Nguyễn Mạnh Tường - Tiểu thuyết Une voix dans la nuit (I): Cải cách ruộng đất và cải tạo tư sản

<center><img src="http://danluan.org/files/u1/sub02/NMT-UneVoix2.jpg"
width="344" height="257" alt="NMT-UneVoix2.jpg" /></center>

"<em>Chưa bao giờ ở nước ta và trong cả lịch sử loài
người, một chính quyền dám khẳng định sự áp chế vô nhân
đạo đến độ không đoái hoài đến nỗi đau khổ cá nhân và
gia đình như thế. Chưa bao giờ, kể cả trong lúc thác loạn
điên khùng nhất, một bạo chúa dám động đến quyền sở
hữu cá nhân và đập vỡ viên gạch nền móng của xã hội
loài người</em>". Nguyễn Mạnh Tường.

Trong buổi nói chuyện trên RFI tháng 9/1995, trả lời câu hỏi:
Từ sự đoàn kết dân tộc thời toàn quốc kháng chiến 1946,
đến thời kỳ phân hoá chia rẽ dân tộc chỉ có 10 năm. Tại
sao? Nguyễn Hữu Đang giải thích:

"<em>Có thể hiểu việc đó như thế này: Ngay trong cương lĩnh
của đảng Cộng sản Đông Dương cũng ghi rõ là làm Cách mạng
để tiến tới Cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cho nên 10 năm sau,
nhất định nước Việt Nam phải tiến lên Chủ nghĩa xã hội
và muốn tiến lên Chủ nghĩa xã hội thì phải tiến hành Đấu
tranh giai cấp, phải xóa bỏ địa vị, quyền lợi của hai giai
cấp bóc lột là giai cấp địa chủ và giai cấp tư sản.
Trước kia đoàn kết Mặt trận giải phóng dân tộc, giờ đây
phải Đấu tranh giai cấp để tiến tới Chủ nghĩa xã hội.
Trong Đấu tranh giai cấp như thế thì quyết liệt lắm, có ảnh
hưởng chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao Trạch Đông là quá
tả, rất ác liệt, (...) Chúng tôi chống, là chống- cái chủ
nghĩa Staline và chống chủ nghĩa Mao Trạch Ðông. Sự thâm nhập
của chủ nghĩa Staline và chủ nghĩa Mao Trạch Đông đưa đến
nhiều hiện tượng -nói là chuyên chính thì chưa đủ- phải
nói là cực quyền toàn trị, nó gay gắt ghê lắm. Nó gay gắt
ghê lắm! Ðảng Cộng Sản đã phạm sai lầm trong Cải cách
ruộng đất, rồi thì Chỉnh huấn, Chấn chỉnh tổ chức, Ðăng
ký hộ khẩu v.v... Tất cả những cái đó đều do những cái
quá tả, từ phương Bắc nó xâm nhập vào, chứ không phải
chờ đến bây giờ nó mới đem cái tả khuynh hữu trí vào
nước Việt Nam. Cái thời mà cụ Hồ chưa về nước và ông
Trần Phú làm Tổng bí thư, thì làm cái cuộc gọi là Xô Viết
Nghệ Tĩnh, đưa ra cái khẩu hiện rất quái gở tức là "Trí,
phú, địa, hào đánh tận gốc, trốc tận rễ". Nó quá tả như
thế thì còn làm sao giành được độc lập! Như thế là chia
rẽ dân tộc</em>".

Heinz Schutte, trong bài Năm mươi năm sau: Trăm hoa đua đua nở ở
Việt Nam 1954-1960 tóm tắt rất sát tình hình miền Bắc thập
niên 1950 như sau:

"<em>Tháng 1/1950, Đại Hội III Đảng Cộng sản, tuyên bố Việt
Nam chính thức đi theo đường lối Trung Quốc và đẩy mạnh
chủ trương đấu tranh giai cấp trong cả nước. Điều này dẫn
tới việc thủ tiêu những người bị cho là những "phần tử
phản cách mạng". Sách vở Trung Quốc, đặc biệt những tác
phẩm của Mao được dịch ra tiếng Việt -vài tác phẩm do
chính Hồ Chí Minh dịch- để truyền bá những phương pháp của
Trung Quốc trong việc vận dụng chủ nghiã Mác-Lê-Mao, trong
việc tiến hành cách mạng và cải tạo tư tưởng ở Việt Nam.
Tại chiến khu Việt Bắc, từ những năm 1951 đã có các khoá
chỉnh huấn tư tưởng dành cho trí thức</em>" (Trích bản dịch
từ tiếng Đức của Talawas).

Hầu như tất cả những nhà trí thức đối lập hàng đầu như
Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Hữu Đang đều chống
Đấu tranh giai cấp. Đấu tranh giai cấp nẩy sinh Chỉnh huấn.
Chỉnh huấn chuẩn bị cho Giảm tô. Sau Giảm tô đến Cải cách
ruộng đất, Cải tạo tư sản, và sau cùng là Thanh trừng trí
thức. Các chính sách này nối tiếp nhau trong 10 năm, từ 1950
đến 1960, để hoàn thành cuộc Cách mạng xã hội chủ nghiã.

Cho đến nay, hai tác giả viết về tiến trình "xây dựng xã
hội chủ nghiã" một cách rõ rệt nhất là Hoàng Văn Chí trong
Từ thực dân đến Cộng sản và Nguyễn Mạnh Tường trong Une
voix dans la nuit-Tiếng vọng trong đêm. Sách của Hoàng Văn Chí,
dưới dạng nghiên cứu, ra đời từ 1962, nguyên tác tiếng Anh,
đã được dịch sang tiếng Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và
tiếng Việt do chính tác giả dịch, đã được phổ biến rộng
rãi và được Pham Thị Hoài đưa lên Talawas những năm gần
đây. Tác phẩm của Nguyễn Mạnh Tường, trong khi chờ đợi
được đánh máy, kèm với bản chụp ảnh và bản dịch sẽ
đưa dần lên Internet, hôm nay, chúng tôi dịch và giới thiệu
những phần chính trên RFI, giống như việc Boudarel đã làm khi
ông giới thiệu bài Qua những sai lầm trong cải cách ruộng
đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo" của Nguyễn Mạnh Tường
ra tiếng Pháp cách đây hơn 20 năm. Nhưng trước khi đọc
Nguyễn Mạnh Tường, chúng ta cần nhìn lại chiến dịch Cải
cách ruộng đất qua sự phân tích của Hoàng Văn Chí.

<h2>Từ Chỉnh huấn đến Cải cách ruộng đất</h2>

Theo Hoàng Văn Chí, ở Khu Tư, Nguyễn Sơn có viết mấy cuốn
sách nhỏ về Chỉnh quân, Chỉnh phong, và Chỉnh Đảng. Chỉnh
là chỉnh đốn tư tưởng và tác phong. Chỉnh quân cho quân
đội, Chỉnh Đảng cho đảng viên, và Chỉnh phong cho người
ngoài đảng. Vì không ưa Nguyễn Sơn nên Trường Chinh và Võ
Nguyên Giáp không dùng, chỉ chép lại những nét đại cương,
lập nên phong trào Rèn cán chỉnh cơ (Rèn luyện cán bộ và
chỉnh đốn cơ quan). Mãi sau này, khi Nguyễn Sơn đã trở lại
Tàu năm 1950, và cố vấn Trung Quốc đã sang Bắc Việt để
huấn luyện, thì Đảng mới áp dụng phương pháp "cải tạo tư
tưởng" hoàn toàn theo kiểu Mao, gồm Chỉnh phong, Chỉnh Đảng
hợp lại gọi là Chỉnh huấn. Chỉnh huấn chia làm nhiều đợt
để mọi người có thể thay phiên nhau nghỉ việc, đi học.
Mỗi khoá chỉnh huấn dài ba tháng, thêm một tháng sắp xếp ăn
ở. Vì vậy, mỗi chiến dịch chỉnh huấn kéo dài từ 1 năm
đến 18 tháng, cán bộ cao cấp đi học trước, rồi về dạy
học viên khoá đầu.

Các bài học do Trường Chinh soạn, nhưng một phần được in
lại từ cuốn sách Sửa đổi lề lối làm việc của XYZ (XYZ
là một biệt hiệu của Hồ Chí Minh), do nhà xuất bản Sự
Thật in và chính ông Hồ viết năm 1946. Như vậy, Cải cách
ruộng đất là công trình soạn thảo chung của Hồ Chí Minh và
Trường Chinh. Vẫn theo Hoàng Văn Chí, khi học viên có thắc
mắc mà giáo viên đả thông không nổi, thì ông Trường Chinh,
Tổng Bí Thư Đảng sẽ đến. Nếu ông Trường Chinh cũng không
thuyết phục được, thì ông Hồ sẽ thân hành đến. Chưa có
thắc mắc nào mà ông Hồ không đả thông nổi. Khoá chỉnh
huấn 1953-1954, mà ông Hoàng Văn Chí tham dự, gồm 5 bài học:

1- Thái độ học tập. 2- Lịch sử cách mạng Việt Nam. 3- Tình
hình mới, nhiệm vụ mới.4- Tác phong cán bộ và đảng viên. 5-
Cải cách ruộng đất.

Bài học thứ 5, về Cải cách ruộng đất, nhắm vào năm điểm
chính:

1/ Bản chất nông dân rất thực tế (tức là hám lợi). 2/ Vậy
để họ phấn khởi, ta nên cấp phát cho họ đủ ruộng đất
cầy cấy, thành chủ nhân ông ruộng đất của mình. 3/ Địa
chủ là thành phần bóc lột. Là kẻ thù số một của nhân
dân. 3/ Nhưng chỉ có nhân dân mới biết rõ, ai là địa chủ
phản động gian ác. 5/ Vậy phải để cho nhân dân lãnh đạo
đấu tố. Đảng đứng sau hướng dẫn.

Tài liệu chính trong bài học thứ 5 này là bản báo cáo của
Trường Chinh đọc tại Đại hội I của Đảng Lao Động, họp
tại Việt Bắc từ 14 đến 23/11/1953, chính thức đưa chính
sách Đấu tranh giai cấp vào Việt Nam. Trường Chinh lập luận:

Chế độ cũ là chế độ bóc lột. Việt Nam có 5% dân số là
địa chủ, chiếm 70% diện tích ruộng đất trong nước. Nếu
lấy lại ruộng đất ấy, chia đều cho mọi người thì mỗi
gia đình sẽ được 1 héc-ta. Địa chủ luôn luôn cấu kết
với đế quốc Pháp. Địa chủ và đế quốc đều là kẻ thù.
Phải tiêu diệt cả hai: Phản đế là tiêu diệt đế quốc
(Pháp). Phản phong là chống phong kiến, tức là tiêu diệt giai
cấp địa chủ.

Vì trí thức không dễ dàng chấp nhận chính sách Cải cách
ruộng đất theo kiểu Mao, nên Đảng phải tổ chức các chiến
dịch Chỉnh huấn để đả thông tư tưởng. Những người tham
dự chỉnh huấn xuất thân trung lưu hoặc khá giả, họ đã
chấp nhận lập luận của Đảng, với hy vọng, nếu có bị
ghép vào thành phần địa chủ, thì cũng là địa chủ tiến
bộ, đã theo kháng chiến và theo Đảng.

Cuộc Cải cách ruộng đất được thực hiện qua hai chiến
dịch: Giảm tô (1953-54) và Cải cách ruộng đất đích thực
(1954-56) đều có đấu tố và xử bắn địa chủ. Hai chiến
dịch này không thực hiện cùng một lúc trên toàn quốc, mà
làm từng đợt ở những vùng mà đảng cộng sản nắm vững,
thành một vết dầu loang. Mỗi chiến dịch có 5 đợt. Cả hai
chiến dịch đều nhắm mục đích tiêu diệt toàn bộ địa
chủ để thành lập chế độ vô sản chuyên chính ở nông
thôn.

Vài tháng sau cuộc "Đấu tranh chính trị" (là cuộc khủng bố
từ tối 23/12 Nhâm Thìn (7/2/1953) nhằm ngày ông Táo chầu trời,
kéo dài trong nửa tháng, tiêu diệt tất cả thành phần phản
động), chính quyền mới bắt đầu thực hiện chiến dịch
Giảm tô.

Giảm tô [tô là địa tô viết tắt, địa tô là tiền hay hiện
vật người thuê đất (tá điền) phải giả cho người chủ
đất (địa chủ)]. Vài năm trước, chính quyền đã ra luật
bắt địa chủ phải giảm thu địa tô 30%, giống chính sách
Giảm tô thuần tuý thực hiện ở Trung Quốc trước 1949, trong
vùng Mao chiếm đóng. Chiến dịch Giảm tô của Trường Chinh
1953, là phần đầu của chính sách Cải cách ruộng đất, có
đấu tố và xử bắn địa chủ; chỉ khác Cải cách ruộng
đất ở điểm: Giảm Tô giới hạn trong số ít người, còn
Cải cách ruộng đất, số người bị quy là địa chủ tăng
gấp năm lần so với Giảm tô. Thực chất Giảm tô như sau:

Một đoàn cán bộ đã được huấn luyện ở Trung quốc giả
dạng làm nông dân bí mật về làng. Họ thực hành chính sách
gọi là ba cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc với chủ nhà)
trong ba tháng, làm giúp mà không lấy công, góp phần ăn với
chủ nhà. Họ có nhiệm vụ điều tra và "giác ngộ" người
nông dân về sự tàn ác của địa chủ. Người nông dân
được "giác ngộ" gọi là "rễ", và công tác kể trên gọi là
"bắt rễ". Từ đó, cán bộ chỉ hành động qua cái "rễ", và
rễ A sẽ kết nạp B, B kết nạp C... việc này gọi là "xâu
chuỗi"; B, C, D... được gọi là cốt cán. Sau vài tháng hoạt
động như vậy, cán bộ có đầy đủ thông tin về cả làng và
sẽ báo cáo bí mật với Đoàn Cải cách ruộng đất đóng ở
tỉnh. Cán bộ quy định tất cả các thành phần trong làng,
đặc biệt thành phần địa chủ và gán cho người nào những
tội gì.

Tới lúc đó Đội Cải cách ruộng đất mới ra mắt công khai,
đứng lên điều khiển mọi việc trong làng, thay mặt cơ quan
hành chính địa phương. Chiến dịch có 6 bước liên tiếp: 1/
Định thành phần. 2/ Phân loại địa chủ. 3/ Tống tiền: Địa
chủ bị bắt rồi, vợ con sẽ phải trả ngay một số tiền
gọi là "thoái tô" hoặc "nợ nông dân" tức là phải trả lại
số tô đã thu "quá mức" trong 4, 5 năm vừa qua. 4/ Tố khổ:
Nông dân được học tập cách tố khổ, lập danh sách tội ác
của địa chủ. 5/ Đấu địa chủ: Địa chủ được mang ra
đấu trường. 6/ Xử án địa chủ: Vài ngày sau cuộc đấu,
một toà án nhân dân đặc biệt tới xã, xử những người bị
tố, toà án toàn là bần cố nông không ai có kiến thức về
luật pháp.

Chiến dịch Giảm tô, đánh vào thành phần địa chủ "đầu
sỏ" phản động, bóc lột. Khoảng một năm sau chiến dịch
Giảm tô, Đảng thi hành chiến dịch Cải cách ruộng đất
đích thực.

Cải cách ruộng đất đích thực là cuộc thanh trừng quy mô
trong toàn quốc, thực hiện ngay trong hàng ngũ Đảng. Các đảng
viên cũng bị thanh trừng như quần chúng ngoài đảng. Lần này
Đảng ấn định cho mỗi xã một con số tối thiểu địa chủ
gấp năm lần chiến dịch Giảm tô. Và như vậy, không đủ con
số địa chủ để đánh, phải đánh tới các thành phần
dưới là phú nông, có nơi tới cả bần nông. Khi Cải cách
ruộng đất đợt 5, tức là đợt cuối cùng, chấm dứt, Đảng
mới tuyên bố Sửa sai. (Theo Hoàng Văn Chí, Từ thực dân đến
cộng sản, nxb Chân Trời Mới, 1962, từ trang 181 đến 263).

Từ 1953 đến 1956, với Chiến dịch Giảm tô và Cải cách
ruộng đất, chính quyền đã tiêu diệt xong thành phần địa
chủ ở nông thôn. Từ 1956 đến 1960, là cuộc thanh trừng trí
thức trong một quy mô rộng lớn mà NVGP là tâm điểm. Cùng
thời điểm ấy diễn ra cuộc Cải tạo tư sản ở thành thị.
Ba giai đoạn: Cải cách ruộng đất, Cải tạo tư sản và Thanh
trừng trí thức được Nguyễn Mạnh Tường phản ánh trong Une
voix dans la nuit (Tiếng vọng trong đêm).

<h2>Une voix dans la nuit (Tiếng vọng trong đêm)</h2>

Une voix dans la nuit (Tiếng vọng trong đêm),có tiểu tựa:Tiểu
thuyết viết về Việt Nam từ 1950 đến 1990. Trang cuối ghi:
Viết xong ngày 19/3/1993, giữa tuổi 84 và 85.

Bản thảo đánh máy khổ A4, 109 trang, thiếu 16 trang đầu. Mục
lục đề rõ bốn phần: I- Cải cách ruộng đất. II- Cải tạo
tư sản. III- Vấn đề trí thức. IV- Độc quyền đảng trị.

Và thêm phần cuối: Đối thoại giữa một người trí thức và
một người cộng sản.

Vậy có thể hiểu: 16 trang đầu do tác giả tự ý bỏ đi. Đây
là cuốn tiểu thuyết chính trị, mô tả và phân tích những
giai đoạn chính trong đời sống miền Bắc thập niên 50.

Nguyễn Mạnh Tường soi ống kính vào chiến dịch Cải cách
ruộng đất, tìm hiểu bộ não điều khiển để biến những
người dân quê hiền lành chất phác thành những kẻ tàn ác
trong đấu tố. Ông mô tả guồng máy bào chế căm thù đã
được kiến trúc như thế nào, với con mắt quan sát tinh vi
của một chứng nhân sống từ bên trong.

Tác phẩm có giá trị như một tư liệu lịch sử. Nếu Un
excommunié (Kẻ bị khai trừ), (Quê Mẹ, Paris, 1992) mô tả
phương pháp thanh trừng các trí thức tham gia NVGP, thì Une voix
dans la nuit(Tiếng vọng trong đêm) mở địa bàn rộng hơn, truy
nguyên đến nguồn cội, tìm hiểu lý do vận hành và mục đích
của ba chính sách tiêu diệt: địa chủ, sở hữu chủ, và trí
thức, để thiết lập chế độ vô sản chuyên chính ở Việt
Nam.

<h2>Cải cách ruộng đất</h2>

Nguyễn Mạnh Tường chú ý đến những gì xẩy ra trong hậu
trường cải cách ruộng đất, mô tả quá trình rèn luyện
chính trị, học tập căm thù, tập dượt đấu tố, trước
ngày vở kịch mở màn thực thụ trên đấu trường.

Địa điểm là một làng nghèo trong phủ Nho Quan. Lan, con gái út
một công chức về hưu, nhà ở số 13, phố Hàng Giấy, Hà
Nội, đang học năm thứ nhất trường Cao đẳng sư phạm sinh
ngữ, môn Pháp văn, và Hiên, một bộ đội, cả hai được gửi
đi học tập cải cách ruộng đất. Tình cờ gặp nhau, tình yêu
chớm nở giữa hai người. Một cặp thanh niên khác, sau cũng
trở thành vợ chồng, đó là Năng, ủy viên chính trị, đội
phó đội cải cách, và Thủy, thành viên đoàn Thanh Niên Cộng
Sản. Năng và Thủy sẽ trở thành giai cấp lãnh đạo.

Người đọc dễ dàng nhận ra: gia đình Lan chính là gia đình
Nguyễn Mạnh Tường mà ông Cát, công chức thời Pháp thuộc
về hưu, vai chính trong bi kịch cải tạo tư sản, là cụ
Nguyễn Căn Cát, cha của tác giả. Những nhân vật này cùng nhau
xuyên qua ba thời kỳ: Cải cách ruộng đất, Cải tạo tư sản
và Thanh trừng trí thức, trong vị trí đối lập: một bên là
trí thức, một bên là cộng sản, trong cuộc chiến một mất
một còn.

Vào truyện bằng những dòng lãng mạn pha lẫn kinh hoàng,
Nguyễn Mạnh Tường viết:

"Mặt trời chiều tan loãng trong ao vàng, quét những tia sáng
xiên lên bầu trời phía tây tới tận thiên đỉnh. Theo đúng
mệnh lệnh, Nho Quan, chôn vùi trong im lặng chết chóc, không
động tĩnh, không bóng người vật, chó mèo không dám phóng qua
đường! Không biểu hiệu sống nào chứng tỏ những cơn cuồng
nộ, tàn ác của phi công địch sẵn sàng thả bom hay nã liên
thanh từng loạt.

Trong cảnh ngày tàn, giữa lúc nhá nhem ma quỷ hiện, Nho Quan
biến thành nơi tụ họp của những đoàn người buôn bán, ban
ngày ẩn núp trong các làng mạc xung quanh, cách trung tâm thị
trấn năm cây số: có người, vì khôn ngoan hay cẩn thận, đào
cả hầm sâu ngoài đồng. Nhưng giờ thì bà tiên hoàng hôn đã
cầm cây đũa thần đánh thức mọi người ra khỏi trạng thái
hôn mê. (...)

"Trên không, nền trời xanh thẫm làm nổi bật ánh sáng rực
rỡ từ các vì sao ganh đua nhấp nháy, rung động. Dưới đất,
bóng tối âm u dâng ngọn triều, bao trùm lên cảnh vật mênh
mông, hàng đoàn bạn hàng đi về phía chợ, vai gánh hai thúng
đầy nông sản; những ngọn đèn nhỏ, móc trên đòn gánh, theo
nhịp chân rảo bước, ngời lên ấn tượng nên thơ của những
ngọn lửa vàng dắt nhau nhẩy múa" (Trích dịch trang 16-17).

Cuốn tiểu thuyết bắt đầu bằng những dòng thơ mộng đầy
bí mật, nhưng rồi tác giả rời dần bút pháp văn chương,
để đi vào bút pháp chính trị.

<h2>Bài học thứ nhất về sự bóc lột và sự căm thù</h2>

Trên đường đêm từ Nho Quan về làng cách phố phủ hai cây
số, Lan và Hiên tình cờ gặp nhau, họ theo Đội cải cách về
đây để sống ba cùng. Đội trưởng là một nhà cách mạng
lão thành và đội phó, Năng, một uỷ viên chính trị. Tám
thành viên khác đều là cán bộ làm việc trong những cơ quan
kháng chiến, tuổi không quá 20. Đêm đầu trước khi vào làng
họ được nhận bài học khai tâm của ông Đội trưởng:

"<em>Thưa các đồng chí, qua những lớp học chính trị, chắc
các đồng chí đã biết rằng Đảng ta, sau khi đánh đuổi bọn
thực dân hút máu mủ đồng bào, giải phóng Việt Nam khỏi ách
nô lệ ngoại bang, trả lại cho người dân phẩm giá và danh
dự của họ, đã tự lãnh nhiệm vụ tạo hạnh phúc cho dân.
Một mai khi người lính thực dân cuối cùng rời bỏ xứ này,
khi chúng ta trở lại làm chủ những tài nguyên thiên nhiên của
chúng ta, thì ta phải xây dựng lại tổ quốc và sản xuất.
Kẻ thù bên ngoài không còn dầy xéo lãnh thổ, nhưng chúng ta
vẫn còn vướng mắc kẻ thù bên trong, cũng nguy hiểm không
kém, vì tiềm lực của nó rất phức tạp, đa diện, mờ ám,
vô hình, bí mật, và ẩn sâu trong nội tạng của chúng ta! Đó
là sự ham thích bóc lột. Nó đẩy ta tới chỗ chiếm hữu của
cải không do ta làm ra bằng mồ hôi nước mắt. Nhưng chúng ta
không thể sống như ký sinh trùng trong xã hội, bằng sức lao
động của kẻ khác.</em>

<em>Bản thân tôi chưa dám nghĩ chế độ cộng sản sẽ cố
chấp đến độ tuyên bố rằng tất cả mọi hạt gạo kiếm
được không do sức lao động, đều là sản phẩm của sự bóc
lột con người. Nếu như thế, thì tất cả các sở hữu chủ,
cho thuê động sản hay bất động sản để kiếm lời, đều
là bóc lột. Ở thôn quê, mọi địa chủ không cầy cấy đất
đai của mình mà cho cấy rẽ, đều là bóc lột. Trong làng này,
chỉ có khoảng 15 héc-ta đất trồng cấy. Người giầu nhất
có 7 héc-ta. Ba người kia chia nhau chỗ còn lại.</em>

<em>Đến đây, diễn giả ngừng một chút để đợi phản ứng
của cử toạ. Không một lời nào cất lên phàn nàn vì chiến
lợi phẩm nhỏ nhoi mà người săn sẽ thu lượm được. Biết
rõ những gì xẩy ra cho những kẻ hay phản đối, hoặc bướng
bỉnh muốn tỏ mình hay ho, ra cái điều "ta đây gì cũng biết",
tất cả ê-kíp ẩn trong im lặng, một sự ngậm tăm đầy ý
nghiã.</em>

<em>Diễn giả tiếp tục: "Trong các đồng chí có người sẽ
nghĩ rằng, con thú mà chúng ta lùng bắt không xứng với công
săn. Tôi xin trả lời: ta không săn một con thú mà săn con trùng
của một căn bệnh mà ta phải trừ tuyệt nọc, bằng mọi giá,
để nó khỏi nhiễm độc xứ sở, lây lan dân tộc. Xã hội
chủ nghiã chỉ có thể chiến thắng sau khi đã tiêu diệt sự
bóc lột và những kẻ bóc lột tàn nhẫn và ác độc nhất.
Vậy các đồng chí đã hiểu rõ ý nghiã của cuộc cải cách
ruộng đất. Những ai góp phần vào công cuộc cải cách ruộng
đất, là góp sức củng cố vững bền niềm tin vào chủ nghiã
cộng sản và cũng tự dọn cho mình một chỗ đứng vinh dự
trên Thành đài mới mà chúng ta đang xây dựng".</em>

<em>Diễn giả lại ngừng một lát để cho những kiến thức
mới, nhập vào óc người nghe, thấm thật sâu, rồi mới tiếp
tục:</em>

<em>"Thưa các đồng chí, tôi vừa nhắc các đồng chí thế nào
là chiến lược cộng sản. Bây giờ tôi sẽ nói tới cái mưu
lược phải dùng ở nơi hẻo lánh này, mặc dù nghèo khổ cùng
cực, cũng không ngăn được sự bóc lột lan vào tàn phá. Chúng
ta sẽ dành những đòn thâm độc nhất cho tên đại địa chủ
làng này. Việc quan trọng nhất không phải là kết án tử hình
nó, mà trước hết phải hủy hoại thanh danh nó, giết chết
lòng tự hào của nó, cắt tuyệt những hoài nghi cho rằng nó
vô tội, đập vỡ lòng tự tin của nó về bản thân, về của
cải mà nó đã chiếm đoạt bằng tội ác trên lưng người
nông dân nghèo mà cuộc sống hàng ngày tưới đẫm mồ hôi và
nước mắt, phải hạ nhục nó, kéo nó xuống địa vị con giun
bò dưới đất mà ta nghiền nát dưới gót giầy! Những đãi
ngộ mà ta dành riêng cho nó, không chỉ nhắm đưa đến cái
chết đáng đời của nó mà hơn nữa, ta phải giật cái vòng
hoa trên đầu nó xuống, cái vòng nguyệt quế cho phép nó đứng
ngang hàng với thánh thần trong đầu óc người dân quê, họ
đã quỳ mọp và hiến dâng lòng sùng kính của họ. Đó là
phương tiện hữu hiệu nhất để đem lại cho những kẻ thanh
bần này lòng tự tin và phẩm giá con người. Nhưng kết án và
trừng phạt kẻ bóc lột, hãy còn là nhẹ. Ta còn phải bôi đen
nó hơn nữa, không chỉ phơi bầy ra ánh sáng những hành vi ghê
tởm trái với luật pháp và đạo lý của nó, mà còn nên chế
thêm vào đó những hành động nhơ nhuốc bị luật pháp và
đạo đức kết án. Kẻ bóc lột, có thể không làm những
việc này, nhưng vì bị bản năng kích thích, nó vẫn vi phạm
trong đầu. Những người nghiêm khắc, quan tâm đến sự công
bằng, sẽ phản đối phương pháp này, nhưng tôi sẽ trả lời
là tôi đứng trên bình diện chính trị chứ không phải trên
khoa pháp lý, và nói theo ý thức quần chúng, ai muốn cứu cánh
thì phải dùng đến phương tiện.</em>

<em>Thưa các đồng chí, tôi đã cho các đồng chí biết những
thông tin cần thiết để thi hành bổn phận của các đồng
chí. Tôi không nói quá khi tuyên bố rằng sự bóc lột và kẻ
bóc lột là tử thù của chủ nghiã xã hội. Các đồng chí là
những cán bộ có kinh nghiệm, là những chiến sĩ xung phong của
Đảng. Vận mệnh của Đảng, hạnh phúc và tương lai của dân
tộc tùy thuộc vào chiến thắng của chủ nghiã cộng sản mà
các đồng chí là những người thợ thủ công. Ngay từ ngày
mai, chúng ta bắt tay vào việc. Đảng muôn năm! Chủ nghiã Cộng
sản muôn năm!</em>" (Trang 20- 21)

Sau bài học thứ nhất của ông Đội trưởng, cả đội lên
đường vào làng, mỗi người được phái ở một mái tranh,
tập sống ba cùng: cùng ăn, cùng ở, cùng làm với chủ nhà,
trong cùng một điều kiện sống.

<h2>Hiện tượng vắng bặt căm thù trong đầu óc người dân
quê</h2>

Lan và Hiên được phân phối ở hai nhà cạnh nhau, đầu làng.
Hai thanh niên tiểu tư sản thành thị lần đầu tiên tiếp xúc
với cảnh khốn cùng, cuộc đời tăm tối, rách rưới, đói
khát, bệnh tật của dân quê. Lan không tin trên thế gian này
lại có những người cùng khổ như thế.

"Cả Hiên lẫn Lan đều không khỏi rùng mình khi bước qua
ngưỡng cửa ngỏ gió lùa tứ phiá, một tấm phên tre khép hờ
rách mướp đầy những lỗ hở há miệng cho gió bấc ùa vào
trong những đêm đông. Mái tranh, nhiều chỗ rơm đã bị bầy
chuột ngự trị ở đấy cắp đi hay chọc thủng, lộ những
mảnh trời. Vách đất tróc từng mảng vì mưa gió và loài gặm
nhấm tàn phá: ruồi chui đầy nhà qua những vết nứt dọc, kêu
ầu ầu rất khó chịu" (Trang 22).

Sau một đêm thức trắng dưới mái tranh lộ thiên, sáng tinh mơ
hôm sau Lan và Hiên gặp lại nhau, Lan se sẽ lên tiếng bình
luận phương pháp "ba cùng" của Đảng, nhưng Hiên chặn lại
ngay và giảng cho Lan biết những kinh nghiệm đầu tiên về cách
ứng xử trong môi trường cộng sản mà anh đã học được
trong quân đội: Im lặng. Không phê bình. Tránh phát biểu. Và
họ bắt đầu áp dụng bài học đầu tiên của ông Đội
trưởng, về sự bóc lột và sự căm thù ở ngay gia đình mà
họ tá túc. Lan tìm cách trò chuyện với người chủ nhà để
kích động lòng căm thù của họ đối với những kẻ bóc
lột:

Nàng nói nhỏ với người chủ nhà:

- Có thể nào trên thế gian này, trong thời đại chúng ta đang
sống lại có những khổ đau nhường này? Tôi thật không tin
được những điều mắt thấy tai nghe. Còn bác, bác có ý thức
được cái khổ của bác không?

- Cô chỉ hỏi lẩn thẩn. Nhà tôi từ ba đời nay vẫn vậy, có
biết cái gì khác đâu. Riết rồi quen, chẳng còn tơ tưởng gì
nữa. Muốn có miếng cơm vào miệng thì phải vã mồ hôi. Mà
đau ốm hay xấu giời không ra đồng được thì phải nhịn
đói. Các cụ vẫn bảo tay làm hàm nhai mà.

- Nhưng khi bụng đói, gạo hết, thì có ai giúp bác không?

- Cùng khổ như nhau cả. Chẳng ai giúp được ai. Ấy cái số
nó vậy.

- Bác có xin được người giầu tí gì không?

- Xóm này làm gì có người giàu? Ngay địa chủ cũng chỉ có
vài mẫu ruộng, được thừa kế, hay người ta đem cầm rồi
bỏ, mà họ cũng chẳng giàu có gì, chỉ đủ ăn ngày hai ba
bữa.

Lan hỏi:

- Thế bác không thù họ à?

- Sao lại thù? Giời thương ai thì người ấy được. Ông giời
có cái lý của ông ấy. Mình cãi làm sao được với giời mà
thù hận những người được giời thương?" (Trang 25- 26).

Trước những lập luận như vậy, Lan chịu thua. Không chỉ mình
Lan mà nhiều người trong đoàn cùng có chung nhận xét: sự quái
lạ của cái làng này. Mặc cán bộ chính trị tìm mọi cách
kích động lòng căm thù giai cấp, họ vẫn trơ ra. Như thể
những kẻ bị bóc lột, quá ngu muội không thể hiểu được
cả một sách lược tân kỳ, nhờ ánh sáng chủ nghiã Mác-Lê
mà Đảng đã tìm ra để cứu họ khỏi bàn tay độc ác của
bọn địa chủ khát máu.

Buổi họp tối hôm đó, sau khi đội viên đã trình bày những
điều mắt thấy tai nghe về các gia đình họ ở ba cùng, hầu
như mọi người đều gặp nhau ở điểm: làng này không căm
thù địa chủ! Hiện tượng "vắng bặt căm thù giai cấp" ở
cái làng nghèo mạt rệp này, làm cho mọi người hoang mang,
trầm ngâm suy nghĩ. Bỗng Thủy, một Thanh niên Cộng sản đứng
lên xin phát biểu:

"Thưa các đồng chí, xin cho phép một thành viên của đoàn Thanh
Niên Cộng Sản được phát biểu vài cảm tưởng. Tôi xin nhắc
lại rằng Đảng ta đã bảo đảm sẽ thực hiện sự lãnh
đạo của vô sản trên toàn đất nước. Đấu tranh giai cấp
là khí giới lợi hại nhất để đạt tới mục đích này.
Nếu ở thành thị, giai cấp thợ tranh đấu chống giai cấp
chủ, là kẻ sở hữu những phương tiện sản xuất; thì ở
thôn quê, người nông dân vô sản phải tranh đấu chống lại
bọn địa chủ cường hào. Ở nước ta mức sản xuất kỹ
nghệ chưa quan trọng, giới chủ còn èo uột, giới thợ còn
yếu, sự tranh đấu cũng dễ.

Nếu cuộc đấu tranh giai cấp chưa giữ vai trò quyết định,
ít nhất ở thành phố, thì nó cũng phải diễn ra trên hai bình
diện khác nhau. Trước hết, trên bình diện quốc tế, trong sự
đấu tranh chống thực dân giành độc lập cho xứ sở. Và trên
bình diện quốc nội, người nông dân vô sản vùng lên chống
lại bọn địa chủ cường hào. Kẻ bóc lột, dù nhỏ mọn
thế nào, vẫn là kẻ thù của người nông dân lao động. Gia
sản đất đai của nó dù chẳng đáng là bao, dù nó có đối
xử tử tế với những người sắp chết đói đến ngửa tay
xin ăn, và trở thành ân nhân của họ, gợi lên trong họ lòng
biết ơn, ta vẫn phải chỉ đích danh nó ra để cho nông dân
căm thù. Ta phải phát huy căm thù, nuôi dưỡng căm thù, bành
trướng căm thù bằng tất cả mọi phương tiện, thậm chí,
sáng chế những căm thù mới, bịa đặt những tổn thất nếu
cần, để truy bức nó, để đánh qụy nó. Để chống kẻ thù
giai cấp, tất cả mọi phương tiện đều tốt. Có quan hệ gì
cách giết một con rắn độc, bằng hòn đá, bằng gậy gộc,
hay bằng gót giầy!"

Trong khi Thủy thao thao bất tuyệt, cử tọa há hốc mồm nghe,
và kinh hoàng tự hỏi không biết Thủy học ở đâu những
điều này, mà dường như, Thuỷ cũng chẳng nói để trình bầy
ý kiến riêng tư và thành thực của mình, mà chỉ nói cho
những thành phần của Đảng nghe để lấy điểm. Toan tính
rất đúng, bởi vì Ủy viên chính trị của đội cải cách
tức khắc đứng lên khen ngợi" (Trang 27-28).

<h2>Bài học thứ hai về sự bóc lột và căm thù</h2>

Lời khen ngợi Thủy của Năng, Ủy viên chính trị, Đội phó
đội cải cách, là bài học thứ nhì về sự bóc lột và căm
thù, lần này quyết liệt hơn bài học học thứ nhất của ông
Đội Trưỏng đội cải cách. Uỷ viên chính trị nói thẳng
đến những phương pháp phải dùng để đạt kết quả, đặc
biệt đối với cái dân làng không tha thiết gì đến căm thù
này:

"Thưa các đồng chí, tôi thật không ngờ trong Đội ta lại có
một thiếu nữ như cô Thủy, đã trình bầy và bảo vệ một
cách nhiệt tình và mãnh liệt quan điểm của Đảng đến thế.
Tôi nhiệt liệt hoan nghênh Thủy đã tìm thấy đường đi. Nếu
kiên trì cố gắng, cô sẽ tiến bộ rất xa. Về phần tôi, tôi
xin phép được nói thêm vài câu, nhất là được nhấn mạnh ý
nghĩa cuộc đấu tranh giai cấp. Tất cả lý thuyết cộng sản
nằm trong đó. Không có đấu tranh giai cấp thì không có cộng
sản. Đấu tranh giai cấp và cộng sản là một, một khối duy
nhất. Thật vậy, nếu không có đấu tranh giai cấp, thì không
có cộng sản. Sự thể là như thế bởi vì trong xã hội phân
chia giai cấp, sự bóc lột ngự trị và những kẻ bóc lột
muốn bảo tồn vĩnh viễn xã hội giai cấp, kéo dài cuộc
chiến giữa người bị bóc lột và kẻ bóc lột. Người lao
động gánh trên vai gông cùm của sự bóc lột, bắt buộc phải
đấu tranh quyết liệt chống lại những giai cấp áp bức, bắt
chúng phải chết trong bần cùng, đói khát.

Đấu tranh giai cấp là định mệnh của lịch sử, là con
đường duy nhất giải phóng quần chúng lao động, dìu dắt họ
lấy lại phẩm cách của con người. Bình thường ra, những kẻ
bị bóc lột phải cảm thấy sự căm thù không nén được
đối với đao phủ của họ. Tuy nhiên, như các đồng chí cũng
đã nhận thấy ở đây, qua các cuộc nói chuyện với nông dân
nghèo bị chiếm đoạt đất đai tổ tiên để lại, là họ
không nuôi lòng thù nghịch thâm căn cố đế đối với những
kẻ đã dìm họ xuống hàng súc vật! Hẳn các đồng chí đã
hiểu những lý do giải thích thái độ, thoạt nhìn, không thể
hiểu được này: Mỗi nông dân sắp chết đói được chúng
bố thí cho một bát cơm! Để thổi phồng trái tim đói khát,
có gì hơn là lòng biết ơn đối với kẻ đã cứu họ khỏi
cái chết cận kề.

Thưa các đồng chí, đến đây, chúng ta cần phải kết án bọn
thực dân, không những, chúng đã cướp hết tài sản của nhân
dân ta, mà chúng còn dìm sự bần cùng trong vũng bùn ngu dốt và
mù chữ. Làm sao những người thất học và thiếu văn hoá có
thể dùng được phương pháp phân tích phê bình thực tế để
có một phán đoán lành mạnh? Nếu lương tri bẩm sinh của họ
được nhận thêm một sự đào luyện tinh thần tối thiểu,
họ đã có thể có một phán đoán sáng suốt về ý đồ của
lòng "từ thiện" này, mà mục đích duy nhất chỉ là cứu vớt
nhân công, mà thiếu nó, đất đai của chúng sẽ bị bỏ hoang,
không ai cầy cấy!

Vì thế, sự căm thù của vô sản đối với những kẻ chiếm
đoạt đất đai của họ, phải được nẩy nở, phải được
đào luyện vun trồng, để sản xuất ra những thành quả mong
muốn trong cải cách ruộng đất. Tôi để các đồng chí tìm
tòi những phương pháp nẩy nở căm thù, cung cấp thức ăn cho
nó, nuôi dưỡng nó, đưa nó lên đỉnh cao, làm nở rộ động
lực và tiềm năng của nó. Tiếng chủ lệnh là căm thù. Và
để có căm thù, đôi khi phải sáng chế ra những hành động
tán tận lương tâm của địa chủ, để kích thích sự phẫn
uất nơi những kẻ biết ơn chúng. Triết học Tây Phương đã
minh định: Cứu cánh biện minh cho phương tiện. Muốn có cứu
cánh, phải dùng đến phương tiện!

Căm thù và dối trá đi đôi với nhau. Cứu cánh mà chúng ta mơ
ước, vinh quang đến độ chúng ta không thể trì hoãn trong sự
lựa chọn phương tiện. Để tận diệt những kẻ bóc lột,
tất cả mọi hình thức dối trá, dù trắng trợn đến đâu,
đều có thể và phải được áp dụng, ngõ hầu biến bọn
chúng thành ghê tởm, không xứng đáng sống làm người!

Trên mặt đất đã tẩy sạch sự bóc lột và kẻ bóc lột,
những dân tộc có thể xây dựng xã hội chủ nghĩa và hưởng
thụ một thứ hạnh phúc không ai mường tượng được! Thế
giới mà chúng ta để lại cho con cháu, rạng ngời ánh sáng xã
hội chủ nghiã, sẽ trong sạch, không một vết nhơ, như ngày
sáng thế, và con cháu chúng ta sẽ được thụ hưởng hạnh
phúc khiến chúng đời đời nhớ ơn chúng ta!" (Trang 28-29).

Bài học chính trị thứ nhì chấm dứt. Mọi người ra về.
Đêm ấy, Hiên và Lan gặp nhau thì thầm, nỗi sợ bắt đầu.
Lan đã thấy lại ở Thủy hình ảnh những thành viên của
đoàn "Thanh Niên Cộng sản" xuất thân tiểu tư sản, mà nàng
đã gặp ở Hà Nội, luôn luôn năng nổ, không ngần ngại làm
bất cứ công việc đê tiện nào để đẹp lòng thượng cấp,
dưới lốt "chiến sĩ vô sản" vẫn còn nặc mùi tiểu tư sản:
trước đó không lâu, còn chăm lo tô son trát phấn để hy vọng
kiếm tấm chồng giầu, chỉ một thời gian sau đã xoay ngược
180 độ, xin vào đoàn Thanh Niên Cộng Sản, trở thành "chiến
sĩ thi đua", thậm chí còn chọn người bạn đường thuần tuý
gốc vô sản để tiến thân. Hiên điềm tĩnh phân tích tình
hình chung:

"Nếu ngày mai những mẫu người như Thủy và Năng sinh xôi nẩy
nở, dân tộc ta sẽ có những ngày đen tối. Những kẻ khát
máu này đã đẩy sự dã man của chúng tới mức bịa đặt
những dối trá giết người, tra tấn, cực hình những người
lương thiện vì lòng tham, để chiếm của cải của họ, tệ
hơn nữa, vì cuồng tín chính trị, để bảo đảm sự thắng
lợi của ý thức hệ của chúng. Nếu lên cầm quyền, chúng
sẽ tiêu diệt tất cả đối lập để giữ vững chỗ ngồi."
(Trang 30).

<h2>Cuộc điều tra lần thứ nhì</h2>

Sau bài học thứ nhì về căm thù giai cấp, do Ủy viên chính
trị Năng thuyết dậy, các đội viên cải cách bắt buộc phải
tìm đủ mọi cách, để giải thích cho dân làng biết là họ
bị bóc lột, và để kích động lòng căm thù, đội viên phải
dùng cả cách khảo hạch, gần như đe doạ:

- "Bác có biết rằng mình bị bóc lột không? Rằng tất cả
những khổ đau thể xác và tâm hồn của bác là cùng một mối
mà ra, đó là sự bóc lột, mà bác là nạn nhân không?

- Tôi chả biết thế nào là bóc lột. Chỉ biết cái nghèo cứ
đeo hết đời này sang đời khác, quanh đây hai ba cây số, rặt
ngưòi nghèo. Con trai con gái, tới 15 tuổi là bỏ làng đi chỗ
khác kiếm ăn. Tôi chẳng biết bóc lột là gì và cũng chẳng
thấy mình bị bóc lột. Khi ốm đau thì hàng xóm láng giềng
đến xức dầu bóp chân, cho bát cháo thay thuốc. Lá lành đùm
lá rách vậy thôi. (...)

- Bác có đất cày không, đất của bác đâu rồi?

- Tổ tiên để lại vài mẫu ruộng. Những năm đói kém, không
có gì ăn, phải đến gõ cửa địa chủ, xin họ cho cầm, đổi
lấy mấy giạ gạo. Nhờ lòng tốt của họ mới có cái bỏ
bụng cầm hơi, không thì đã chết rục lâu rồi. Năm này qua
năm khác, không đủ tiền trả nợ, đành coi như mất.

- Cái đó người ta gọi là bóc lột đấy. Bác là nạn nhân
của bọn lòng lang dạ sói, lợi dụng cảnh khốn cùng của bác
để chiếm đoạt ruộng đất của bác. Bác phải căm thù đến
tận xương tuỷ những kẻ khốn nạn đã cưỡng đoạt tài
sản của bác.

- Sao cô lại xui tôi phải vong ân bội nghĩa, phải căm thù ân
nhân đã cứu mình thoát chết? Khi chúng tôi sắp chết đói, có
thấy mống cộng sản mà cô ca tụng nào mở tay làm phúc cho
tôi miếng ăn, cứu tôi thoát chết đâu? Bây giờ lại bảo tôi
phải căm thù kẻ đã cứu mình? Cô có biết là cô đang tuyên
truyền cho cách cư xử vô nhân đạo, trời đất chẳng dung
không?" (Trang 32-33-34)

Không thuyết dụ được người nghèo căm thù địa chủ, Lan và
Hiên quyết định tìm đến tận chỗ ở của kẻ "hút máu mủ
đồng bào" để xem chúng sống thế nào:

"Tưởng kẻ được gọi là kẻ thù của nhân dân đang sống xa
hoa trong một lâu đài nào cách đó vài trăm thước. Cặp thanh
niên ngạc nhiên trước bụi tre vây quanh nhà người địa chủ.
Tường gạch và cửa có then gài, nhưng cũng là mái tranh, tuy
dầy dạn thật và không có lỗ thủng nên mưa gió không thốc
được vào nhà. Ba gian thông suốt thành một, chống bằng cột
gỗ thị. Trong góc, một cái giường, trên trải chiếu cũ, ông
chủ ngủ đó. Ở chéo đầu kia, một chiếc giường không
chiếu, dành cho cô con gái. Gian giữa đặt bàn thờ tổ tiên
sơn son nhưng không có bài vị thiếp vàng như những nhà giàu
có. Dấu hiệu duy nhất của sự sung túc là một cái chum tròn
đựng gạo. Bên ngưỡng cửa, có một chậu thau rửa mặt. Gia
cảnh khá hơn người dân quê nghèo, nhưng cũng chỉ là thanh
bạch. Bây giờ họ hiểu tại sao vợ chồng người chủ nhà
họ ở không ghét địa chủ. Nếu dùng ngôn ngữ cộng sản,
thì cả hai ở cùng một giai cấp" (trang 34-35). Các đội viên
khác đi làm ăng-kết cũng đều đưa đến kết luận tương
tự.

Một người kể lại: "Người đàn bà mà tôi lên lớp, hết
sức "quần", buộc chị ta phải tố cáo tên địa chủ đã làm
chị ô nhục, chị ta cực lực phản đối: "Không được đâu,
cậu không thể bắt tôi làm cái việc tồi bại để phải hối
hận suốt đời ấy. Không có, cái người hiền lành mà cậu
lập mưu hành hạ không hề có thói trăng hoa. Ông ta có chạy
theo đàn bà đâu, ông ta không hề có thói ấy, tính tình ông ta
đứng đắn lắm!". (Trang 35)

Lý do vắng bặt căm thù có thể giải thích khá dễ dàng: bọn
"bóc lột" cũng không khá gì hơn những người "bị bóc lột",
họ cùng sống trong cảnh khổ như nhau. Thực tế mà các đội
viên cải cách nhìn thấy khác xa những gì họ đã được học
trong các lớp chỉnh huấn và mới đây, ông Đội trưởng và
ông Đội phó kiêm uỷ viên chính trị, vừa nhắc lại.

<h2>Tổng dượt đấu tố</h2>

Hình thức "điều tra" bằng cách đem các đội viên về sống ba
cùng trong làng, thực ra chỉ có tính cách hình thức, vì các
màn đấu tố, các vai đã được chỉ định và đạo diễn từ
bên trong. Các đội viên cải cách như Lan và Hiên chỉ là
những người ngoại cuộc như những người khác.

"Nghi lễ xử tội được dự định vào tối hôm sau trong ngôi
chùa bỏ hoang đầu làng. Nhưng ngay từ sáng hôm sau, người ta
đã bắt đầu tập dượt. Khi Hiên và Lan đến nơi, phần trang
trí đã xong. Trên sân chùa căng một băng vải đỏ lớn dán
những chữ cắt bằng giấy thiếp vàng công thức nghi lễ:
Đảng Cộng Sản muôn năm. Dưới khẩu hiệu, là cái bàn phủ
khăn trúc bâu xanh dành cho ba vị thẩm phán. Trong sân bày những
hàng ghế dành cho cử tọa. Một xe phóng thanh trên đường mời
dân chúng đến xem xử kẻ thù dân tộc, tên địa chủ hút máu
mủ nông dân!

Ba vị thẩm phán, một nam hai nữ, được chọn trong đám
người nghèo nhất vùng. Quần áo rách rưới được thay bằng
một bộ đồ lành lặn. Họ có vẻ không thoải mái trong vai
trò của mình, mắt xáo xác nhìn quanh, cái nhìn hoảng hốt của
những con thú bị rình bắt. Tất cả đoàn Thanh Niên Cộng Sản
được điều động dàn hàng hai bên sân chùa. Khi mặt trời
vừa ló dạng dưới chân trời, Năng, Đội phó Đội cải cách
hiện ra chỉ đạo việc dàn cảnh; điều chỉnh điệu bộ của
các vị thẩm phán, bắt họ phải ngồi ngay ngắn, đầu ngửng
cao; Năng cất giọng lên lớp:

"Lời khuyên đầu tiên mà tôi dặn các anh chị là phải quên
mình là nông dân nghèo. Các anh chị là đại biểu của nhân
dân và nhân danh nhân dân để phán quyết. Vậy cuộc Cải cách
ruộng đất mà chúng ta đang chấp hành đây, là gì?

Có phải mục đích duy nhất chỉ là lấy lại đất đai mà
những kẻ bóc lột đã chiếm đoạt của các anh chị không?
Nếu chỉ có thế, thì Đảng chỉ cần ra một nghị quyết là
xong ngay. Có phải là để loại trừ tầng lớp địa chủ ra
khỏi xã hội không? Cũng không phải. Bởi Đảng chỉ cần hạ
lệnh bỏ tù hoặc xử tử là đủ! Không, các đồng chí nông
dân, vấn đề phức tạp hơn nhiều!

Vấn đề cơ bản không phải là trả lại ruộng đất cho
những người đã bị cướp; cũng không phải là trừ khử
khỏi xã hội những kẻ bóc lột vô liêm sỉ, mà là tái thiết
lại ở người nông dân, cái nhân phẩm và danh dự của một
con người, như một thành viên trọn vẹn của xã hội, người
nông dân bên cạnh người thợ, bạn đồng hành muôn thủa.
Chúng ta đã làm cách mạng để quét sạch xã hội những rác
rưởi, những sở hữu chủ sống xa hoa, trên mồ hôi và sự
nhọc nhằn của quần chúng cần lao! Vậy làm sao ta có thể
chấp nhận cho bọn ăn bám ấy phát phì bằng máu mủ người
lao động?

Có cần phải nhắc lại cho các đồng chí biết rằng, để
bảo tồn sự thống trị vĩnh viễn của chúng, những kẻ bóc
lột này, còn chó má đến độ, chúng rao giảng cái chủ nghiã
nhục nhã được gọi là tiền định và chúng truyền bá trong
thành phần lao động cái chủ thuyết không thể chấp nhận
được, theo đó, số phận của mỗi người đã được số
mệnh xác định từ thiên cổ.

Số mệnh do trời định và con người bị bắt buộc phải
chấp nhận phận mình. Con người không thể chống lại mệnh
số cũng không thể hướng số mệnh theo ý mình. Cái thuyết
định mệnh này xâm nhập vào trí óc của đồng chí, thấm vào
máu, trở thành da thịt thân thể đồng chí. Niềm tin vào
định mệnh không những hủy diệt tất cả mọi cố gắng cá
nhân để con người thoát khỏi ngõ cụt dẫn vào tuyệt lộ,
mà còn chỉ đạo cả tình cảm lẫn thái độ của người bị
bóc lột trước kẻ bóc lột! Kẻ bóc lột được hưởng sự
phù hộ của trời, vì vậy chúng có quyền nhận tất cả mọi
hình thức tôn kính, mọi hình thức tận tụy, hoặc ít ra là
thương mến, từ phía người bị bóc lột. Cuộc Cải cách
ruộng đất của chúng ta chiến đấu chống lại sự phục tòng
và áp chế này!

Trái tim của người bị bóc lột phải tự đơm đầy thù hận
kẻ bóc lột. Người bị bóc lột được hưởng sự nâng đỡ
và thế lực của Đảng trong công cuộc đấu tranh cho chính
nghiã, để đưa toàn thể giai cấp trở lại địa vị con
người. Đừng ngại thô bạo trong lời nói, trong cử chỉ, trong
những lăng mạ, những bất công, đối với kẻ bóc lột! Ta
càng quyết liệt bao nhiêu, càng sớm thoát khỏi sự hạ mình
mà chúng đã buộc ta vào, và các đồng chí càng xứng đáng là
người vô sản, xứng đáng trở thành giai cấp lãnh đạo của
thế giới mới!

Chiến thắng mà các bạn mang lại đêm nay sẽ mở đường cho
các bạn vào hàng ngũ của Đảng đang hân hoan đón chờ các
bạn!

Năng đã thuyết pháp với tất cả ngọn lửa hùng biện võ
biền và phe phái. Những Thanh Niên Cộng Sản ngồi hàng ghế hai
bên sân, lắng nghe, miệng há hốc trong khi ba vị thẩm phán
hồn xiêu phách lạc; mắt trợn ngược đảo tròn khắp không
gian, như muốn kêu trời đến cứu! Trong hai ngày qua Năng và
Thuỷ đã tìm hết cách giải thích cho họ những điều mà
Đảng muốn họ làm và chờ đợi ở họ. Đã dạy họ phải
gào thét, phải chỉ tay về phía bị cáo đòi đền tội, phải
giơ tay lên trời để tỏ ý phẫn nộ. Bắt họ lập đi lập
lại những câu hỏi đập nát đầu bị cáo. Bảo cho họ biết
phải tuyên bố án quyết như thế nào, và cả "lý do" của cái
án tử hình! Sửa lỗi câu cú, lỗi phát âm sai, có thể làm
cử tọa cười bò. Nghệ thuật dàn cảnh của họ không chê
vào đâu được. Dù muốn dù không, cũng phải công nhận ở
những người cộng sản, thuật hoá trang, trá hình, trang điểm,
diễn kịch, tạo nhân vật, phối hợp các màn diễn của các
nhân vật, đã được huấn luyện với một nghệ thuật hoàn
mỹ." (Trang 36- 37)

Sau buổi tổng dượt, Hiên và Lan đều kinh hoàng. Họ thì thầm
hỏi nhau:

- Chẳng biết Đảng âm mưu gì đây? Đảng chơi cái trò gì
đây?

- Một trò không tinh vi, không tế nhị, phô bầy sự trơ tráo
vô liêm sỉ. Những người chính trị đã cùng nhau thoả thuận
như thế. Họ sáng chế ra một thứ tội ác mới: tội bóc lột
và đổ lên đầu giai cấp mà họ muốn trừ khử, tiêu diệt
tận rễ, giai cấp giàu có. Phương pháp giản tiện và nhanh
chóng nhất là tập trung những sở hữu chủ động sản và
bất động sản lại và nã súng liên thanh vào như một số
nước đã làm trong thế chiến thứ nhì. Nhưng làm như vậy sẽ
phạm tội ác chống nhân loại và sự trả thù của các dân
tộc sẽ kinh hồn đối với bọn đao phủ. Vì vậy họ chọn
dùng khí giới luật pháp để đạt mục đích mà không bị
trừng phạt. Do đó mà có cả: Tội ác, toà án và bản án!
Nhưng sự mạo nhận pháp luật này không đánh lừa được ai
cả: mọi người đều biết tỏng những ý đồ xấu xa của
những kẻ chủ mưu tiêu diệt hàng triệu người vô tội, mở
trong tâm hồn người Việt một vết thương há miệng có thể
không bao giờ lành!" (Trang 39).

Đó là những lời phê bình cuối cùng của Hiên, trước khi
kịch mở màn.

Sau bữa ăn tối, buổi đấu tố diễn ra đúng như đã được
tập diễn:

"Ăn vội vàng cơm tối, rửa bát xong, Năng và Thủy gặp lại
nhau trên đường cùng đến chùa, duyệt lại lần chót buổi
trình diễn sẽ bắt đầu khi trời vừa tối. Khi họ tới nơi,
tất cả đã đâu vào đấy. Ba vị thẩm phán nhân dân do Đảng
chỉ định đã có mặt, hăng hái đợi lên diễn đàn. Theo
nhận xét của Thủy, hai phụ nữ vào vai dễ dàng vì họ chuyên
cãi lộn với bạn hàng và những con mẹ lắm điều ngoài chợ,
họ sành sỏi ngôn ngữ hàng tôm hàng cá và tối ưu trong việc
vận dụng tiếng chửi thề. Họ còn biết đủ trò lườm nguýt
và la làng. Ngược lại người đàn ông có vẻ rụt rè sợ
sệt, bối rối. Những Thanh Niên Cộng Sản được chiêu mộ
trong vùng, khoảng hai chục người, sẵn sàng ném mệnh lệnh cho
khán giả, và hò hét những khẩu hiệu thích ứng, tay nắm
chắc những bó đuốc, mà chốc nữa, sẽ đốt lên soi tỏ sân
khấu. Chưa bao giờ xóm này tổ chức một cuộc liên hoan như
vậy. Tất cả những người hiếu kỳ bị tính cách dị
thường của ngày hội lôi cuốn, đều không hiểu sự khác
biệt giữa một buổi diễn tuồng và một toà án quyết định
số phận một con người! Trong khi chờ đợi, trẻ con chơi
diều và những người đàn bà nhà quê thi nhau nói huyên thiên
chả đâu vào đâu cả. " (Trang 39).

Trong cảnh trí lễ hội như thế, nạn nhân được đưa ra đấu
trường:

"Đêm vừa xuống, bỗng một thứ im lặng nặng nề đổ xuống
kềm chặt mọi người. Bọn Thanh Niên vội vã châm đuốc, các
vị thẩm phán vội vàng an tọa sau chiếc bàn phủ khăn màu.
Ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu tố cáo nét xương xẩu
trên những khuôn mặt cao gò má.

Bị cáo đến, bước nặng nề, vòng còng sắt xích chân đập
vào sân gạch vang âm ghê rợn. Áo quần hoen ố bùn và máu.
Mặt sưng vù điểm những vết bầm tím quanh hai mắt mở hé.
Tội nhân khó nhọc bước đi giữa hai người gác, một cầm
gậy, một cầm gươm phường tuồng tuốt trần. Đoàn tùy tùng
ô nhục hộ tống bị can chân lảo đảo bước chỉ chực ngã.
Hai nữ thẩm phán theo đúng lệnh đứng dậy chửi phủ đầu:

- Thằng khốn nạn kia, mày đóng kịch để những kẻ yếu bóng
vía thương hại mày, nhưng không qua mặt được bà mày đâu!
Ngày trước, khi bà đến xin mày bố thí bát cơm cho con bà sắp
chết đói chết bệnh, mày đứng trên ngôi cao, nhìn bà từ
đầu đến chân, rồi ra lệnh cho con gái thả chó đuổi ăn
mày. Đồ tồi bại, lúc ấy mày đâu ngờ có ngày sẽ bị bà
xử tội, tử hình đấy con ạ!" (Trang 40)

Buổi đấu tố đạt thành quả mỹ mãn.

Nhưng sau đó, ông Tổng Bí Thư nhận được bản phúc trình
của Năng và Tụy, nội dung tố cáo hành động của viên Đội
trưởng đội cải cách, nhấn mạnh đến sự kiện viên Đội
trưởng tuy theo cách mạng từ lâu nhưng trong những buổi học
tập chính trị, lại có những lời lẽ đáng ngờ, chủ yếu
là sau khi giải thích ý nghiã cuộc Cải cách ruộng đất, hắn
còn chêm vào: nếu ta làm cách mạng để lấy lại phẩm giá con
người cho thành phần bị bóc lột thì ta cũng không thể coi
kẻ bóc lột là con vật. Khi trừng trị họ rồi thì cũng phải
cho họ cái quyền làm người.

Nếu hắn chỉ phát biểu trong nội bộ, thì ta cũng có thể làm
ngơ vì không nên để cho bên ngoài biết có sự bất đồng
nội bộ, nhưng ngày hôm qua hắn làm nổ một xì căng đan lớn
giữa công chúng. Mặc dù hai bồi thẩm phụ nữ đã rất xuất
sắc trong vai trò của mình, khiến bị cáo phải vòng tay, cúi
đầu, nhắm mắt, nhục nhã, đi không vững, nhưng chưa ngã.
Nhưng khi chánh án tuyên bố tử hình, vì bị sốc mạnh, cộng
thêm bị đánh và bỏ đói trong nhiều ngày, hắn đưa tay lên
chặn tim rồi ngã lăn đùng ra đất. Bản phúc trình viết:
"Người đầu tiên đến cứu kẻ hấp hối là Đội trưởng
đội cải cách, đã bế xốc hắn lên đưa vào trong chùa". Một
xì căng đan không thể tha thứ được. Tổng Bí Thư chấp hành
ý kiến của Năng và Tụy.

Sau vụ thanh trừng Đội trưởng đội cải cách, bị quy là có
nguồn gốc "quốc gia", không còn một tiếng nói lương tri nào
dám đứng lên chống lại những tàn ác trong Cải cách ruộng
đất nữa. Năng và Thuỷ toàn thắng trong nghĩa vụ. Năng sẽ
được Tổng Bí Thư tin dùng.

<h2>Cải tạo tư sản</h2>

Sau Cải cách ruộng đất, Hiên và Lan trở về Hà Nội và họ
làm lễ cưới. Lương hai người sống chật vật, không đủ
tiền thuê nhà, phải ở nhờ cha mẹ Lan. Ông Cát là công chức
thời thuộc địa về hưu. "Sau một đời tằn tiện, hai ông bà
có được căn nhà nhỏ số 13 phố Hàng Giấy. Hai tầng, mỗi
tầng 28 mét vuông. Tầng dưới cho một tiệm hớt tóc thuê.
Dưới thời Pháp thuộc, lương một người thư ký trong chính
quyền Pháp, cần kiệm sống được ba người. Khi ông Cát về
hưu, số tiền cho thuê tầng dưới cộng với lương hưu đủ ba
người ăn tiêu tằn tiện. Nhưng sau khi chính phủ kháng chiến
về Hà Nội, quỹ lương hưu cũng rời Hà Nội, tất cả những
người về hưu bị cắt nguồn lợi tức chính thức cuối cùng,
giúp họ có bát cơm hàng ngày. Ông bà Cát phải thắt lưng
buộc bụng, nếu không còn món tiền thuê của tiệm hớt tóc
nữa họ sẽ phải ăn xin" (Trang 47-48).

Trong cái "câu lạc bộ đói" và cũng là bạn đồng hành của
ông Cát, có những người tứ cố vô thân:

"Đó là những người không gia đình, vừa chôn vợ xong, không
con, hay con cái đã chết trong chiến tranh. Người ta bố thí cho
họ một góc bếp, đêm lạnh như những mũi kim châm giết
người chọc thủng da thịt. Sáng ra, người ta thấy họ co
quắp trong tấm chăn thủng, chiếc chiếu rách. Thời gian đầu,
những người bạn cùng khốn nhịn ăn bóp chắt chút tiền góp
mua cho họ chiếc quan tài. Rồi sau, những người bạn ăn mày
đó cũng chỉ hai ba ngày mới có miếng cơm vào miệng, không ai
còn khả năng đóng góp gì nữa. Những xác bị chất đống
trên xe ba gác, rồi quẳng vào hố cộng cộng, như thời cả
nước chết đói trước đây! Chỉ vài người như ba, nhờ có
tý nhà cho thuê là còn sống". Người cha già lau những giọt
lệ cay đắng chảy từ khoé mắt " (trang 50). Ông bà Cát còn
chút may mắn, nhưng cũng không yên thân được lâu.

"Một thời gian sau, người cha già nhận được "giấy mời" đi
dự hội nghị Cải tạo tư sản ở Hà Nội. Có những "giấy
mời" không thể chối từ.(...) Người thuyết trình không ai
khác là Năng. (...) Hôm nay với tư cách là Phó chủ tịch Ủy
ban hành chính Hà Nội, Năng, khéo léo ban cho những "kẻ thù
của dân tộc" hai chữ "đồng chí", nhắc lại công lao giải
phóng dân tộc và đưa đất nước lên hàng quốc tế của
Đảng, trước khi vào chính đề:

"... Trên bình diện nguyên tắc, các đồng chí cũng biết rằng
chủ nghiã cộng sản quyết tâm chiến đấu chống tất cả
mọi hình thức bóc lột. Chế độ của chúng ta chỉ cho phép
người lao động sống, và phải sống bằng kết quả việc làm
của mình. Chúng ta chiến đấu kịch liệt chống những ký sinh
trùng xã hội sống không làm việc mà nhờ chiếm đoạt kết
quả lao động của người khác! Nhờ ăn cắp hay bóc lột. Ví
dụ kẻ bóc lột, có một toà nhà: nó có quyền ở cùng với
gia đình. Nhưng một khi nó cho thuê, một phần hay cả nhà để
lấy tiền sống, là nó đã bóc lột, bởi vì nó không sống
bằng việc làm, mà sống bằng lợi tức thu được. Xã hội
cộng sản không có chỗ cho kẻ bóc lột, chỉ có người lao
động mới được vinh dự hưởng mọi quyền lợi trong xã hội
này. Trong trật tự chính trị mới này, không có chỗ cho bọn
ký sinh, cũng không có chỗ cho bọn bóc lột. Chúng ta kịch
liệt chống lại những cái ác và không sờn lòng quyết chí
trừ khử tận rễ. (...)

Tôi xin nhắc lại với các đồng chí rằng Đảng ta, sau khi
lấy lại nền độc lập và tự do, đã trân trọng cam kết sẽ
đem lại thịnh vượng và hạnh phúc cho dân tộc và đã quyết
định phát động cuộc chiến một mất một còn với sự bóc
lột dưới mọi hình thức.

Thế nghiã là gì? Nghiã là tất cả lợi tức trái phép từ
việc cho thuê nhà, thuê đất kiếm lời, đến cán bộ ăn đút
lót bán chữ ký, bán đặc ân, đều bị luật pháp trừng
trị...

Luật chứng nhận hợp pháp tiền cho thuê nhà xuất thân và mang
tính cách tư bản chủ nghiã. Chúng ta bãi bỏ luật này từ hôm
nay. Ở chế độ ta, chính trị đi trước pháp luật và chỉ cho
luật pháp con đường phải đi. Chính trị là lệnh đầu và
lệnh cuối của tất cả. Tôi xin lưu ý các đồng chí rằng,
ngay một nghị quyết được thảo dưới định chế của một
bộ luật cũ và được bộ luật ấy công nhận giá trị, cũng
sẽ bị tước bỏ giá trị của nó nếu chính trị quyết
định khác. Thậm chí, một biện pháp chính trị có thể có
tác dụng hồi tố chống lại quan niệm của luật gia tư bản.
Trong trường hợp mà chúng ta đang xét, sự hồi tố của quyết
định chính trị, bắt buộc những người chủ nhà phải trả
lại những số tiền thuê nhà đã thu được trong quá khứ. Có
thể họ đã mua vàng với những số tiền này: vậy vàng hay
tiền mặt còn lưu trữ trong nhà phải được trả lại cho nhà
nước. Các đồng chí đừng vội hoảng, Đảng ước định
rằng, sau khi các đồng chí đã trả hết số vàng và tiền
mặt còn giữ, các đồng chí cũng chẳng chết đói đâu mà
sợ. Các đồng chí vẫn còn đủ để sống một đời sang
trọng gần như trước. Dĩ nhiên là từ nay, bị tịch thu hết
bất động sản, chỉ được giữ đúng một diện tích để ở
với gia đình. Chỗ còn lại sẽ được cơ quan thành phố quản
lý và tất cả quyền sở hữu đều bị hủy bỏ! (...)

Xin nhắc lại rằng trong tất cả xã hội loài người, hai yếu
tố cấu thành chung thân xung đột nhau là cá nhân và tập thể.
(...)

Chiến thắng mà cha ông ta hằng mơ ước sở dĩ chúng ta đạt
được là bởi vì chúng ta nghe theo tiếng gọi của Đảng,
chấp nhận hy sinh xương máu. Đảng độc quyền lãnh đạo và
quyết định rằng chính trị là trên hết, trên các luật lệ,
trên cả luật pháp và đạo đức nhất là nếu chúng tán
dương cá nhân chủ nghiã và cá nhân con người.

Khả năng cá nhân bị giới hạn trong thời gian và không gian,
bị giảm hiệu năng vì luôn luôn bị lôi kéo trong đam mê và
tội lỗi, làm sao có thể ganh đua với sức mạnh vô song, khôn
lường của một tập thể đã được sự chỉ đạo của một
quyền lực sáng suốt và có ý thức? Nhất là khi cá nhân chủ
nghiã cho phép một hoạt động đi ngược lại con đường chính
trị của tập thể, ví dụ, nó chấp nhận quyền bóc lột,
trong việc nhận tiền thuê nhà! Chính vì tình trạng này mà
Đảng ban bố sắc lệnh Cải tạo tư sản để triệt hạ
quyền bóc lột mà chủ nhà được hưởng.

Thưa các đồng chí, vấn đề trước mặt các đồng chí thật
rõ ràng: Chịu ở mãi địa vị bóc lột, ngửa tay nhận tiền
puốc-boa trái phép, nhục nhã, thêm sự căm thù của người
thuê? Hay ngược lại, quyết định lấy lại phẩm cách con
người, người lao động trong một nước tự do, độc lập,
theo Đảng, tuân lệnh Đảng, cùng góp phần với Đảng trong
công cuộc đấu tranh giai cấp? Đảng mở trước mặt các
đồng chí con đường vinh quang và hạnh phúc trong sự xây dựng
xã hội chủ nghiã, bằng cách tiêu diệt hoàn toàn sự bóc lột
trong xã hội ta. Nay, Đảng dạy rằng sự bóc lột chỉ biến
mất nếu ta thi hành chính sách tập trung tất cả của cải,
bất luận thứ gì, thậm chí, tập trung cả mọi phương tiện
và trung tâm sản xuất kỹ nghệ cũng như thương mại. Chắc
chắn các đồng chí sẽ mất sự hưởng thụ cá nhân quyền
sở hữu nhà cửa. Tôi đồng ý đối với một số đông, sẽ
là khó khăn đấy. Nhưng các đồng chí và thế hệ con cháu sẽ
thắng lợi trong sự lấy lại phẩm chất của một công dân
bình đẳng, trong một Quốc gia tự do và độc lập! Tôi bảo
đảm: không bao giờ các đồng chí sẽ phải hối tiếc đã theo
Đảng, đã tuân thủ những mệnh lệnh của Đảng!"

Diễn giả ngừng. Đảo mắt khắp phòng. Có thể, vì thói quen,
trong những cuộc họp khác, y đợi những tràng pháo tay của
một cử toạ đã được huấn luyện trước? Nhưng lần này,
một sự im lặng chết chóc chào đón lời y. Trong mắt một số
sở hữu chủ lớn, ngời lên một tia sáng: Phải chăng đó là
sự tức giận, sự căm thù, hay là diễn tả cơn cuồng nộ báo
oán, hay một quyết định yếm thế giữ khoảng cách với cộng
sản và nếu cần thì bỏ xứ ra đi? Mọi ức đoán đều khả
thể.

Ngược lại, phản ứng của những người chủ nhỏ giống nhau,
không thể lầm lẫn được bởi trên mặt họ hiện nên sự
nặng nề đau khổ, tất cả đều rưng rưng nước mắt. Họ
đã bị mất phần lương hưu, sống nhờ món tiền nhỏ mọn cho
thuê lại một vài mét vuông phần nhà đang ở. Bây giờ, tất
cả mọi diện tích cho thuê, lớn nhỏ, đều bị giật khỏi
chủ nhà, để cho nhà nước quản lý, và tất cả người thuê
phải được một cơ quan hành chính chấp nhận, cơ quan này thu
tiền nhà và trả vào quỹ nhà nước, những chủ nhà nhỏ,
độc thân, không có gia đình, không được hưởng bất cứ
trợ cấp hay sự giúp đỡ nào, thấy trước mắt hình ảnh
khủng khiếp của nạn đói một khi đã tiêu hết tiền tháng
trước. Cơn ác mộng chết chóc mỗi đêm ám ảnh cướp giấc
ngủ. Có người còn đủ sức, lê gót đến bờ sông gieo mình
xuống nước rút ngắn nợ đời. Có người, co quắp, mặt
không còn thịt, hai gò má hõm sâu hoắm, rơi xuống vỉa hè
ngủ giấc cuối cùng. Có người giữ phép lịch sự và chững
chạc tới phút chót, mặc bộ quần áo cũ lành lặn nhất nằm
dài trên sân căn nhà nát, một phần đã cho thuê, nhường chỗ
của mình cho một kẻ trú đêm. Sáng ra người ta khám phá
những xác chết không gia đình ấy quận tròn trong manh chiếu
rách thay quan tài và được vất trong hố công cộng. Sự bóc
lột của thực dân chấm dứt không kèn không trống như thế!
(Trang 55- 56- 58).

"Bỗng nhiên trên báo chí hàng ngày, con số tai nạn lưu thông
vọt lên cao như tên bắn và kỳ lạ là tất cả những nạn
nhân bị xe hơi cán thường là những người già gầy trơ
xương. Chưa bao giờ người ta vớt được trên sông Hồng
nhiều xác ốm o đầu bạc như thế. Ấy là chưa kể đến
những người sáu chục, bẩy chục tuổi, không chịu được
cái sốc bị mất phần lợi tức nhỏ nhoi giúp họ có cái lấp
đầy bụng đói đang reo: đầu óc rối loạn, áo quần rách
rưới, họ bỏ chiếc ghế bố đi rong khắp phố phường vừa
đi vừa nói lảm nhảm, không ai hiểu, trước khi ngã lăn đùng
bên một bờ dốc". (Trang 73)

Sau khi thuật cho con nghe tình hình chung của các bạn mình,
người cha già kết luận:

"Cuộc cải tại tư sản do Đảng ban hành để chấm dứt sự
bóc lột dưới tất cả mọi hình thức để xây dựng xã hội
chủ nghiã, đã chiếm đoạt quyền sống của cha mẹ. Chưa bao
giờ ở nước ta và trong cả lịch sử loài người, một chính
quyền khẳng định sự áp chế vô nhân đạo đến độ không
đoái hoài đến nỗi đau khổ cá nhân và gia đình như thế;
chưa bao giờ, kể cả trong lúc thác loạn điên khùng nhất,
một bạo chúa dám động đến quyền sở hữu cá nhân và đập
vỡ viên gạch nền móng của xã hội loài người. Con người
chỉ làm việc để bảo đảm quyền sống. Trong số những
giấc mơ thúc đẩy họ sốt sắng theo đuổi những cố gắng
là có mái ấm gia đình. Khác với một số loài vật dã man tụ
tập thành lũ, thành bầy, con người luôn luôn cảm thấy cần
phải cá nhân hoá sự hiện hữu của mình. Nếu hắn làm việc,
là để có một đời sống cá nhân theo sở thích của hắn,
để sống những ngày bình yên trong lòng một gia đình với
ngưòi vợ hắn đã chọn và những đứa con sinh ra từ máu mủ
của mình. Hắn chỉ mong ước có một mái nhà cho những người
thân yêu trú ngụ, với họ, hắn sẽ học hỏi, xây đắp, làm
nẩy nở nhân cách, để cho cuộc đời hắn đạt cái ý nghiã
cao nhất và đầy đủ nhất. Đối với hắn, quyền sở hữu
cá nhân đối với gia đình và mái nhà, cũng cần thiết như
khí trời để thở, như bát cơm để ăn. Chính vì thế mà con
người khác loài vật, chính vì thế mà văn minh tiến bộ. Ngay
từ lúc nhà cầm quyền khởi sự đấu tranh chống sở hữu cá
nhân nhà cửa, hướng đòn đánh vào cá nhân, nhân danh tập
thể, họ phải biết rằng họ đã phá vỡ cơ sở căn bản
của xã hội, đã đánh sập nền móng Nhà Nước, do đó phá
vỡ bệ trụ trì quyền uy của họ". (Trang 59).

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/9982), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét