Phạm Văn Bản - Bàn về Đảng Chính Trị (Kỳ I)

Trong sách <em>"Chính Đảng và Chính Trị Hoa Kỳ – Parties and
Politics in America"</em> (1960) Clinton Rossister nhận định rằng
chính trị đã cứu vãn nền kinh tế Hoa Kỳ trong cuộc đại
khủng hỏang vào năm 1930: <em>"Tổ chức cuối cùng đã bẻ
gãy được chính sách nô lệ và chủ nghĩa địa phương ở Hoa
Kỳ là chính đảng. Người Hoa Kỳ đã nhận của đảng chính
trị những giúp đỡ đầu tiên về tự do, công bằng và tình
huynh đệ, cũng như với phương thức thích hợp nhất, các
đảng chính trị đã và đang biến cải những hy vọng và thất
vọng vô hình, thành những đề nghị có thể hiểu được, có
thể bàn cãi được được, để được dân chúng chấp nhận
và trở thành hiện thực," </em>(tr. 100) (1*). Những điều này
chứng tỏ tầm mức quan trọng của đảng chính trị trong thời
đại kỹ nghệ (Industrial Revolution) của nhân loại, cũng như
đối với hiện tình của dân tộc Việt Nam ngày nay.

Trong nội bộ đảng chính trị cũng có hai cánh tả hữu, đối
lập và xây dựng để thành viên bất đồng ý kiến nhập sang
cánh khác mà sinh hoạt, không có chuyện bỏ đảng vì thiếu
lối thoát. Đảng đối lập đóng một vai trò trong việc ngăn
cản sự qúa đà hoặc chuyên chế của đảng cầm quyền, là
đại biểu cho những ý kiến khác biệt, và là động cơ thúc
đẩy đảng cầm quyền cố gắng sửa sai. Tuy nhiên trong thực
tế, đối lập cũng luôn tìm cách soi mói và chỉ trích đảng
cầm quyền để mong kiếm phiếu, nhưng chính vì thế mà họat
động xã hội được thăng tiến. Hơn nữa, đảng đối lập
mà không có thực lực chính trị tương xứng với đảng cầm
quyền thì giấc mộng tham chính chẳng bao giờ thành công.

<h2>A. Chính Đảng Thế Giới</h2>

Đọc cuốn <em>"Dân chủ và Giáo dục: Giới thiệu các Triết
học Giáo dục – Democracy and Education: An Introduction to the
Philosophy of Education"</em> triết gia Hoa Kỳ John Dewey (1859-1952)
nhận xét về đảng chính trị: "Mỗi cá nhân chỉ tìm thấy
được sự an toàn và được bảo vệ, mà đây là tiền đề
cho sự tự do, khi họ tập họp lại với nhau. Và rồi những
tập hợp này, để bảo toàn sự hữu hiệu của chúng, giới
hạn trở lại tự do của các cá nhân trong đó… Bây giờ,
chúng ta có một hình thức tổ chức giáp xác với những cá
thể yếu đuối bên trong và chiếc vỏ cứng bên ngoài." Và
ông định nghĩa, <em>"Một đảng chính trị tân thời là tập
hợp của những người có triết lý, lý tưởng, mục tiêu, hay
ý nguyện tương đồng."</em> (2*)

Người ta cho rằng, đảng chính trị cũng giống như ban âm
nhạc hay hội túc cầu… Tuy nhiên đảng có tham vọng lớn hơn,
đó là lập chính quyền và giành lấy chính quyền. Chỉ khi nào
đảng có được chính quyền trong tay, thì lúc đó đảng mới
thực hiện được mục tiêu, lý tưởng của mình… hoặc tối
thiểu đảng cũng phải giành được số ghế trong Quốc Hội
thì mới phát huy được khả năng hiện thực của đảng. Căn
cứ theo kết qủa họat động, và tùy thuộc tham vọng của
đảng, mà người ta có định nghĩa đảng đó theo như cơ cấu,
danh xưng, lý thuyết hay chủ trương hoạt động.

<strong>I. Khuynh Hướng Chính Trị</strong>

Trong chính đảng, cho dù có cùng mục tiêu, lý tưởng, quyền
lợi… nhưng khuynh hướng đảng viên cũng có nhiều khác biệt.
Từ dị biệt đảng phân ra nhiều cánh, từ cực tả đến cực
hữu, như cánh cực tả (radical), cánh trung tả (liberal), cánh
trung hữu (conservative), cánh cực hữu (reactionary). Và giữa các
cánh tả hữu, lại còn nhiều khuynh hướng cực đoan hơn, như
trung lập, trung tả…

<em>1. Cánh Cực Tả</em>

- Muốn có những thay đổi cực đoan.

- Có khuynh hướng xử dụng bạo lực và phương thức bất hợp
pháp để đạt được mục đích.

- Luôn chống đối và theo cách phê bình khắc nghiệt đối với
trật tự xã hội đương thời.

- Không bị ràng buộc bởi truyền thống nào.

<em>2. Cánh Trung Tả</em>

- Ủng hộ những thay đổi lớn nếu thay đổi này được thực
hiện bằng phương thức hợp pháp.

- Muốn có đổi mới hơn là cứ giữ nguyên sự việc đang
diễn biến.

- Có khuynh hướng đi tìm sự tự do một cách tối đa.

- Chấp nhận có mức độ xáo trộn trật tự xã hội để
đổi lấy sự tự do cá nhân.

- Nhấn mạnh đến sự xứng đáng làm người.

- Thành viên trong cánh trung tả thường lạc quan và tin tưởng
vào bản chất tự nhiên của con người.

<em>3. Cánh Trung Hữu</em>

- Ủng hộ những thay đổi vừa phải, chậm từ từ.

- Quan tâm đến sự bảo toàn trật tự căn bản trong xã hội.

- Cho tới những thay đổi chỉ nên có tính cách hoán đổi,
chớ không hủy bỏ hoàn toàn cái cũ.

- Rất yêu nước, tuân hành mệnh lệnh của thượng cấp, chấp
hành trật tự và luật pháp.

- Nhìn nhận con người là chưa hoàn hảo và cần sự giám thị.

<em>4. Cánh Cực Hữu</em>

- Những thành viên thuộc cánh cực hữu thường chống đối
những thay đổi chính sách xã hội một cách cực đoan mù
quáng.

- Bảo vệ những địa vị xã hội.

- Sẵn sàng dùng phương thức bất hợp pháp để đạt mục
tiêu.

<strong>II. Sinh Hoạt Chính Ðảng</strong>

Các đảng chính trị luôn phải đấu tranh trong những cuộc
tranh cử, bầu cử để có thể nắm được chính quyền và
giữ chính quyền. Những quốc gia như Hoa Kỳ, Gia Nã Ðại, Úc
Ðại Lợi – các đảng chính trị tổ chức và sinh hoạt theo
ba cấp, từ cấp quốc gia, cấp tiểu bang hay tỉnh, và cấp
địa phương (quận). Song hành với tổ chức hành chính quốc
gia, đảng chính trị cũng tổ chức và sinh hoạt ở khu vực
bầu cử.

Ðảng chính trị là nhu cầu quan trọng và cần thiết cho chính
thể dân chủ. Trong thể chế chính trị dân chủ đảng chính
trị là Ðại Biểu Dân Chủ, công dân chọn người đại diện
cho mình từ đảng chính trị vào chính quyền để làm luật và
thực thi luật. Và công dân chọn người đại diện cho mình
từ đảng chính trị vào các ghế trong chính quyền để tranh
luận, mổ xẻ các vấn đề quốc gia một cách công khai, ích
quốc lợi dân. Bởi thế đảng chính trị hoạt động với
những công tác định sẵn:

- Chọn ứng cử viên vào điều hành văn phòng công quyền.

- Phụ giúp tổ chức guồng máy chính quyền.

- Làm đối lập với đảng cầm quyền.

- Gây qũy để vận động tranh cử cho những cuộc bầu cử
sắp tới.

- Đảng luôn thông báo đến cử tri của mình về những chương
trình hoạt động, những khó khăn mà chính phủ đang gặp
phải, cũng như đưa ra tranh luận để tìm ra phương thức giải
quyết

<strong>III. Hệ Thống Chính Ðảng</strong>

Đảng chính trị thường xử dụng cơ quan ngôn luận báo chí,
truyền thanh truyền hình làm phương tiện thông tin phổ biến
chương trình hoạt động của đảng. Sở dĩ phải rộng
đường dư luận vì đảng cầm quyền còn hy vọng tái đắc
cử, hoặc đảng đối lập khai thác và phê bình yếu điểm
của chính quyền, tạo ra điểm thắng cho đảng mình trong kỳ
tranh cử sắp tới. Thông thường chính đảng đơn giản hóa
các vấn đề phức tạp của quốc gia, nhằm làm sao cho cử tri
dễ dàng chọn lựa. Muốn đắc cử, ứng viên đưa ra điểm
nóng mà đa số cử tri chú ý, đồng thời cũng là yếu điểm
mà đảng cầm quyền lơ đãng và ít giải quyết.

<em>1. Ðộc Ðảng</em>

Các lãnh tụ độc tài rất hoan hỉ và ưa thích phương thức
cai trị độc đảng, họ chấp nhận ma giáo "muôn năm trường
thọ, nhất thống giang hồ." (Tiểu thuyết kiếm hiệp của
Kim Dung). Ðảng độc quyền về mọi mặt chính trị, kinh tế,
quân sự, văn hóa, giáo dục, xã hội… Tuy cũng tổ chức bầu
cử rầm rộ, nhưng mục đích gây phấn chấn nội bộ và đề
cao đảng viên với đại chúng… đã bao lãnh tụ giải thích
chương trình họat động của đảng tràng giang đại hải và
hứa hẹn đủ thứ, nhưng tòan dân đã mỏi mòn chờ trông.

Như tại Việt Nam hiện nay, xin hỏi phổ thông đầu phiếu là
gì, khi sinh hoạt chính trị bị cướp khỏi tầm tay người
dân, chỉ còn hoạt động một chiều: đảng cử dân bầu?

Dân tộc ta được hưởng gì, khi phổ thông đầu phiếu biến
thành phương tiện tranh đoạt dành đặc quyền cho cán bộ có
chủ trương thủ đoạn, mạnh được yếu thua?

Dân tộc ta chọn lựa được gì, khi mà khu vực bầu phiếu
phân chia theo tiêu chuẩn lợi ích cho đảng cầm quyền?

Dân tộc ta bầu người đại diện cho mình. Nhưng xin hỏi,
đại đa số cử tri đã không biết mục tiêu thực sự của
các ứng cử viên; lại nữa, dân biểu tranh đấu cho nguyện
vọng người dân địa phương nhưng lại không được quyền
phát biểu trái với đường lối chủ trương của đảng cầm
quyền.

Và rồi dân biểu thay mặt dân, nhưng sau ngày đắc cử họ
không còn thuộc thành phần đại chúng hay dân tộc, mà lại gia
nhập vào nhóm đặc quyền hưởng nhiều đặc lợi suốt đời.

Ðang khi còn tranh đấu, còn vận động thì họ quảng cáo rầm
rộ với nhiều chương trình tân tiến, vì dân vì nước…
nhưng lấy gì bảo đảm cho rằng họ thực thi? Nhìn lại những
ngày bầu cử trong lịch sử, lá phiếu cũng được vận động
qua đặc ân tạm bợ và lời hứa hẹn mị dân, mị cán bộ….
Dân tộc ta sẽ thực sự được gì?

Ngoài ra chế độ dân chủ như ở Mễ Tây Cơ cũng là hình
thức độc đảng, đảng Cách Mạng (Partido Revolucionario) chẳng
thua kém gì đảng độc tài Cộng Sản. Ðảng này kiểm soát
chính quyền từ năm 1920 và thắng tất cả các ghế ở cấp
tiểu bang hay thành phố lớn; đang khi các đảng phái nhỏ không
thể cạnh tranh nổi với đảng cầm quyền. Hậu qủa của nạn
độc tài chính trị đã dẫn tới cảnh dân đói nước nghèo!

Ðộc đảng dẫn đến quyền lực tuyệt đối, là nguyên nhân
tạo ra tai họa cho dân tộc. Ðó cũng là điều chúng ta cần
tránh, đừng để vướng mắc sai lầm tái diễn.

<em>2. Ða Ðảng</em>

Các quốc gia như Pháp, Ý, Nhật Bản, Tích Lan… đa đảng.
Những nước này thường có bốn năm đảng chính trị mạnh,
và nhiều đảng nhỏ. Mỗi đảng lại có một chính sách riêng
về kinh tế xã hội. Một hai đảng "tả khuynh" thì chủ
trương Tự Do, Cấp Tiến. Một hai đảng "trung dung" có chủ
trương Dung Hòa, Trung Lập. Một hai đảng "hữu khuynh" lại
chủ trương Bảo Thủ.

Quốc gia đa đảng thì khó có một đảng nào thắng bầu cử
để giữ chính quyền, cho nên phải có hai đảng liên minh thành
lập nội các. Khi hai đảng không đồng ý với chính sách hay
chương trình hoạt động chung, thì liên minh tan rã và thường
kéo theo sự xụp đổ chính quyền. Nhìn chung, hệ thống đa
đảng thường làm cho chính quyền yếu hơn hệ thống lưỡng
đảng.

<em>3. Lưỡng Ðảng</em>

Hệ thống lưỡng đảng đã thành hình ở những quốc gia dùng
Anh ngữ, dù rằng có nhiều đảng nhỏ nhưng chỉ quy tụ nơi
hai đảng chính. Anh Quốc có đảng Bảo Thủ (Conservative) và Lao
Ðộng (Labor). Hoa Kỳ có đảng Cộng Hòa (Republican) và Dân Chủ
(Democratic). Gia Nã Ðại có đảng Bảo Thủ Tiến Bộ (Progressive
Conservative) và Tự Do (Liberal) (3*). Hay Úc Ðại Lợi có những
đảng chính trị nhỏ nhưng một trong hai đảng lớn giữ chính
quyền. Thông thường, dân chúng vùng kỹ nghệ bỏ phiếu cho
đảng Tự Do, vùng nông nghiệp thì bỏ phiếu cho đảng Bảo
Thủ. Mặc dù trong nước có hai đảng nhưng mỗi đảng lại
kiểm soát một vùng, và cử tri bỏ phiếu cho ứng cử viên
đảng mình.

<strong>IV. Chính Ðảng Hoa Kỳ</strong>

Năm 1787 các nhà lãnh đạo chính trị Hoa Kỳ về họp tại
Philadelphia soạn thảo Hiến Pháp, tuy không đề cập đến
đảng chính trị, nhưng George Washington chủ tọa Hội Nghị Lập
Hiến thống nhất 13 tiểu bang, và có nhiều lãnh tụ đảng
phái chống đối xảy ra. Dù có bất đồng chính kiến, nhưng
vì quyền lợi kinh tế, chính trị, xã hội của người Hoa Kỳ
đã buộc mọi người phải ngồi lại để thành lập tổ chức
chính trị.

Một nhóm người gọi là Nhóm Liên Bang (Federalists) ủng hộ
chính phủ Liên Bang mạnh. Những người chống đối được
gọi là Nhóm Chống Liên Bang. Đây là hai tổ chức chính trị
đã hình thành trước khi Washington trở thành tổng thống vào
năm 1789. Sau đó hai nhóm này phát triển thành hai đảng chính
trị đầu tiên của Hoa Kỳ: Ðảng Liên Bang (Federalist Party) và
Ðảng Dân Chủ Cộng Hòa (Democratic Republican Party). Ðảng Liên
Bang lãnh đạo bởi Alexander Hamilton muốn có chính quyền trung
ương mạnh. Ðảng Dân Chủ Cộng Hòa lãnh đạo bởi Thomas
Jefferson ủng hộ chính quyền trung ương yếu.

Sau cuộc Bầu Cử Tổng Thống năm 1816, lưỡng đảng không giữ
được sự thống nhất, một trong những nhóm của đảng Dân
Chủ Cộng Hòa do Andrew Jackson lãnh đạo, tới khoảng năm 1830,
nhóm này tách ra gọi là người Dân Chủ.

<em>1. Ðảng Dân Chủ</em>

Ðảng Dân Chủ là đảng kỳ cựu nhất hoạt động tại Hoa
Kỳ. Có sử gia cho rằng Ðảng Dân Chủ bắt đầu vào những
năm 1790 với Thomas Jefferson, nhưng đa số lại quả quyết nguồn
gốc của Ðảng Dân Chủ bắt đầu sau chiến dịch vận động
tranh cử tổng thống năm 1824, và Andrew Jackson thắng cử vào
năm 1828.

Từ năm 1828 đến 1860, Ðảng Dân Chủ thắng tất cả các cuộc
tranh cử tổng thống, mặc dù trong đảng có những bất đồng
về các vấn đề như nô lệ, thuế khóa… và gặp nhiều khó
khăn về nội bộ. Tới năm 1832 thì có nhiều nhóm chống đối
lại Tổng Thống Jackson và thành lập Ðảng Tự Do (Whig Party),
nhưng Ðảng Tự Do không thống nhất và phát triển đủ mạnh
để dân chúng Hoa Kỳ ủng hộ.

Cho tới thập niên 1850 Ðảng Dân Chủ chia rẽ vì một số
người chống đối, hoặc ủng hộ sự kéo dài chế độ nô
lệ. Năm 1860 đảng này đề cử người tranh cử tổng thống,
nhưng không thắng được ứng cử viên của Ðảng Cộng Hòa
Abraham Lincoln, và vì thế mà Hoa Kỳ lâm cảnh nội chiến vào
năm 1861 đến năm 1865.

Từ 1860 đến 1932, Ðảng Cộng Hòa đổ lỗi cho Ðảng Dân Chủ
gây ra cuộc nội chiến Civil War. Ngược lại, Ðảng Dân Chủ
đổ lỗi cho Ðảng Cộng Hòa gây ra cuộc đại khủng hoảng
kinh tế vào năm 1930. Tóm lại, Ðảng Dân Chủ giữ ghế tổng
thống từ năm 1933 cho tới 1953 và kiểm soát luôn lưỡng viện
quốc hội.

<em>2. Ðảng Cộng Hòa</em>

Ðảng Cộng Hòa khởi đầu bằng những loạt biểu tình chống
Nô Lệ tại miền Trung Tây Hoa Kỳ vào năm 1854. Vào thời kỳ
này Ðảng Tự Do tan rã, và nhiều đảng viên Tự Do cũng như
Dân Chủ ở miền Bắc Hoa Kỳ chống đối sự kéo dài chế
độ Nô Lệ. Ðảng Cộng Hòa là đại diện cho quan điểm này
nên đã kết nạp đảng viên một cách nhanh chóng. Ứng cử
viên tổng thống của Ðảng Cộng Hòa đầu tiên ra tranh cử là
John C. Fremont dù bị thất cử nhưng đã chiếm được 11 tiểu
bang miền Bắc.

Và từ năm 1860 khi Abraham Lincoln đắc cử cho đến 1928, Ðảng
Cộng Hòa thắng 14 trên 18 cuộc tranh cử tổng thống. Chính
sách của đảng đáp ứng nhiều nhóm gồm nông gia, kỹ nghệ
và thương gia. Vụ bêu xấu tiền bạc của Tổng Thống Ulysses
S. Grant vào năm 1879, và trước đó, nền kinh tế bấp bênh đã
gần làm hỏng cuộc vận động tranh cử năm 1876.

Năm 1912 Tổng Thống William Howard Taft là lãnh tụ đã gây chia
rẽ Ðảng Cộng Hòa. Nhóm Cộng Hòa Tiến Bộ chọn Theodore
Roosevelt làm Tổng Thống từ 1901 đến 1909, tiếp đến là cuộc
tranh cử, và nhóm Bảo Thủ Cộng Hòa lại chọn Ông William
Howard Taft tái tranh cử tại đại hội đảng tổ chức vào năm
1912. Ông Theodore Roosevelt ly khai với Ðảng Cộng Hòa để thành
lập Ðảng Cấp Tiến (Progressive Party). Sự chia rẽ trong nội
bộ đã làm cho Ðảng Cộng Hòa thất cử.

Trong Ðệ Nhị Thế Chiến (1939-45) Ðảng Cộng Hòa lại chứng
tỏ cho dân chúng Hoa Kỳ thấy được dấu hiệu phục hồi sinh
lực của đảng. Năm 1946, đảng thắng cử ở Lưỡng Viện
Quốc Hội lần đầu tiên kể từ năm 1928. Cho tới năm 1952
Dwight D. Eisenhower đắc cử tổng thống và mang lại chiến
thắng vẻ vang cho Ðảng Cộng Hòa sau 24 năm mất ghế. Năm 1956
Tổng Thống Eisenhower tái đắc cử nhưng ông chỉ chiếm được
đa số ở Quốc Hội có hai năm đầu trong tám năm làm tổng
thống của ông.

<em>3. Các Chính Ðảng Khác</em>

Tại Hoa Kỳ cũng có nhiều đảng chính trị khác như Tự Do
Cộng Hòa (Liberal Republicans, 1872), Cấp Tiến (Progressives, 1912),
Kim Dân Chủ (Gold Democrats, 1896), Xã Hội (Socialists, 1901), Công
Xã (Socialists Workers, 1938)… Nhưng các đảng này chưa bao giờ
thắng cử tổng thống. Những khi tư tưởng của các đảng
nhỏ này vừa đề ra và được đại chúng ủng hộ, thì ngay
lập tức cả hai đảng lớn Dân Chủ và Cộng Hòa đều thay
đổi đường lối nhằm đáp ứng kịp thời lòng dân. Nhiều
tiểu bang Hoa Kỳ ủng hộ mạnh cho một đảng, và đảng này
kiểm soát tiểu bang. Từ cuộc Nội Chiến đến năm 1960 đảng
Dân Chủ kiểm soát các tiểu bang miền Nam, Cộng Hòa kiểm soát
các tiểu bang miền Trung Tây.

(Còn tiếp)

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10037), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét