các
đơn vị điện lực bán và giao lại cho EVNTelecom 55% giá trị,
45% giá trị còn lại của thiết bị này các điện lực sẽ
trả dần cho EVNTelecom trong 5 năm, còn doanh thu được chia với
tỷ lệ đơn vị điện lực 45% và EVNTelecom 55%. Vậy tại sao
việc kinh doanh lại bị lỗ?
Ngoài các yếu tố về mô hình tổ chức và công nghệ, phải
kể đến các quy chế tài chính đối với hoạt động viễn
thông công cộng được áp dụng trong EVN. Tính đến nay, đầu
tư thiết bị của EVNTelecom đã lên tới khoảng 4.500 tỷ
đồng, với việc áp dụng quy chế tài chính chia tỷ lệ 45%/55%
thì EVN phải đạt doanh thu 9.000 tỷ đồng. Đây là con số
không khả thi trong điều kiện kinh doanh viễn thông hiện nay
của EVN.
Khi EVNTelecom khó có khả năng vay tiền để đầu tư thiết bị
đầu cuối, ngày 29-9-2009, EVN lại ban hành Quyết định số
497B/QĐ-EVN về việc ban hành quy chế quản lý tài chính thay cho
Quyết định 415/QĐ-EVN-HĐQT ngày 11-7-2008. Quyết định số 497B
quy định: Đối với thuê bao phát triển từ ngày 30-9-2009 trở
về trước, các công ty điện lực chịu chi phí hỗ trợ thiết
bị đầu cuối theo tỷ lệ 45% và được hưởng 45% doanh thu
cước dịch vụ phát sinh (sau khi đã trừ cước các dịch vụ
GTGT của các nhà cung cấp khác và chi phí khuyến mãi); EVNTelecom
chịu chi phí hỗ trợ thiết bị đầu cuối là 55% và được
hưởng phần doanh thu còn lại. Đối với thuê bao phát triển
từ ngày 1-10-2009, các công ty điện lực chịu trách nhiệm
đầu tư mua thiết bị đầu cuối và chịu 100% chi phí hỗ trợ
thiết bị đầu cuối thì các công ty điện lực được hưởng
60% doanh thu cước dịch vụ phát sinh (sau khi trừ cước các
dịch GTGT của các nhà cung cấp khác và chi phí khuyến mãi);
EVNTelecom được hưởng phần còn lại.
Sau khi phân tích tài chính năm 2009 của EVNTelecom thấy bị lỗ
khoảng 1.026 tỷ đồng, vào tháng 3-2010 EVN đã quyết định
chuyển toàn bộ khoản lỗ này sang các tổng công ty điện lực
bằng quyết định tăng giảm vốn đầu tư của EVN tại công ty
con. Khoản tiền này sẽ được treo nợ trả dần trong 5 năm
kể từ năm 2009.
Thực chất của bài toán chuyển tài sản này sẽ làm giảm lỗ
trên sổ sách của EVNTelecom, giúp cho bức tranh tài chính của
EVNTelecom có vẻ sáng sủa hơn. Để giảm lỗ cho EVNTelecom, cũng
trong tháng 3-2010, EVN lại quyết định áp dụng thay thế tỷ
lệ 45%/55% bằng tỷ lệ 30%/70% áp dụng để tính toán cho năm
2009.
Mỗi năm, ngành điện cần tới hàng chục nghìn tỷ đồng để
phát triển các công trình nguồn, lưới... EVN thiếu vốn là
một thực tế. Nhưng sự việc xử lý các khoản lỗ của
EVNTelecom và những hệ lụy của nó đã làm sai lệch sự nhìn
nhận của người dân đối với giá điện.
Nhóm PV điều tra
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/9939), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét