Tại sao các nhà nghiên cứu về Trung Đông không thấy trước Mùa Xuân Ả Rập

<div class="special_quote">Trong tiểu luận sau đây, Giáo sư F.
Gregory Gause III nêu bật tính bất khả tiên liệu (the
unpredictability) của các cuộc cách mạng Trung Đông. Những cái
tát bất ngờ "long trời lở đất" đã diễn ra trên mọi
lĩnh vực – quân đội, kinh tế, và xã hội Ả Rập: (1) Mặc
dù nhìn nhận rằng phức hợp quân đội-công an (the
military-security complex) là một cột trụ chính cho sự bền vững
của các chế độ độc tài, nhưng tác giả cũng nhấn mạnh
rằng khi một quân đội đã phát triển thành một cơ chế
chuyên nghiệp với sự tự tin của các tướng lĩnh là sẽ
không bị mất binh quyền lúc cách mạng thành công, thì quân
đội đó có nhiều khả năng đứng về phía nhân dân thay vì
thẳng tay đàn áp các cuộc biểu tình. Đó là trường hợp
điển hình của quân đội Ai Cập và quân đội Tunisia. Mặt
khác, những lực lượng vũ trang vốn là công cụ của một
thiểu số độc tài, dù được nhồi sọ "còn lãnh tụ còn
mình", cũng có những lựa chọn khác nhau trước các cuộc
nổi dậy của dân chúng: đào ngũ theo phe chống đối, đứng
bên lề, bỏ về nhà, hoặc ngoan cố chống lại nhân dân để
duy trì quyền lợi phe nhóm – đây là trường hợp Libya; (2)
Những cải tổ theo kinh tế thị trường và tự do mậu dịch,
trước đây tưởng là có thể tạo được một tầng lớp trung
lưu cần thiết cho sự bền vững của chế độ, hóa ra lại
chỉ tạo ra những bất bình đẳng siêu nghiêm trọng, giữa
một bên là thiểu số quá giàu có và con ông cháu cha gắn
liền với chế độ và bên kia là tuyệt đại đa số dân chúng
bị tước đoạt nhân phẩm và quyền sống (Tình hình này không
khác mấy với Trung Quốc); (3) Khác với các cuộc cách mạng
dưới thời Nasser, các cuộc nổi dậy Ả Rập hiện nay mang
tính cách "vô lãnh đạo" (the leaderless quality) và nhờ công
nghệ Internet xuyên biên giới đã tạo nên một hình thái mới
cho chủ nghĩa Liên-Ả Rập (the new pan-Arabism), một tinh thần
liên đới có khả năng ảnh hưởng chính sách của Mỹ tại
Trung Đông.

Bauxite Việt Nam</div>

<em><strong>(Huyền thoại về sự ổn định của các chế độ
độc tài)</strong></em>

Đại đa số các chuyên gia nghiên cứu thế giới Ả Rập đã
lấy làm sửng sốt như mọi người khác về những biến động
đã lật đổ hai nhà lãnh đạo Ả Rập vào mùa đông năm ngoái
và hiện vẫn còn đe dọa nhiều nhà độc tài khác. Rõ ràng là
các chế độ Ả Rập đã bị người dân oán ghét và phải
đối phó nhiều vấn đề nghiêm trọng về dân số, kinh tế,
và chính trị. Thế nhưng, các học giả chỉ tập trung vào
việc lý giải điều mà họ cho là khía cạnh thú vị và khác
thường của chính trị Ả Rập: sự bền vững của các nhà
lãnh đạo phi dân chủ.

Mãi cho đến năm nay, thế giới Ả Rập vẫn khoa trương một
danh sách dài gồm những nhà lãnh đạo như thế. Muammar
al-Qaddafi lên cầm quyền tại Libya năm 1969; gia đình Assad cai
trị Syria từ năm 1970; Ali Abdullah Saleh trở thành tổng thống
Bắc Yemen (về sau thống nhất với Nam Yemen) năm 1978; Hosni
Mubarak lên cầm quyền tại Ai Cập năm 1981; và Zine el-Abidine Ben
Ali nhậm chức tổng thống Tunisia năm 1987. Các chế độ quân
chủ thậm chí còn tồn tại lâu dài hơn: dòng họ Ha-si-mit cai
trị Jordania từ ngày nước này được thành lập năm 1920, gia
đình al-Saud trị vì một Ả Rập Saudi thống nhất từ năm 1932,
và vương triều Alaouite lên cầm quyền lần đầu tiên tại
Maroc vào thế kỷ XVII.

Những chế độ này vẫn tồn tại qua một thời kỳ nhiều
thập kỷ khi những làn sóng dân chủ cuồn cuộn chảy qua Đông
Á, Đông Âu, châu Mỹ La tinh, và các nước châu Phi phía Nam sa
mạc Sahara. Thậm chí các quốc gia láng giềng của các nước
Ả Rập này trong vùng Trung Đông Hồi giáo (Iran và Thổ Nhĩ
Kỳ) cũng trải qua những biến chuyển chính trị to lớn vào
giai đoạn đó, với một cuộc cách mạng và ba thập kỷ đấu
tranh chính trị tiếp theo tại Iran và một đảng chính trị mang
màu sắc Hồi giáo ra sức xây dựng một chế độ cởi mở và
dân chủ hơn tại Thổ Nhĩ Kỳ, một quốc gia thế tục.

Đối với nhiều chuyên gia nghiên cứu Trung Đông, hồ sơ về
sự ổn định phi thường của các chế độ đang gặp nhiều
thử thách này đã đòi hỏi sự chú ý và cách lý giải của
họ. Tôi là một trong những chuyên gia ấy. Trong một bài viết
trên tạp chí Foreign Affairs này vào năm 2005 ("Thể chế dân
chủ có thể chặn đứng chủ nghĩa khủng bố không?" Số
tháng Chín/tháng Mười 2005), tôi lý luận rằng Hoa Kỳ không
nên khuyến khích dân chủ trong thế giới Ả Rập vì các đồng
minh Ả Rập độc tài của Hoa Kỳ tiêu biểu cho sự đánh cuộc
chắc nịch (stable bets) về tương lai. Về điểm này, tôi đã
sai lầm một cách ngoạn mục. Tôi còn tiên đoán rằng các
Chính phủ dân chủ Ả Rập sẽ tỏ ra không muốn hợp tác với
các mục tiêu đối ngoại của Hoa Kỳ ở trong vùng. Điều này
thì hiện nay vẫn còn là một câu hỏi mở. Mặc dù hầu hết
các đồng nghiệp của tôi lúc đó đã bắt đầu ủng hộ các
nỗ lực của Hoa Kỳ nhằm khuyến khích cải tổ chính trị Ả
Rập, nhưng tôi gần như không phải là kẻ duy nhất hoài nghi
về viễn tượng của một chuyển biến dân chủ thực sự khi
người dân đang còn đối diện với những chế độ độc tài
tưởng chừng không có gì lay chuyển được.

Việc tìm hiểu những gì chúng ta đã bỏ sót và những gì
chúng ta đã đánh giá quá cao trong các lối giải thích về sự
ổn định của các chế độ độc tài Ả Rập – và việc tìm
hiểu vì sao chúng ta đã làm như thế – có ý nghĩa vượt lên
trên lĩnh vực nghiên cứu. Những nhà phân tích thời sự vùng
này phải xác định điều gì đã thay đổi trong các lực
lượng đã củng cố bốn thập niên ổn định của các chế
độ Ả Rập và những yếu tố mới mẻ nào đã xuất hiện
để châm ngòi cho những cuộc nổi dậy hiện nay. Làm được
điều này sẽ cho phép các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ
đối phó các cuộc nổi dậy Ả Rập một cách hữu hiệu hơn,
bằng cách cung ứng cho họ một cái nhìn quán triệt về các
yếu tố sẽ thúc đẩy nền chính trị hậu cách mạng trong
thế giới Ả Rập.

<h2>Các nhà nước Ả Rập và quân đội của họ</h2>

Nhiệm vụ đầu tiên là phải xác định điều gì giới nghiên
cứu đã biết và đã không biết. Trước hết, điều quan
trọng là phải nhìn nhận rằng rất ít, nếu có, nhà nghiên
cứu tình hình Trung Đông nào giải thích sự ổn định kỳ lạ
của các chế độ Ả Rập theo quan điểm thuần văn hóa –
đây là một dấu hiệu tiến bộ so với giới nghiên cứu trong
các thời kỳ trước đây. Các tác phẩm bàn về sự tồn tại
lâu dài của các nhà độc tài Ả Rập không chứa đựng những
luận điệu cũ rích như cho rằng Hồi giáo là xung khắc với
dân chủ hay cho rằng văn hóa Ả Rập vẫn còn quá gia trưởng
và quá thủ cựu đến nỗi không thể hậu thuẫn các chuyển
biến dân chủ. Chúng ta đã thấy rằng quan niệm dân chủ là
rất hợp lòng dân trong thế giới Ả Rập và rằng khi có
quyền lựa chọn thực sự bằng lá phiếu, người dân Ả Rập
đã tham gia các cuộc bầu cử rất đông đảo. Chúng ta còn
hiểu được rằng người dân Ả Rập đã không chấp nhận
chế độ độc tài một cách thụ động. Từ An-giê-ri đến Ả
Rập Saudi, các nhà độc tài Ả Rập đã có thể nắm quyền
liên tục trong suốt 40 năm qua chỉ bằng một cách duy nhất là
dập tắt một cách thô bạo các mưu toan của dân chúng nhằm
lật đổ họ – dù các mưu toan đó được thúc đẩy vì đàn
áp chính trị hay vì giá lương thực. Người dân Ả Rập chắc
chắn đã từng chứng tỏ nguyện vọng và khả năng vận động
các cuộc tranh đấu chống Chính phủ của họ. Nhưng trước
năm 2011, những Chính phủ này đã cực kỳ thành công trong
việc chiêu dụ và ngăn chặn những người chống đối.

Do đó, những nhà nghiên cứu đã hướng sự quan tâm của mình
vào việc giải thích các cơ chế mà các nhà nước Ả Rập đã
phát triển nhằm vượt qua nỗi bất bình của dân chúng. Mặc
dù nhiều học giả khác nhau đã tập trung vào nhiều khía cạnh
khác nhau của vấn đề này, từ các cơ chế đối nội đến
các chiến lược của Chính phủ, hầu hết mọi người đã gán
ghép sự ổn định của các chế độ độc tài Ả Rập với
hai yếu tố thông dụng: phức hợp quân đội-công an (the
military-security complex) và quyền kiểm soát của nhà nước đối
với nền kinh tế. Trong mỗi lĩnh vực này, chúng ta trong cộng
đồng nghiên cứu đã tạo ra các giả định (assumptions), mặc
dù có thể có giá trị trong quá khứ, nhưng hóa ra sai lầm vào
năm 2011.

Hầu hết các nhà nghiên cứu đinh ninh rằng có một sự gắn
bó không có gì chia cắt được giữa các chế độ cầm quyền
với quân đội và các lực lượng công an. Giả định này
không phải là vô lý. Nhiều vị Tổng thống Ả Rập đã từng
phục vụ trong quân ngũ trước khi lên cầm quyền chính trị,
trong số này có Ben Ali và Mubarak. Tiếp theo sau các cuộc đảo
chính của thập niên 1950 và thập niên 1960, các nhà lãnh đạo
Ả Rập đã tạo ra nhiều cơ chế để thực thi quyền kiểm
soát chính trị đối với quân đội và, trong một số trường
hợp, đã thành lập các lực lượng quân sự cạnh tranh nhau
nhằm tạo thế quân bình trong quân đội. Các quân đội Ả
Rập đã giúp các chế độ cầm quyền thắng các cuộc nội
chiến và dập tắt các cuộc nổi dậy. Do đó, các chuyên gia
về Trung Đông đã đi đến giả định cho rằng các quân đội
Ả Rập và các lực lượng an ninh sẽ không bao giờ ly khai với
lãnh đạo chính trị của mình.

Thực tế đã rõ ràng chứng minh rằng giả định này là sai
lầm. Các học giả đã không thấy trước hoặc không hiểu
được những cách uyển chuyển mà các quân đội Ả Rập đã
phản ứng trước những cuộc biểu tình bất bạo động của
đông đảo quần chúng. Sai lầm này đã xảy ra vì cộng đồng
chuyên gia về Trung Đông gần như đã mất hứng thú trong việc
nghiên cứu vai trò của quân đội trong chính trường Ả Rập.
Mặc dù trước đó đề tài này từng là chủ đề nghiên cứu
của các học giả Mỹ về vấn đề Trung Đông – khi các cuộc
đảo chính quân sự Ả Rập vào những thập niên 1950 và 1960
chiếm sự quan tâm của giới hàn lâm thời đó – sự ổn
định phi thường của các chế độ độc tài Ả Rập đã đưa
chúng ta đến giả định cho rằng vấn đề này không còn quan
trọng nữa. Tuy nhiên, một sự duyệt xét sơ bộ về các cuộc
nổi dậy đã diễn ra cho thấy rằng có hai yếu tố ảnh
hưởng cách phản ứng của các quân đội Ả Rập trước bất
ổn xã hội: một là, thành phần xã hội của chế độ và
của quân đội; hai là, mức độ cơ chế hóa và chuyên nghiệp
hóa của bản thân quân đội.

Là những quốc gia trong đó quân đội, như một cơ chế, đã
đứng về phía người biểu tình, Ai Cập và Tunisia là hai trong
những xã hội thuần nhất nhất (the most homogeneous) của thế
giới Ả Rập. Tuyệt đại đa số dân chúng của hai xã hội
này là người Hồi giáo Sunnitte. (Thiểu số Thiên chúa giáo cổ
[Coptic] tại Ai Cập đóng một vai trò xã hội quan trọng nhưng
không có quyền lực chính trị bao nhiêu). Cả quân đội Ai Cập
lẫn quân đội Tunisia tương đối là chuyên nghiệp, và cả hai
đều không phải là công cụ cá nhân của nhà lãnh đạo đất
nước. Các vị tư lệnh quân đội trong hai quốc gia này nhận
thức rằng cơ chế của họ có thể đóng một vai trò quan
trọng dưới chế độ mới và vì thế đã dám liều lĩnh tống
khứ giới lãnh đạo cũ ra khỏi vị trí quyền lực.

Tại những nước Ả Rập có các lực lượng vũ trang ít
được cơ chế hóa hơn, những nơi mà các ngành công an được
vị thủ lĩnh độc tài trực tiếp lãnh đạo và được sử
dụng như công cụ riêng của ông và gia đình ông, những lực
lượng này thường phân hóa hay tan rã khi đối diện với các
cuộc biểu tình của dân chúng. Tại Libya và Yemen, những đơn
vị quân đội và công an do chính gia đình của các vị thủ
lĩnh cầm đầu vẫn tiếp tục hậu thuẫn chế độ, trong khi
các đơn vị khác đào ngũ sang phía chống đối, đứng bên
lề, hay chỉ việc bỏ về nhà.

Trong những xã hội phân hóa sâu sắc, nơi mà chế độ chỉ
đại diện cho một thiểu số sắc tộc, giáo phái, hay địa
phương và đã đào tạo được một đội ngũ sĩ quan do thiểu
số cầm quyền khống chế, cho đến nay quân đội vẫn còn
hậu thuẫn chế độ. Các lực lượng an ninh do người Hồi
giáo Sunnitte lãnh đạo tại Bahrain, một quốc gia đa số theo
Hồi giáo Shiitte, vẫn cương quyết đàn áp người biểu tình
để duy trì chế độ quân chủ Sunnitte. Quân đội Jordania vẫn
trung thành với chế độ quân chủ, bất chấp bất ổn chính
trị trong cộng đồng đa số Palestine của nước này. Vệ binh
Quốc gia của Ả Rập Saudi, được tuyển mộ chủ yếu từ các
bộ lạc Ả Rập ở miền Trung và miền Tây nước này, sẵn
sàng bảo vệ triều đại Ả Rập al-Saud ở miền Tây.Trong mỗi
nước này, lý luận đơn giản là: nếu chế độ sụp đổ và
phe đa số nắm quyền, thì giới lãnh đạo quân đội [thuộc
thiểu số] cũng sẽ bị thay thế.

Phản ứng của quân đội Syria đối với cuộc khủng hoảng
chính trị của chế độ Assad sẽ cung ứng một phép thử quan
trọng cho giả thuyết này. Các thành viên của gia đình Assad
chỉ huy những đơn vị quân đội quan trọng, trong khi những
người theo giáo phái Ali (Alawites) và các thành viên của các
nhóm thiểu số khác chiếm một bộ phận lớn trong đội ngũ
sĩ quan tại quốc gia đa số Sunnitte này. Nếu sự đoàn kết
của các nhóm thiểu số còn kéo dài, thì Assad có thể giữ
được quyền lực. Nhưng nếu các sĩ quan bất mãn bắt đầu
nhận thấy quân đội chỉ là một công cụ của bản thân gia
đình Assad, họ có thể lật đổ chế độ. Tùy theo trường
hợp này hay trường hợp khác, một khi tình hình ổn định
trở lại, các nhà nghiên cứu về Trung Đông sẽ phải duyệt
xét lại các giả định của mình về mối quan hệ giữa các
nhà nước Ả Rập với quân đội của mình – có lẽ đây là
yếu tố then chốt trong việc quyết định sự sống còn của
chế độ trong một cuộc khủng hoảng chính trị.

<h2>Yếu tố cải tổ kinh tế</h2>

Sự kiểm soát của nhà nước đối với nền kinh tế tại [các
quốc gia] Trung Đông là một cột trụ khác được các nhà
nghiên cứu nhìn nhận là cần thiết cho sự ổn định của
chế độ. Các học giả thừa nhận rằng các nhà nước Ả
Rập có trong tay những trữ lượng và lợi tức dầu hỏa to
lớn đã sử dụng của cải này để kiểm soát nền kinh tế
quốc gia, xây dựng hệ thống ô dù, cung cấp các dịch vụ xã
hội, và chỉ đạo việc phát triển các khu vực kinh tế tư
nhân lệ thuộc vào chế độ. Qua những ngân quỹ này, các nhà
cai trị Ả Rập đã ràng buộc lợi ích của các khối cử tri
quan trọng với sự sống còn của chế độ và đã xoa dịu các
bộ phận dân chúng khác bằng cách bố thí cho họ trong các
thời kỳ khủng hoảng. Thật vậy, từ khi các cuộc nổi dậy
hiện nay bắt đầu xảy ra, chỉ có Libya là nước duy nhất
trong các nước xuất khẩu dầu hỏa quan trọng tại Trung Đông
(An-giê-ri, Iraq, Cô-oét, Libya, Ca-ta, Ả Rập Saudi, Các Tiểu
vương quốc Ả Rập Thống nhất) gặp sự thử thách nghiêm
trọng. Được tiếp sức nhờ giá dầu hỏa tăng cao, các nước
xuất khẩu dầu hỏa khác đã chặn đứng tiềm năng chống
đối bằng cách phân phối nguồn lực qua việc tăng lương công
nhân viên nhà nước, tăng trợ cấp cho các hàng tiêu thụ, và
trực tiếp bố thí (direct handouts) cho người dân. Trường hợp
Qaddafi chứng minh rằng tiền dầu hỏa phải được sử dụng
một cách đúng đắn, chứ không được phung phí vào các dự
án do sở thích cá nhân (pet projects) và các ý đồ ngu xuẩn,
mới mong nó bảo vệ được chế độ. Như vậy, những cuộc
nổi dậy của dân chúng Ả Rập gần đây có vẻ chứng minh
được luận điểm này trong các giả định của giới nghiên
cứu về sự ổn định chế độ.

Tuy nhiên những cuộc nổi dậy năm nay đã đặt nghi vấn đối
với các nền tảng kinh tế trong lý luận về ổn định chế
độ khi ta bàn đến các quốc gia không sản xuất dầu hỏa.
Mặc dù các quốc gia dầu hỏa Ả Rập đã dựa vào lợi tức
dầu hỏa của mình để tránh việc cải tổ kinh tế, nhưng
những biến chuyển trong nền kinh tế thế giới và những
điều kiện tự do hóa kinh tế mà các nước cấp viện trợ
đã đòi hỏi trong hai thập kỷ qua buộc các quốc gia không
sản xuất dầu hỏa phải hiện đại hóa nền kinh tế của
họ. Một số chế độ Ả Rập, gồm các chế độ tại Ai
Cập, Jordania, Maroc, và Tunisia, đã tư hữu hóa các xí nghiệp
nhà nước, khuyến khích đầu tư nước ngoài, đặt ra các
khích lệ vật chất để khởi động khu vực tư, và cắt giảm
các trợ cấp và các chi phí nhà nước, những chi tiêu đã
ngốn hết ngân sách chính phủ. Những cải tổ kinh tế kiểu
đồng-thuận-Washington này [kinh tế thị trường và tự do mậu
dịch] đã tăng thêm các bất bình đẳng xã hội và làm cho
đời sống người nghèo trở nên khó khăn thêm, nhưng chúng
cũng mở ra những vận hội mới cho các doanh nhân địa phương
và cho phép các giai cấp thượng lưu được hưởng sự lựa
chọn các mặt hàng tiêu thụ to lớn hơn nhờ một chế độ
mậu dịch được tự do hóa. Một số chuyên gia nghiên cứu
tình hình Trung Đông đã cho rằng tiến trình tự do hóa kinh tế
có thể tạo ra các cơ sở hậu thuẫn cho những nhà độc tài
Ả Rập và khuyến khích mức tăng trưởng kinh tế cần thiết
để đối phó những thách thức do dân số ngày một gia tăng
(như các cải tổ kinh tế tại Thổ Nhĩ Kỳ đã mang lại thêm
nhiều hậu thuẫn cho Đảng Công lý và Phát triển đang cầm
quyền tại nước này). Trong khi đó, các Chính phủ phương Tây
cổ vũ ý kiến cho rằng cải tổ kinh tế là một bước tiến
tới cải tổ chính trị.

Nhưng chính những cải tổ kinh tế này đã mang lại những hậu
quả ngược với sự mong đợi của các Chính phủ đã chấp
nhận chúng nhiệt tình nhất: đó là chính quyền Cairo và chính
quyền Tunis. Mặc dù cả Ai Cập và Tunisia đã đạt được tỉ
lệ tăng trưởng kinh tế khả quan và mới đây, vào năm 2010,
nhận được sự ca ngợi của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF),
nhưng các đợt tư hữu hóa có động lực chính trị đã không
tăng thêm ổn định cho chế độ. Ngược lại, chúng đã tạo
ra một giai cấp mới gồm những doanh nhân giàu nứt vách đổ
tường (superwealthy entrepreneurs), trong đó có cả thân nhân của
các vị Tổng thống của hai nước này – họ đã trở thành
đối tượng cho sự phẫn nộ của dân chúng. Và giả thuyết
của các nhà nghiên cứu cho rằng các thành phần thụ hưởng
thành quả cải tổ kinh tế này sẽ hậu thuẫn các chế độ
độc tài được thực tế chứng minh là ảo tưởng. Những
đại gia do nhà nước sản sinh hoặc đã bỏ trốn hoặc không
thể chặn đứng các chuyển biến của tình hình và cuối cùng
đã lao vào các nhà tù hậu cách mạng. Tầng lớp trên của giai
cấp trung lưu (the upper-middle class) đã không bày tỏ thái độ
mặn mà đối với Ben Ali hay Murabak. Thật ra, chính một số
thành viên của tầng lớp này đã trở thành những nhà lãnh
đạo cách mạng.

Thật là cực kỳ mỉa mai khi khuôn mặt biểu tượng của cuộc
nổi dậy tại Ai Cập là Wael Ghonim, Ủy viên Ban quản trị của
Công ty Google tại Ai Cập. Ông đúng là hạng người có đầy
đủ tư thế để thành công tại nước Ai Cập của Murabak –
nói hai thứ tiếng, được đào tạo tại Đại học Mỹ ở
Cairo, và rất quen thuộc với thế giới doanh nghiệp toàn cầu.
Nhưng Ghonim đã dám liều lĩnh cả tương lai lẫn mạng sống
để tổ chức trang Facebook "Tất cả chúng ta đều là Khaled
Said", để tưởng niệm một người bị cảnh sát Ai Cập
đánh chết. Trang mạng này đã giúp huy động dân chúng Ai Cập
đứng lên chống chế độ. Đối với ông cũng như nhiều
người khác trong hoàn cảnh kinh tế tương tự, quyền tự do
chính trị là quan trọng hơn cả cơ hội làm tiền.

Chứng kiến những biến cố diễn ra tại hai thủ đô Cairo và
Tunis, các nhà lãnh đạo Ả Rập khác đã vội vàng tìm cách xoa
dịu người dân bằng cách tăng lương cho công nhân viên nhà
nước, hủy bỏ các kế hoạch cắt giảm trợ cấp, và gia tăng
số việc làm trong các cơ quan nhà nước. Tại Ả Rập Saudi,
chẳng hạn, vào tháng Hai và tháng Ba năm nay, Vua Abdullah đã
công bố những kế hoạch chi tiêu có trị giá trên 100 tỉ
đôla Mỹ. Chính quyền Saudi có tiền dầu hỏa để thực hiện
những hứa hẹn này. Tại các nước không sản xuất dầu hỏa,
như Jordania chẳng hạn, tức các nước đã phải ngừng chương
trình cải tổ kinh tế khi bất ổn chính trị bắt đầu xảy
ra, có thể các Chính phủ tại đó sẽ không có đủ tiền để
duy trì khế ước xã hội trước đây (the old social contract),
theo đó nhà nước sẽ cung ứng sự an toàn kinh tế cơ bản cho
người dân để đổi lấy sự trung thành của họ. Hai quốc gia
mới được giải phóng, Ai Cập và Tunisia, cũng đang đối diện
với những vấn đề kinh tế nghiêm trọng mà họ thừa hưởng
từ các chế độ trước. Những khối cử tri có thêm nhiều
quyền sẽ đòi hỏi phân phối lại của cải mà Chính phủ
không có được trong tay và đòi hỏi tái thương thuyết một
khế ước xã hội mà Chính phủ không có ngân sách để thực
hiện.

Nhiều học giả về Trung Đông đã nhận ra rằng các chương
trình kinh tế tân tự do (neoliberal economic programs) tạo ra nhiều
vấn đề chính trị cho các Chính phủ Ả Rập, nhưng ít ai
thấy trước những hậu quả làm rung chuyển chế độ. Các nhà
nghiên cứu đã đánh giá quá cao cả hiệu ứng cải thiện tình
hình (the ameliorating effect) của sự tăng trưởng kinh tế do
những cải tổ mang lại lẫn quyền lực chính trị của những
thành phần được hưởng lợi nhờ các chính sách ấy. Do đó,
họ đã đánh giá thấp sự phẫn nộ của người dân đối
với nạn tham nhũng và nạn con ông cháu cha trong tiến trình tư
hữu hóa đi kèm với các cuộc cải tổ kinh tế này.

Của cải do dầu hỏa mang lại vẫn là một khí cụ đáng tin
cậy để đảm bảo sự ổn định của chế độ, chí ít trong
thời điểm giá dầu lên cao. Tuy nhiên, vì quá tập trung vào
việc các chế độ Ả Rập đã đạt được ổn định nhờ
dựa vào tài nguyên dầu hỏa, các học giả nghiên cứu Trung
Đông đã bỏ qua những tác dụng gây bất ổn của những chính
sách kinh tế tự do được thực thi tồi dở trong thế giới Ả
Rập.

<h2>Một hình thái mới của chủ nghĩa Liên-Ả Rập
(Pan-Arabism)</h2>

Một yếu tố khác bị các chuyên gia nghiên cứu Trung Đông bỏ
qua ít liên quan tới các chính sách và cơ chế nhà nước, nhưng
liên quan nhiều hơn tới bản sắc Ả Rập xuyên biên giới
(cross-border Arab identity). Không phải là một sự tình cờ mà
các bất ổn chính trị nghiêm trọng đồng loạt diễn ra đều
khắp thế giới Ả Rập. Các nhà hoạt động và trí thức Ả
Rập đã từng chăm chú theo dõi những cuộc biểu tình của
Phong trào Xanh 2009 tại Iran, nhưng lúc đó không một nhóm Ả
Rập nào xuống đường, bắt chước các người láng giềng
Iran. Tuy nhiên vào năm 2011, chỉ một tháng sau khi người bán rau
quả tại Tunisia tự thiêu, cả thế giới Ả Rập chìm ngập
trong các cuộc nổi dậy. Nếu còn ai không tin rằng người Ả
Rập có khả năng giữ được một ý thức chung về bản sắc
chính trị mặc dù sống rải rác trên 20 quốc gia khác nhau, thì
những biến cố lịch sử của năm nay nhất định đã xua tan
mối hoài nghi đó.

Đáng lẽ những tình cảm Liên-Ả Rập mãnh liệt này đã không
làm cộng đồng nghiên cứu ngạc nhiên. Phần lớn công việc
nghiên cứu về chính trị Ả Rập trong các thế hệ trước
đây đã tập trung vào chủ nghĩa dân tộc Ả Rập và chủ
nghĩa Liên-Ả Rập, vào khả năng của các nhà lãnh đạo Ả
Rập trong việc vận động hậu thuẫn chính trị xuyên biên
giới quốc gia dựa trên tư duy cho rằng mọi người Ả Rập
đều có chung một bản sắc chính trị và một số phận. Tuy
nhiên nhiều nhà nghiên cứu trong chúng ta đã cho rằng lời
hiệu triệu xuyên biên giới về bản sắc Ả Rập đã trở nên
yếu ớt trong những năm qua, đặc biệt sau cuộc thất bại
của người Ả Rập trong chiến tranh 1967 với Israel. Ai Cập và
Jordania đã ký những hiệp ước với Israel, trong khi người
Palestine và Syria đã tham gia các cuộc đàm phán trực tiếp với
Israel, vi phạm một kỵ húy chủ yếu của chủ nghĩa Liên-Ả
Rập. Những cuộc chiến do Mỹ lãnh đạo chống Iraq trong năm
1990 - 1991 và khởi đầu năm 2003 đã kích động sự phản đối
trong thế giới Ả Rập nhưng không gây bất ổn cho các Chính
phủ đã tham gia các kế hoạch quân sự của Hoa Kỳ – một
dấu hiệu cho thấy chủ nghĩa Liên-Ả Rập đang mai một cũng
như các Chính phủ đã có tính miễn nhiễm (immunity) đối với
sự bất mãn của dân chúng. Hình như các nhà nước Ả Rập
đã trở nên đủ mạnh (với một vài ngoại lệ, như Li-băng
và Irag thời hậu-Saddam Hussein) để chặn đứng các sức ép ý
thức hệ từ bên kia biên giới. Hầu hết các học giả nghiên
cứu Trung Đông tin rằng chủ nghĩa Liên-Ả Rập đã ngủ yên.

Vì thế họ đã không thấy trước làn sóng cách mạng của
cộng đồng Ả Rập năm 2011. Mặc dù những biến cố chính
trị của năm nay chứng tỏ sự quan trọng liên tục của bản
sắc Ả Rập, nhưng chủ nghĩa Liên-Ả Rập đã mang một hình
thức khác xa với nửa thế kỷ trước dưới sự lãnh đạo
của Tổng thống Ai Cập Gamal Abdel Nasser. Lúc bấy giờ, Nasser,
một nhà lãnh đạo đầy sức thu hút với một Chính phủ mạnh
trong tay, đã cổ vũ những tư tưởng hợp lòng dân và đã thúc
đẩy nhiều biến cố tại các nước khác, bằng cách sử dụng
công nghệ mới của thời đại ông, đó là radio bán dẫn (the
transistor radio), để kêu gọi người Ả Rập [tại các nước
khác] chống lại Chính phủ của mình và đi theo chính sách của
ông. Ngày nay, chính tính cách "vô lãnh đạo" (leaderless
quality) của các cuộc huy động quần chúng tại Ai Cập và
Tunisia gần như khiến những cuộc vận động này trở thành
nguồn khích lệ cho cả thế giới Ả Rập.

Trong những thập kỷ gần đây, các lãnh đạo Ả Rập, nhất
là Saddam trong Chiến tranh Vùng Vịnh, đã toan tính khoác lên cho
mình chiếc áo của Nasser và châm ngòi cho những phong trào quần
chúng Ả Rập. Ngay cả nhà lãnh đạo Ayatollah Khomeini của Iran
– một người Ba Tư chứ không phải Ả Rập – cũng vận
dụng Hồi giáo để huy động nhân dân Ả Rập đứng dưới
ngọn cờ của ông. Tất cả những âm mưu này đều thất bại.
Tuy nhiên, khi người dân Tunisia rồi đến người dân Ai Cập
lật đổ các nhà độc tài tham nhũng của họ, người Ả Rập
tại các nơi khác thấy mình có thể đồng hóa với họ. Sự
kiện các cuộc nổi dậy này thành công đã tạo hy vọng (trong
vài trường hợp, như tại Bahrain, chỉ là ảo vọng) cho những
người Ả Rập khác rằng họ cũng có thể làm như vậy. Kẻ
thù chung của các cuộc nổi dậy Ả Rập năm 2011 không phải
là chủ nghĩa thực dân, thế lực Mỹ, hay Israel, nhưng chính là
các nhà lãnh đạo của họ.

Các nhà nghiên cứu cần phải thẩm định tầm quan trọng mới
được phục hồi của bản sắc Ả Rập để có thể hiểu
được tương lai chính trị Trung Đông. Khác với tiền thân
của nó, chủ nghĩa Liên-Ả Rập mới (new pan-Arabism) dường như
không hề thách thức bản đồ chính trị trong khu vực. Người
Ả Rập không có ý định giải thể quốc gia của mình để
hợp nhất thành một thực thể Ả Rập duy nhất; nghị trình
của họ gần như chỉ tập trung vào các vấn đề trong nước.
Nhưng các cuộc nổi dậy Ả Rập đã cho thấy rằng việc gì
xảy ra trong một quốc gia Ả Rập đều có khả năng ảnh
hưởng đến các quốc gia Ả Rập khác trong những cách thế
khó tiên liệu và mãnh liệt. Do đó, các học giả và các nhà
làm chính sách không còn có thể đối xử với các nước trong
vùng này trên cơ sở từng trường hợp một (on a case-by-case
basis). Hoa Kỳ sẽ gặp khó khăn khi hậu thuẫn cho dân chủ trong
một nước, như Ai Cập, đồng thời khoanh tay đứng nhìn các
đồng minh khác, chẳng hạn Bahrain, đàn áp các cuộc biểu tình
hòa bình đòi dân chủ.

Ngoài ra, chủ nghĩa Liên-Ả Rập mới (new pan-Arabism) nhiên hậu
sẽ đưa vấn đề hòa bình Ả Rập-Israel lên ưu tiên hàng
đầu. Mặc dù không một cuộc nổi dậy nào trong năm 2011 nhân
danh người Palestine, nhưng các chế độ dân chủ Ả Rập sẽ
phải phản ánh dư luận của dân chúng đối với Israel, một
dư luận vẫn còn cực kỳ tiêu cực. Dư luận của công chúng
Ả Rập đối với Hoa Kỳ lại bị chi phối bởi quan điểm
của người Ả Rập về cuộc xung đột Israel-Palestine cũng như
bởi những hành động của Hoa Kỳ tại các nước Ả Rập
khác. Do đó, Hoa Kỳ sẽ cần phải tái khởi động các cuộc
hòa đàm Israel-Palestine để tiên liệu những đòi hỏi của các
khối dân chúng Ả Rập khắp Trung Đông.

<h2>Chuẩn bị lại từ đầu</h2>

Các chuyên gia nghiên cứu chính trị Ả Rập, như chính bản
thân tôi, cần phải xét lại một đôi điều. Việc làm này
vừa là hào hứng vừa đáng sợ về mặt tri thức. Lý giải
sự ổn định của các nhà độc tài Ả Rập đã là một công
tác phân tích quan trọng, nhưng việc này đã dẫn một số nhà
nghiên cứu đến chỗ đánh giá thấp các thế lực đòi thay
đổi đang sôi sục ở bên dưới, và đôi khi ở bên trên, bề
mặt chính trị Ả Rập. Các nhà khoa học xã hội không thể
nào đưa ra các tiên đoán chính xác về thế giới Ả Rập, và
vì thế không nên coi việc này là một tiêu chí trong việc
nghiên cứu. Nhưng các nhà nghiên cứu cần phải duyệt xét lại
các giả định (assumptions) của mình về một số vấn đề,
gồm có vai trò của quân đội trong nền chính trị Ả Rập,
những tác dụng của chuyển đổi kinh tế lên sự ổn định
chính trị, và sự nổi bật của bản sắc Ả Rập xuyên biên
giới, để có một cảm thức chính trị Ả Rập sẽ diễn
biến như thế nào.

Khi các mô hình nghiên cứu bị gãy đổ và các lý thuyết bị
những biến cố trên thực địa xé toang, chúng ta cần phải
nhớ rằng những cuộc nổi dậy của dân chúng Ả Rập không
phát xuất từ các quyết định chính sách của Washington nhưng
từ các yếu tố kinh tế, chính trị, và xã hội địa phương
mà các động cơ thúc đẩy chúng là cực kỳ khó tiên đoán.
Tiếp theo sau các biến động bất ngờ này, cả các nhà nghiên
cứu lẫn các nhà làm chính sách cần phải đối xử với thế
giới Ả Rập bằng thái độ khiêm nhượng trước khả năng
xây dựng tương lai của họ. Cách hay nhất là để cho người
Ả Rập tự quyết định lấy tương lai của mình.

<em>F. GREGORY GAUSE III là Giáo sư Khoa Chính trị tại Đại học
Vermont</em>

T.N.C.

Dịch giả gửi trực tiếp cho BVN

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10087), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét