Marx lại trở nên hợp thời, nhưng thế giới không nên quên
những gì Marx đã nhận định sai.</strong></em>
<div class="boxright300"><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub02/karlmarx.jpg" width="370" height="200"
alt="karlmarx.jpg" /><div class="textholder">Minh họa của Andy
Martin</div></div>
Xã hội thường tiến lên nhờ rút kinh nghiệm từ những sai
lầm của mình. Bác sĩ không còn rút hết máu từ bệnh nhân.
Phi công không gắng bay bằng cách buộc cánh vào tay mình.
Chẳng còn ai vẫn còn nghĩ rằng nạn nô lệ là điều hay. Tuy
nhiên, Karl Marx dường như là một ngoại lệ của quy tắc sống
và học hỏi. Những tiên đoán nổi tiếng nhất của Marx đã
thất bại; không có chế độ độc tài của giới vô sản, và
nhà nước cũng chẳng lụi tàn. Môn đồ của ông có một số
kẻ sát nhân hàng loạt tàn bạo nhất của thế kỷ 20: Lenin,
Stalin, Mao, Pol Pot. Thế nhưng triết gia thích tranh luận và bi
quan này dường như vẫn có nhiều người ủng hộ trong mỗi
thế hệ mới của những bạo chúa và những kẻ mơ mộng.
Thậm chí ta có thể nói rằng Karl Marx hiếm khi nào có vẻ
đúng hơn. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay đã
làm xuất hiện một lớp người ngưỡng mộ mới ít ai nghĩ
tới. Năm 2009, tờ báo chính thức của Vatican, L'Osservatore
Romano, đăng một bài ca tụng lời chẩn đoán của Marx về bất
bình đẳng thu nhập; quả là một kiểu tán thành đáng kể,
nếu biết rằng Marx tuyên bố tôn giáo là "á phiện của nhân
dân". Ở Thượng Hải, trung tâm siêu tư bản chủ nghĩa của
nước Trung Quốc chỉ có mỗi cái tên là Cộng sản, khán giả
đổ tới xem một vở nhạc kịch năm 2010 dựa trên Tư Bản,
tác phẩm nổi tiếng nhất của Marx. Ở Nhật, Tư Bản giờ có
cả ấn bản hoạt họa manga. Năm ngoái, dân Brazil bầu một
cựu du kích quân Marxist, Dilma Rousseff, làm tổng thống.
Chuyện Marx trở thành mốt thời thượng chẳng có gì lạ ở
thời điểm mà các ngân hàng Châu Âu đang đứng bên bờ vực
sụp đổ và tình trạng nghèo đói ở Mỹ đã đạt tới những
mức chưa từng thấp trong gần hai thập niên. Các chính khách
biết họ có thể lấy điểm với cử tri của mình bằng cách
công kích những nhà tư bản tạo công ăn việc làm như những
tên vô lại bẩn thỉu.
Nhưng điều đáng ngạc nhiên là thế này. Ta không cần mặc
áo Che Guevara đi ngủ hay ném đá vào tiệm McDonald mới công
nhận rằng tư tưởng của Marx là đáng nghiên cứu, đáng trăn
trở, và có thể thậm chí áp dụng cho những thách thức hiện
nay của chúng ta. Suy cho cùng, nhiều nhà tư tưởng tư bản
chủ nghĩa vĩ đại cũng đã từng bàn về Marx. Joseph Schumpeter,
bậc thầy về "sự hủy diệt mang tính sáng tạo" (creative
destruction) và là anh hùng của nhiều người ủng hộ thị
trường tự do, dành bốn chương đầu trong cuốn sách của ông
in năm 1942, Capitalism, Socialism and Democracy (Chủ nghĩa Tư bản,
Chủ nghĩa Xã hội và Dân chủ), để khám phá Marx Nhà tiên tri,
Marx Nhà xã hội học, Marx Nhà kinh tế học, và Marx Nhà thuyết
giáo. Ông viết tiếp với nhận xét rằng Marx đã sai lầm,
nhưng ông không thể bỏ qua Marx.
Dù Marx lạc lối về nhiều điều, và dù có ảnh hưởng nguy
hại ở những nơi như Liên Xô và Trung Quốc, trong khối tác
phẩm (đồ sộ) của ông có những bài viết tinh tường sâu
sắc đáng ngạc nhiên. Một trong những luận điểm quan trọng
nhất của Marx là chủ nghĩa tư bản vốn dĩ bất ổn. Ta chỉ
cần đọc tít thời sự từ Châu Âu – hiện bị ám ảnh bởi
bóng ma Hy Lạp có thể vỡ nợ, một thảm họa ngân hàng, và
sự sụp đổ của khu vực đồng tiền chung euro – là đủ
thấy ông đúng. Marx chẩn đoán tính bất ổn của chủ nghĩa
tư bản ở thời điểm mà những người cùng thời và những
người đi trước ông, như Adam Smith và John Stuart Mill, hầu như
mê mẩn với khả năng của chủ nghĩa tư bản trong việc phục
vụ những ước muốn của con người.
Gần đây, Marx thu hút sự quan tâm nghiên cứu thấu đáo từ
những người như kinh tế gia Nouriel Roubini thuộc Đại học New
York, và George Magnus, cố vấn kinh tế cao cấp của Ngân hàng
Đầu tư UBS ở London. Chủ lao động của Magnus, ngân hàng UBS
có trụ sở chính ở Thụy Sĩ, là một cột trụ của thế
giới tài chính, với văn phòng ở hơn 50 nước và giá trị tài
sản hơn 2 ngàn tỉ đô-la. Tuy nhiên, trong một bài viết ngày
28/8 cho Bloomberg View, Magnus nói rằng "nền kinh tế toàn cầu
hiện nay có một số điểm tương đồng kỳ lạ" với những
gì Marx đã tiên liệu. (Ông ghi chú đó chỉ là ý kiến cá
nhân.)
Thử bàn cụ thể xem sao. Theo Magnus, Marx tiên đoán rằng các
công ty sẽ cần ít công nhân hơn khi họ cải tiến năng suất,
tạo ra một "đội quân dự trữ công nghiệp" của những
người thất nghiệp; sự tồn tại của đội quân này gây áp
lực giảm lương cho những người có việc làm. Thời buổi
này với tỉ lệ thất nghiệp Mỹ vẫn cao hơn 9 phần trăm, khó
mà tranh cãi với điều đó. Hôm 13/9, Cơ quan Điều tra Dân số
Mỹ công bố số liệu cho thấy mức thu nhập ở điểm giữa
đã giảm từ năm 1973 cho tới 2010 đối với nam công nhân từ
15 tuổi trở lên, có việc làm toàn thời gian quanh năm, sau khi
đã tính trượt giá. Thân phận của người lao động chân tay
ở Mỹ vẫn khác xa với mức lương bèo bọt đủ sống và bóng
ma "bất hạnh chồng chất" mà Marx gọi hồn kêu về. Nhưng
cũng chưa phải tương lai tươi sáng.
Marx thích chỉ trích nhà kinh tế học người Pháp Jean-Baptiste
Say, người đã lập luận rằng tình trạng thừa thải hàng hóa
chung không thể tồn tại bởi vì thị trường luôn khớp cung
với cầu. Marx lập luận rằng tình trạng sản xuất thừa
mứa là bản chất cố hữu của chủ nghĩa tư bản vì giai cấp
vô sản không được trả lương đủ để mua hàng hóa do giai
cấp tư sản sản xuất. Một lần nữa, gần đây khó mà
phản bác lý thuyết đó. Cách duy nhất mà giới lao động Mỹ
có thể duy trì tiêu dùng trong thập niên vừa qua là bằng cách
vay mượn quá mức. Khi thị trường nhà sụp đổ, nhiều
người lụn bại vì nợ ngập đầu. Cơn ác mộng vỡ nợ
tiếp sau đó vẫn còn chưa dứt.
Những người ái mộ Marx nhìn nhận tất cả những vấn đề
với một thái độ "đã bảo mà" đầy thương hại. Nhà
địa lý David Harvey, 75 tuổi, đã dạy cuốn Tư Bản của Marx
trong 40 năm ở những trường bao gồm Đại học Oxford, Đại
học Johns Hopkins, và hiện nay tại Trung tâm Cao học thuộc Đại
học City University of New York. Văn phòng của Harvey, cách tòa nhà
Empire State Building một con phố, được trang trí bằng một bức
chân dung màn lụa vẽ Marx, từ trên tủ sách trừng mắt nhìn
xuống. Cũng như Marx, Harvey tin rằng giới tư sản có khuynh
hướng gieo mầm mống cho sự tự hủy diệt. Theo lập luận
của vị giáo sư này, chủ nghĩa tư bản không kiềm chế có xu
hướng đưa tới thặng dư vô độ, vì vậy việc hoàn toàn xóa
bỏ quản lý điều tiết thực sự có tác hại cho chủ nghĩa
tư bản về lâu dài. "Đảng Cộng hòa đang trên đường hủy
diệt chủ nghĩa tư bản," Harvey nói với giọng thích thú,
"và họ có thể làm điều đó tốt hơn tầng lớp lao
động."
Nhưng hượm đã. Điều mà Marx và các đồ đệ đánh giá
thấp là khả năng tự lành bệnh của chủ nghĩa tư bản. Đó
có thể là sai lầm trí tuệ tai hại của ông. Tuyên ngôn Cộng
sản nói rằng khi cách mạng của giai cấp công nhân diễn ra,
nó sẽ mang lại giáo dục công cộng miễn phí cho trẻ em và
xóa bỏ "lao động trẻ em trong công xưởng như hiện nay".
Thế nhưng, hóa ra là thế giới không cần đến một cuộc cách
mạng vô sản để những cải cách xã hội đó diễn ra; chỉ
cần có chủ nghĩa tư bản được khai sáng.
Những nhà Marxist giáo điều thích nói rằng "cơ sở hạ
tầng" kinh tế quyết định và kiểm soát "kiến trúc
thượng tầng" chính trị xã hội, nhưng điều ngược lại
cũng có thể đúng. Các lãnh tụ chính trị đã nhiều lần
khắc phục những thặng dư của chủ nghĩa tư bản, như trong
chiến dịch chống độc quyền của Tổng thống Teddy Roosevelt,
chương trình phục hồi kinh tế New Deal [sau thời kỳ Đại
Khủng hoảng 1929-1933, N.D.] của Tổng thống Franklin Roosevelt,
và chương trình cải cách xã hội Great Society [xóa bỏ nghèo
đói và bất công chủng tộc, N.D.] của Tổng thống Lyndon
Johnson'
Hiện nay, một lần nữa chủ nghĩa tư bản không kiềm chế
đang đe dọa phá hoại chính mình. Những ngân hàng lớn nhất
thế giới, yếu về tài chính nhưng mạnh về chính trị, đang
siết chặt với người đi vay trong nỗ lực cứu vãn bảng cân
đối kế toán của chính họ. Tương tự như thế, các nước
chủ nợ như Trung Quốc và Đức đang cố gắng đổ gánh nặng
tái cân đối lên vai các nước con nợ, mặc dù việc siết
chặt họ quá mức có nguy cơ dẫn tới một thảm họa kinh tế
và tài chính.
Đã đến lúc cần có một đợt bùng nổ khai sáng khác.
Trước kia, John Maynard Keynes của Anh, và Hyman P. Minsky của Mỹ
(tác giả cuốn Stabilizing an Unstable Economy [Ổn định Một Nền
Kinh tế Bất ổn]) đã giúp ích cho chủ nghĩa tư bản bằng
cách chẩn đoán khuynh hướng sa vào khủng hoảng của chủ
nghĩa tư bản và kê toa bốc thuốc để hồi phục. Các nhà
hoạch định chính sách hiện nay càng sớm "nhận ra rằng
chúng ta đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng ngàn năm
một thuở của chủ nghĩa tư bản," như Magnus viết, "thì
họ càng được trang bị tốt hơn để tìm được lối thoát ra
khỏi khủng hoảng." Thấu hiểu những khía cạnh Mark đã
nhận định đúng là bước đầu tiên để tiến tới bảo
đảm rằng những tiên đoán của ông về sự suy tàn của chủ
nghĩa tư bản vẫn còn sai lầm.
<em>Coy là trưởng biên tập Kinh tế của Bloomberg
Businessweek.</em>
<em>Dịch từ bản tiếng Anh "Marx to Market", Bloomberg
Businessweek, 14/9/2011</em>
<em>Bản tiếng Việt: PVLH, Blog lên đông xuống đoài,
http://phamvuluaha.wordpress.com</em>
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10025), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét