Hạ Long Bụt sĩ - Gương canh tân của Vua Phật Mongkut vẫn còn trên xứ Thái

Thế kỷ XIII Việt Nam có vua Phật Trần Nhân Tôn (1279-1293) thì
Thái Lan cũng có một vị vua, đáng gọi là vua Phật ở thế
kỷ XIX, đồng thời với vua Tự Đức (1843-1883) bên ta: đấy
là vua Mongkut (1851-1868) mà thế giới biết đến qua phim ảnh,
<em>The King and I</em>, Nhà Vua và Tôi, thời 1960. Không phải ngẫu
nhiên tài tử trọc đầu Yul Brynner được chọn thủ vai vua
Mongkut và Deborah Kerr thủ vai cô giáo dậy tiếng Anh Mrs. Anna
Leonowens: phim bản dựa phần nào trên sử liệu, nhà vua Mongkut
trước khi lên ngôi đã xuống tóc xuất gia 27 năm, sống trong
chùa và từng giữ chức Sư trưởng một tu viện, còn Anna là
cô giáo dậy Anh ngữ từ Singapore sang, 1866-68, với hợp đồng 3
năm, nhưng mới 2 năm thì vua Mongkut mất, phim bản thêm chuyện
cô giáo Anna khiêu vũ với nhà vua và đứng cạnh giường vua khi
vua thăng hà. Cô giáo Anna thật ra không phải là người dậy vua
tiếng Anh, vua Mongkut học Anh văn với các giáo sĩ Hoa kỳ, từ
khi còn ở chùa, học 3 năm với Dr. Caswell và sau đó với Dr.
Bradley và Dr.House. Khi lên ngôi, nhà vua nhờ Dr. Bradley tổ chức
lớp dậy Anh ngữ cho 9 phi tần trẻ tuổi trong cung. Dr. Bradley
cử ba bà giáo thay phiên vào dậy, từ tháng 8 năm 1851, sau 3 năm
lớp học bị ngưng vì các bà giáo bắt đầu mang Thánh Kinh Cơ
Đốc ra dậy và lại còn chỉ trích nhà vua đa thê! Vua Mongkut
chỉ có 39 cung phi, không phải 600 như Sir J. Browning viết! Vua
rất rộng lượng, cho phép các cung phi rời cung nếu không sinh
hoàng tử, và được tái giá. Nhà vua muốn các cung phi và công
chúa, hoàng tử, được giáo dục theo kiểu Tây phương nên mới
nhờ quan lãnh sự ở Tân Gia Ba tìm được bà giáo Anna sang
Thái, với điều kiện dậy Anh ngữ chứ không dậy giáo lý!

<h2>VUA MONGKUT và TRUYỀN THỐNG GIÁO DỤC NHÀ CHÙA</h2>

Cho đến thời vua Mongkut Thái Lan không có chế độ giáo dục
thi cử Tống Nho như Tầu, Việt. Thái vẫn như thời Lý bên ta,
việc giáo dục dành cho nhà Chùa, giao cho các sư sãi. Từ nhỏ,
hoàng tử Mongkut đã được gửi tới chùa để học đọc và
viết chữ, đồng thời học cách cưỡi voi (elephantry), năm 13
tuổi xuống tóc (lễ cắt cuộn tóc dài quấn cao đỉnh đầu)
và trở thành chú tiểu trong 8 tháng theo truyền thống. Hết 8
tháng tu tập mới được trở về cung và được vua cha trao cho
chức vụ tượng trưng trong triều. Năm 21 tuổi, 1824, Mongkut
chính thức trở thành sa môn và cũng vào năm này vua cha, Rama II,
mất. Hoàng tử Tap, con một thứ phi, lên nối ngôi, Rama III. Tuy
không phải là con Hoàng hậu như Mongkut, nhưng hoàng tử Tap đã
được vua cha yêu quý, có kinh nghiệm ngoại giao (ký hiệp ước
1821 với Crawford) và cai trị nên được hoàng gia ủng hộ lên
ngôi. Sư Mongkut, hoàng thế tử, không tranh dành với em, sư
chọn ở trong chùa suốt 27 năm.

<h2>CÔNG CUỘC HIỆN ĐẠI HÓA PHẬT GIÁO CỦA SƯ MONGKUT</h2>

Cư trú tại chùa Mahatat sư Mongkut nhận thấy giới tăng sĩ
không giữ đúng giới luật và đi sai với kinh kệ mà đức
Phật trao truyền. Mongkut ra công học chữ Pali để khán kinh
trực tiếp không qua bản dịch, trình độ Pali của Mongkut
được xác định qua kỳ giám định "thi đình", cấp Thái
học sinh, đệ cửu đẳng, cao cấp nhất của Phật học thời
đó. Mongkut từng thề nguyện: nếu trong 7 ngày mà không gặp
được chân sư thì sẽ vĩnh viễn hoàn tục rời chùa. Chư
Phật đã đáp lại lời nguyện đó: Mongkut gặp được một
vị sư người thiểu số Mon xứ Miến Điện hiện đang trú
ngụ ở Thái. Sư mặc áo vàng, liễu kinh đúng như Mongkut đã
đọc, Mongkut khâm phục xin nhà sư người Mon làm lại lễ thọ
giới cho mình. Mongkut bắt đầu thanh lọc đạo Phật xứ Thái:
sư cho vứt bỏ một lúc 500 cuốn kinh sách, viết sai, dịch sai,
và cho dịch kinh sách lại từ cổ ngữ Pali.

Trong thời gian làm Sư trưởng Viện, Mongkut giao thiệp với các
giáo sĩ Thiên Chúa giáo, học Anh ngữ với các giáo sĩ Mỹ,
lại học cả Pháp ngữ với Giám mục Pallegois, giám mục dậy
Latin cho Mongkut và đổi lại ngài dậy Pali cho giám mục. Mongkut
không ngần ngại học hỏi và áp dụng phương pháp hoằng đạo
của Thiên chúa giáo cho Phật giáo và thiết lập pháp môn mới
cho Thái, Dharmayukta, cùng với pháp môn cũ, Mahanikaya, phát triển
trên xứ Thái, và ảnh hưởng sang Cao Miên, Lào, cho tới ngày
nay.
Mongkut dùng chữ Pali viết kệ tụng, và tu chỉnh nghi lễ, …Sau
này, khi lên ngôi vua, 1851, Mongkut phạt nặng các tu sĩ phạm
giới rượu chè thuốc phiện, dâm dục, ăn quá ngọ: họ phải
hoàn tục, hay đi cắt cỏ cho voi ăn..

<h2>MỘT CHÍNH SÁCH CAI TRỊ PHÁ CHẤP</h2>

Vua Rama III mất năm 1851, hoàng tử lại nghiện thuốc phiện nên
không được truyền ngôi. Hoàng gia họp lại và đi mời sư
Mongkut, hoàng thế tử đích vị, anh của Rama III về làm vua,
tức Rama IV. Năm ấy Mongkut đã 47 tuổi, đầy kinh nghiệm đời
và đầy đức đạo. Ngay lễ đăng quang ngài đã phá chấp:
mời người ngoại quốc dự lễ và không phải quỳ mọp như
thần dân Thái, treo chuông cửa cung cho dân tới đánh chuông
khiếu nại… cấm hoàng gia và quan chức bắt nô tỳ, cấm ép
gái đẹp làng xóm về phủ đệ làm đoàn ca múa riêng…

Mongkut đặc biệt cởi mở với các giáo sĩ Cơ Đốc: ngài
từng nói với một giáo sĩ Mỹ: <em>ông có thể cải đạo toàn
dân Thái nhưng còn một người ông không cải được là
tôi!</em> Có lần một tăng sĩ cải sang Cơ Đốc Giáo, vua Rama
III đòi trừng phạt, ngài Mongkut đã ngăn lại và chủ trương
mọi người được tự do lựa chọn tín ngưỡng. Vua Mongkut còn
cho phép các giáo sĩ cất nhà thờ, khuyến khích và bảo vệ
họ khi đi truyền đạo, tặng tiền bạc và khi mất, như giám
mục Pallegois, còn được tẩm liệm theo nghi lễ hoàng gia với
thuyền bát nhã và súng chào.

<h2>THÂN ANH QUỐC</h2>

Vua Mongkut đặc biệt thân thiện với Anh quốc; ngài dùng một
Đại úy Anh luyện quân sĩ và các sĩ quan Anh chỉ huy thuyền
chiến Thái, người Anh luyện cảnh sát còn người Pháp chỉ
được dùng vào việc luyện lính gác! Ngài cho người Anh vào
kỹ nghệ làm đường mía, khai mỏ... xưa nay vẫn trong tay
người Tầu.

Năm 1853 vua cho nhập cảng máy in tiền giấy, lập đường dây
điện tín với Miến Điện và Penang, đặt đường xe lửa...

<h2>VUA MONGKUT và VIỆT MIÊN LÀO</h2>

Năm 1864, thế tử Norodom chạy sang Thái cầu cứu vì bị em
đoạt ngôi. Thái cho quân đưa Norodom về và cai trị Cao Miên.
Sau, trước áp lực của giám mục Pháp tên Miche dụ Cao Miên
về với Pháp và Đại úy Doudart de Lagrée mang quân Pháp sang,
Thái phải rút quân vào năm 1864 nhường Cao Miên cho Pháp đô
hộ. Trong bức thư sứ thần Thái dâng lên nữ hoàng Anh, vào
năm 1857 có câu xác định đất đai vương quốc Thái ...King
Mongkut the Supreme or Major King of Siamese Kingdom and its adjacent
tributary countries: Laos, Cambodia, and several provinces of Malay Peninsula
etc,etc… Các thư ngoại giao của Mongkut thường rất dài và hay
dùng chữ etc, etc... như phim The King and I đã mô tả. Qua các lá
thư này có thể hình dung sự tranh chấp ngấm ngầm giữa thực
dân Anh và Pháp ở Đông Á cùng ảnh hưởng của các nhà
truyền giáo. Thái khéo léo kết bạn với nhiều nước Âu Mỹ,
nghiêng về Anh vì Anh mạnh nhất, nghiêm chỉnh nhất, và không
có dã tâm đánh bật gốc văn hóa tín ngưỡng địa phương. Anh
chỉ chú trọng tới thương mại, dù ở Trung Đông, Ấn, Miến
Điện, Mã Lai hay Thái.

Trong 17 năm trị vì, vua Mongkut ban rất nhiều chiếu chỉ và
châu phê ngự bút, châu bản số 144 có đoạn liên quan tới
Việt Nam như sau "năm nay có thể hạn hán 60 ngày, chưa biết
hạn hạn nặng hay nhẹ, chưa cần ngăn cấm xuất cảng gạo,
cứ tiếp tục cho dân buôn bán. Chớ nghe lời bầy đặt của
một số sư, tiểu, và những người thiếu hiểu biết, phao tin
là người Anh thu mua gạo đổ xuống biển, đấy là tin thất
thiệt vô lý... chớ phao tin đồn nhảm là người Anh lấy gạo
Thái mang cho Việt Nam (yuan). Người Việt là cha của người Anh
từ bao giờ mà dám nói như thế!"

<h2>BÀI HỌC CANH TÂN CỦA VUA PHẬT MONGKUT</h2>

Vua Mongkut mất năm 1868. Tuy không được sang thăm Anh quốc,
nhưng mối giao hảo giữa hai nước đã đặt đầu cầu cho công
cuộc canh tân Thái: con vua Mongkut, Rama V đã sang thăm nữ hoàng
Anh năm 1893 và tới năm 1926 thì Thái đã có trên 2000 sinh viên
du học Anh quốc! Sứ thần Parkes gọi vua Mongkut là vị lãnh tụ
tân tiến nhất của Á Đông, vượt xa thời đại, Bowring thì
thì tán tụng Mongkut là ông vua vĩ đại nhất Đông phương và
là một trong những học giả uyên thâm nhất về Phật giáo.

Công cuộc canh tân đất nước của vua Mongkut đi trước Minh
Trị Thiên Hoàng Nhật Bản (1867-1912) cả một thế hệ, hạt
giống thiện mà vua đã gieo trồng nẩy nở viên mãn trên xứ
Thái: Thái cả 150 năm nay tránh được họa Thực dân, họa
Cộng sản và họa mất gốc. Nếu kể từ sau cuộc chiến xâm
lăng của Miến Điện vào Thái năm 1767, thì suốt 244 năm nay
Thái được hưởng thái bình thịnh trị và triều đại Chakri
tới nay đã truyền được 9 đời vua, vua Rama IX hiện tại trị
vì hơn 60 năm, một minh quân đã và đang được toàn dân và
thế giới mến phục. Một số bài học canh tân có thể rút
tỉa từ vua Mongkut:

1- Việc canh tân đất nước cần khởi đầu bằng việc xây
dựng căn bản tinh thần dân tộc, tinh thần ấy sẵn có trong
Phật giáo, chỉ cần hiện đại hóa và tẩy rửa một viên
ngọc quý, không cần vay mượn ý thức hệ hay đạo giáo nào
khác. Giáo dục nhà Chùa trang bị cả văn lẫn vũ cho hành giả,
riêng số lượng kinh sách đã là đại bách khoa, dạy từ đạo
đức đến vũ trụ thiên văn, rốt ráo và rộng lớn hơn Tứ
Thư Ngũ Kinh nhiều. Cho nên không lấy làm lạ, thời Lý Trần
các hiền nhân như Thường Kiệt, Tô Hiến Thành, Hưng Đạo,
Quang Khải, Ngũ Lão... không có bằng cấp khoa bảng, nhưng
giống lớp samurai Nhật Bản, văn vũ song toàn.

Phật giáo nguyên thủy (tiểu thừa) hữu hiệu trong việc chấn
hưng đạo đức là vì: tự giác ưu tiên, chưa tu thân mà đã
vội hý luận kinh kệ, chưa tự giác giữ giới mà đã đi bố
thí pháp như Bồ Tát thì dễ rơi vào vòng luẩn quẩn kiến
chấp triết lý ngôn từ. Hình ảnh một tu sĩ chân đất khất
thực là tấm gương nhẫn nhục khổ hạnh sống động, tự nó
tỏa ra ánh sáng chinh phục giác tha quần chúng hang cùng ngõ
hẻm, vì thế từ Tích Lan, Miến Điện tới Thái, Lào... Phật
giáo nguyên thủy đã giữ được thế sâu rễ bền gốc trước
các tôn giáo ý hệ Tây phương.

2- Vua Mongkut đã để lại cho Thái một truyền thống tăng sĩ
tài đức, những bậc đại sư cao tăng lần lượt tiếp nối
xuất hiện. Sau khi lựa chọn đúng đường thì phần cốt yếu
là huấn luyện thanh lọc nhân sự : sư sãi giữ giới làm
gương cho tín đồ, thực tập hỷ xả phá chấp tạo hòa khí
với mọi người. Thái không giết người theo đạo Cơ Đốc
như ở các nước Phật giáo bị bôi bác bởi Tống Nho Việt,
Tầu, Hàn, Nhật, tinh thần phá chấp cao thượng dung hóa khế
cơ của nhà Phật đủ sức chinh phục các tôn giáo khác, đủ
sức giữ vững nền tảng quần chúng, mà không cần tới chính
quyền yểm trợ qua bạo lực. Cũng những giáo sĩ Cơ Đốc
Pháp, Bồ đào Nha... mà tới Thái thì họ cảm phục, mà tới
Tầu, Việt, Hàn, Nhật thì xẩy chuyện lấn áp xung khắc, đấy
chính là vì ở Thái họ gặp chính pháp chân tu, mà ở nơi khác
thì họ gặp mạt pháp hủ Nho phong kiến.

3- Việt Nam khó được như Thái: các nước nghiêng về văn hóa
Ấn Độ và Anh dường như tránh được điên đảo tưởng
loại hiện sinh, Mác xít, còn các nước theo văn hóa Tầu, Pháp
dễ rơi vào nhị biên hý luận ngã mạn, từ đó tới độc tài
phong kiến cực đoan. Là vì văn hóa Anh thực tiễn, trí thức
Anh trọng danh dự và quân tử, họ gặp Gandhi thì trả lại
độc lập, gặp Mongkut thì giao hảo thân tình, còn Pháp, Tầu
thì ưa biện chứng hý luận đỉnh cao trí tuệ vì thế nên mớ
kiến chấp Judeo Mác xít mới có môi trường phát triển, và
các lãnh tụ chính trị điên rồ loại Pol Pot cùng nhóm trí
thức Tây học, mới mất quân bình tâm trí, điên đảo sát sinh
gây họa cho Đông dương!

4- Trí thức Việt Nam, từ thời Tự Đức, cũng cố gắng đi
tìm lối thoát cho dân tộc: sang Nhật, sang Nga, sang Pháp, Tây du
Đông du, khuynh tả khuynh hữu, cần vương, xã hội... mà vẫn
luẩn quẩn trong rọ điên đảo tưởng cho tới hiện tại.
Thậm chí đến tinh thần phá chấp từ bi của nhà Phật cũng
nhiều khi bị biến thể thành triết lý xuông với số học
giả tầm chương trích cú kinh kệ nhiều hơn số tu tập thực
chứng, bàn về Thiền thì nhiều mà thực sự tu Thiền thì ít,
thuyết là vô tâm đối cảnh, vượt biên kiến, lắng nghe nỗi
khổ tha nhân mà thực tế có khi lại lộng ngôn bênh phe này,
hạ phe kia, nghiêng về tả, khuynh về hữu, chân giả thiện ác
đạo đế tục đế bất phân minh, chẳng khác gì phàm phu vọng
tưởng vô minh.

5- Người Thái, gốc Bách Việt từ Nam Chiếu xuống, có thể là
Âu Việt hay Điền Việt là anh em của Lạc Việt, là láng
giềng thân thiết của ta. Bắt chước lối sống hòa hợp cởi
mở khiêm nhường của láng giềng cũng là điều hay trước khi
đi tìm ở đâu xa. Một thể chế quân chủ lập hiến là
đường lối dân chủ thích hợp cho Đông phương, nhưng muốn
có một vua Phật như Mongkut, như Lý Công Uẩn, như Trần Nhân
Tôn không phải dễ, dân tộc phải có phước lành, trồng cây
đức, mới có thiện duyên chuyển hoá vào thời:
Bảo sơn thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành

<h2>KẾT LUẬN CẬP NHẬT</h2>

Trong 6 năm vừa qua, chính trị xứ Thái căng thẳng qua cuộc
tranh chấp giữa phe thủ cựu áo vàng (Democrats) và phe cấp
tiến bình dân áo đỏ (Pheu Thai), vài vụ đổ máu xẩy ra,
nhưng tinh thần tiến bộ thấm nhuần dân chủ, dân tộc hoà
hợp vẫn thấy rõ và hơn hẳn các nước độc tài Viễn Đông.
Nhà vua vẫn được các phe phái và quần chúng tôn kính, Phật
giáo cao tăng vẫn là giềng mối tinh thần đất nước, biến
động mà không chao đảo, bầu cử công minh, đối lập có
tiếng nói và cơ hội, không có tầng lớp thảo khấu ác ôn
côn đồ, không có tầng lớp trí thức điên đảo tưởng nóng
tính sân hận muốn đạp đổ tất cả. Một đất nước như
vậy, Tầu, Việt, Bắc Hàn không dễ gì theo kịp và tinh thần
từ bi hỷ xả đổi mới của vua Mongkut trao truyền vẫn chưa
phai tàn trên đất Thái thanh bình.

Viết 4-2005
Cập nhật 7-2011

<h2>Tham Khảo</h2>

- King Mongkut and The British-by M.L. Manich Jumsai-Chalermnit-Bangkok. 1991

- In His Own Words by Vasana Chinvarakorn-Bangkok Post 12-18-2004-
Excerpts from Collected Proclamations.

- Thai Air Magazine 12-04- Google Search.

- Sử liệu Thái liên quan tới Việt Nam còn khá nhiều: thế kỷ
XVII có nhóm người Cơ Đốc giáo VN chạy sang Thái tỵ nạn; vua
Rama V con Mongkut đi thăm Java (Nam Dương) cũng là nơi mà phái
đoàn VN với Cao Bá Quát từng thăm viếng buôn bán; vua Rama VI
cũng đi thăm Nam Dương và mang về Thái một số thợ thêu lụa
người Việt, chính nhóm thợ Việt này đã dậy cung nữ của
Hoàng hậu Thái thêu thùa và chỉ cách thêu trên lụa láng (flat
silk embroidery). Với số trống đồng khá nhiều ở Thái, nhất
là bắc Thái, nền văn hóa Lan Na hẳn có nhiều liên hệ với
Nam Trung Hoa, và theo các nhà khảo cứu Tầu, Âu Mỹ và Thái
hiện tại thì người Nam Chiếu khi bị nhà Nguyên đánh đã
chạy sang Thái năm 1253 và từ vùng Chieng Mai đã lập thành
nước Xiêm La ngày nay.

Thái đã phải nhượng đất đai cho thực dân Pháp như vùng
Luangprabang, Vientian của Lào, nhường mấy tỉnh phía Nam sát Mã
Lai ngày nay cho Anh, để mưu cầu hòa bình. Đệ nhị thế chiến
Thái mềm dẻo với quân chiếm đóng Nhật, sau 1975 Thái cũng
đạt được yêu cầu 23,000 quân Mỹ trú đóng rút đi. So với
VN thì chính sách ngoại giao Thái lấy dĩ hòa vi quý làm chuẩn,
tránh đổ máu vô ích cho dân, nói theo nhà Phật thì họ ở
quốc độ gần Thanh văn Duyên giác, còn ta ở quốc độ nóng
nảy sát khí sân si A tu la, hay có thể thấp hơn nữa.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/9262), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét