Cách diễn đạt "Xã hội học của sự cô đơn" mang tính mâu
thuẫn logic, bởi vì ở đâu có cộng đồng, không thể nói
đến cô đơn, và nơi có sự cô đơn, không thể nói về cộng
đồng. Nhưng trong thực tế, con người phải trải qua trạng
thái mâu thuẫn này.
Byron từng cho rằng, giữa thiên nhiên, trong rừng cây, trên cánh
đồng cỏ, bên cạnh hồ, ông không bao giờ cảm thấy cô đơn,
chỉ trong thành phố, giữa những con người. Ý tưởng này dẫn
đến một điều, như một thực thể sống, chỉ con người
nhận biết sự cô đơn, và chỉ giữa cộng đồng mà thôi.
Không cần giải thích, con người của các đô thị lớn tự
nhận ra trạng thái rối ren và ê chề này, trạng thái bị
đánh mất: nó biết nó đang sống trong mâu thuẫn, bởi cảm
giác cộng đồng mâu thuẫn với sự cô đơn, và sự cô đơn
mâu thuẫn với cảm giác cộng đồng. Con người mâu thuẫn
với chính bản thân nó. Và dấu hiệu của trạng thái bị
đánh mất: con người nằm giữa hai cái, không ở trong cái nào,
chống lại cả hai và đứng ngoài cả hai.
Xã hội, sự lẩn tránh xã hội, sự chống lại xã hội; tình
trạng xã hội xảy ra bên ngoài xã hội. Con người còn lại
một mình ở nơi các mối quan hệ người mở ra các khả năng
vô tận; sự tiếp xúc bị đứt đoạn ở nơi mọi thứ đều
nhằm để xây dựng sự tiếp xúc. Đấy là trạng thái rơi ra
khỏi cộng đồng: SỰ CÔ ĐƠN.
<img src="http://danluan.org/files/u23/danluan55.jpg" />
<center>Sự cô đơn
<em>Nguồn: ảnh sưu tầm trên mạng</em></center>
Cô đơn không phải là kinh nghiệm tâm lý một mình, bởi vì
không có kinh nghiệm tâm lý một mình. Một cái gì đấy cần
thức tỉnh, để thức tỉnh và mang đến hậu quả; đến từ
đâu đấy và chỉ ra một hướng nào đấy. Các kinh nghiệm
chỉ có thể hiểu và nhìn rõ từ những tương quan cuộc sống
hiện thực. Bởi vậy giải thích bằng tâm lý luôn luôn khiếm
khuyết. Nhất là khi sự cô đơn xuất hiện ngày càng ở trình
độ cao hơn, bởi cô đơn không là một trạng thái chủ quan
nữa, mà là một hoàn cảnh khách quan. Bằng việc giải thể
kinh nghiệm, loại bỏ những mâu thuẫn bên trong, hay bằng sự
can thiệp của tâm hồn vẫn không ai giải quyết nổi sự cô
đơn của mình, thậm chí không ai hiểu nổi hoàn cảnh riêng
của chính mình.
Chỉ khi con người đối chiếu hành vi liên quan của nó với
những người thân, với bạn bè, gia đình, người quen, với
cộng đồng gần và xa của nó, chỉ khi ấy nó nhìn rõ hoàn
cảnh của nó. Thậm chí còn cần nhiều thứ khác: cần biết
về thế giới quan của con người, thấy cái nhân tố là nó
đang sống trong cộng đồng, trong một hệ thống xã hội có
điều chỉnh, với các nhu cầu sống, nhu cầu tinh thần, với
các bản năng tôn giáo, trí tuệ, xã hội, nhu cầu, với số
phận riêng của nó, với những cá tính, những dị biệt di
truyền, với những khả năng nhất định; Khi các nhân tố của
một đời sống cụ thể cùng lúc bộc lộ, chỉ lúc đó con
người đủ khả năng hiểu cái gì là ý nghĩa và tầm quan
trọng hoàn cảnh sống của nó.
Giải thích bằng tâm lý những yếu tố đời sống đơn giản
nhất cũng vẫn khiếm khuyết, vì thế giới nơi con người
sống được coi như một tình cờ, và trọng tâm chĩa vào con
người, cho dù không phải lỗi tại nó. Và quan điểm tâm lý
học chưa bao giờ thất bại thảm hại đến thế khi nói về
phân tâm học của cảm giác cô đơn.
Trong cô đơn con người còn lại với mình, biến thuần túy
thành tâm hồn, mọi liên hệ khác đứt đoạn, nó đứng một
mình, như một thực thể ngoài thế giới, toàn bộ cuộc sống
của nó tuôn chảy bên trong: nó chỉ sống một đời sống tâm
lý mà thôi. Nhưng toàn bộ khuynh hướng của đời sống tâm lý
này liên quan đến thế gian. Toàn bộ tâm hồn nó quay ra ngoài,
và vấn đề của cô đơn chính là sự quay ra thế giới bên
ngoài này vô hiệu quả.
Con người đứng bên ngoài cộng đồng, nhưng toàn bộ chủ ý
của nó tập trung về hướng, tại sao lại ở ngoài cộng
đồng, và toàn bộ nghị lực của nó mong ước đứng vào
cộng đồng lần nữa. Trong cô đơn con người biết rõ cuộc
sống rút vào trong là bế tắc: vì số phận của nó là ở
thế gian. Bằng con đường tâm lý học không thể giải quyết
cũng như không thể hiểu được sự cô đơn. Số phận của con
người chính là thế gian, là môi trường sống, và trước hết
là cộng đồng. Bởi vậy sự cô đơn là vấn đề Xã hội
học.
2.
Nơi đâu có cô đơn, ở đó luôn có mối quan hệ bị tách rời
khỏi cộng đồng, và sự còn lại một mình. Điều an ủi có
vẻ là sau một giới hạn tạm thời của thời gian, con người
sẽ lấy lại nghị lực sống và quay trở về với cộng
đồng. Trong mọi trường hợp mối quan hệ bị đánh mất luôn
luôn tiêu cực và đau đớn.
Sự thu mình, trạng thái cô đơn tự nguyện và cô đơn từng
phần có thể mang đến sức mạnh, sự an toàn, sự yên tĩnh và
sự cao quý: cô đơn từng phần mang đến sự tách biệt, nhưng
các mối quan hệ vẫn còn nguyên. Còn trong trường hợp mối
quan hệ bị đánh mất, trừ ngoại lệ, con người bao giờ cũng
đau khổ. Đây là sự khác biệt giữa cô đơn cố ý, giữa sự
biệt lập và sự từ bỏ.
Có thể hiểu, hình phạt bỏ tù, như một cách bảo toàn xã
hội, nhưng trong hình phạt này ẩn náu cả hình phạt tâm lý.
Nhà tù là trạng thái từ bỏ, nơi xã hội cắt đứt quan hệ
với con người, xử phạt nó phải cô đơn. Tất cả những
người tù đều là kẻ cô đơn, nếu có thể bàn đến xã hội
của nhà tù, hoặc nói về xã hội học của nhà tù, nhưng chỉ
có thể nói đến điều này, nếu đây là một xã hội, một
cộng đồng dường như tồn tại. Bởi vì trong nhà tù không có
những mối quan hệ thật sự mang tính chất tăng trưởng,
những mối quan hệ con người hoạt động. Nhà tù là một hình
thái nằm ngoài xã hội.
Sự cô đơn tự quyết của kẻ bất lương xác định vị trí
của nó trên thế gian, vấn đề của kẻ bất lương luôn là
vấn đề của kẻ cô đơn đứng bên ngoài xã hội. Kẻ bất
lương muốn hoàn lương, tu tỉnh, quay về xã hội lần nữa,
mang theo tội lỗi của mình, và cần phải thỏa mãn với vị
trí mà cộng đồng muốn xác định cho nó. Hoặc nó đứng bên
ngoài và bị tiêu diệt. Hoặc liên kết với những kẻ có số
phận tương tự và tạo ra một xã hội chống đối, nơi có
thể tạo ra các mối quan hệ đồng bọn, có thể còn khăng
khít hơn cả trong cộng đồng lớn. Đấy là ý nghĩa danh dự
của kẻ cướp. Trong sự dựa dẫm lẫn nhau của những kẻ
sống bên ngoài cộng đồng lớn, sự cô đơn không bao giờ
chấm dứt, bởi vậy họ cần duy trì nghiêm khắc và không
điều kiện những mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau.
Từ quan điểm này có thể hiểu rõ hơn những vấn đề của
người Do thái. Sự đoàn kết Do thái, sự hợp tác nghiêm
khắc, không điều kiện của "nhóm thiểu số", vị trí bắt
buộc của những kẻ sống ngoài xã hội: chính là sự dựa
dẫm vào nhau của những kẻ cô đơn. Ở họ vấn đề tồn
tại cùng nhau quan trọng hơn cả, mọi giá họ cần duy trì
điều này, bởi họ không có vị trí trong cộng đồng lớn,
hoàn cảnh của họ nan giải, khiếm khuyết, hay nói cách khác
nỗi nguy hiểm của sự cô đơn luôn luôn đe dọa họ.
Trong nỗi cô đơn của kẻ bị bệnh không có vai trò của xã
hội, hay ngược lại: bên cạnh người bệnh sự chia xẻ của
xã hội rất rõ. Hành động đến thăm bệnh nhân là một cử
chỉ xã hội. Ai bước đến bên cạnh giường người bệnh,
kẻ đó mời gọi người bệnh trở lại cộng đồng.
Nhưng hoàn cảnh của kẻ mắc bệnh thần kinh lại khác về
bản chất. Những sợi dây liên hệ xã hội của kẻ này vẫn
tồn tại, nhưng số phận bắt buộc họ sống trong một sự
lưu đày tạm thời. Sự lưu đày này là hoàn cảnh bắt buộc
bên trong của người mắc bệnh thần kinh, và để chạy chữa,
người ta "kệ", không bắt họ tham dự vào những sự kiện
của cuộc sống. Sự chiếu cố khiến họ được yên. Chỉ
những kẻ mạnh khỏe có thể nhập vào cuộc sống cộng
đồng: khả năng gia nhập cực kỳ cần thiết, còn ở những
người bệnh thần kinh khả năng này bị hư hoại.
Đặc điểm của bệnh thần kinh là sự suy giảm sức sống
một cách chủ quan. Nhìn từ quan điểm của cộng đồng: đấy
là sự sợ hãi, sợ tiếp xúc với những người khác. Kẻ mắc
bệnh thần kinh ngu ngơ, không dám, im lặng, hỗn loạn, sợ hãi,
hay tưởng tượng và đầy lòng nghi ngờ. Mọi biểu hiện của
nó đều tiêu cực đối với cộng đồng; đấy là sự cắt
đứt, sự xa lánh, sự biệt lập.
Người bệnh thông thường còn gọi là người bệnh khách quan,
còn sự tù đày bên trong của bệnh thần kinh là một cưỡng
bức chủ quan. Khả năng tham dự vào cộng đồng hoàn toàn
biến mất khi sự chủ quan này xảy ra thường xuyên: đấy là
kẻ mắc bệnh thần kinh.
Từ những phân tích trên có thể thấy liên hệ họ hàng trong
vai trò của nhà tù với nhà thương điên, trại giam, bệnh
viện và khu điều dưỡng.
3.
Tất cả những vấn đề cô đơn trên đây vẫn có thể giải
quyết được trong xã hội, kể cả một xã hội nguyên thủy
nhất. Kẻ bất lương, người bệnh, kẻ mắc bệnh thần kinh
trong một ngôi làng của người da đen châu Phi, hay trong một
thành phố thời phục hưng hoặc trong thời đại ngày nay, nói
chung hoàn toàn giống nhau. Một cộng đồng lành mạnh có thể
giải quyết mọi vấn đề bằng các khả năng của nó.
Vấn đề chỉ bắt đầu trong một xã hội không phương cứu
chữa với các con bệnh cô đơn. Những biểu hiện biệt lập
không nhất thiết nổi lên từ sai lầm của con người hay của
cộng đồng: một số người không hề là người bệnh, kẻ
bất lương, hay bị bệnh thần kinh mà vẫn bị bỏ rơi. Xã
hội luôn có khuynh hướng xếp những kẻ cô độc này vào
những sự phân chia đã có sẵn. Kẻ nào một mình, hoặc là
kẻ bất lương, hoặc là người bệnh hoặc là kẻ điên. Sự
kết án sai lầm càng làm cho tình cảnh nặng hơn. Kẻ cô đơn
cảm thấy bản án vô lý bèn phản đối; cộng đồng không
hiểu tại sao lại nảy sinh ra một tình cảnh không tính đến,
và thế là cộng đồng áp dụng những phương cách đã có
sẵn hoặc cưỡng chế. Con người và cộng đồng bắt đầu
đối đầu với nhau.
Từ các biệt lập này cần dập tắt mọi xung khắc lợi ích.
Trong các trường hợp xung khắc, quan điểm xã hội mọi giá
cần xác minh. Một con người không đáng tin, kiêu ngạo, bất
thường, hẹp hòi, muốn lợi dụng của chung để thu lợi ích
về cho mình nhưng lại tuyên bố đây là "quyền dành" cho hắn,
kẻ lợi dụng hoàn cảnh, muốn đạt đến những lợi thế vô
luật bằng sự mất dạy, trơ tráo, kẻ đó cần phải bị bỏ
rơi.
Thời nay mẫu người này có tên gọi thần đồng, kẻ tuyên
bố mình đầy tài năng để đòi hỏi những hoàn cảnh ngoại
lệ, vì thế hắn còn lại một mình. Xã hội ngầm hiểu mẫu
người này là kẻ ăn bám: hành vi của hắn lập dị, trong sự
kiêu ngạo của hắn ẩn náu những đòi hỏi thầm kín nhất,
hắn xử sự bất thường, đòi sự ngưỡng mộ, chưa nói đến
những đòi hỏi vật chất có lựa chọn và được khái niệm
hóa rất tinh vi. Đây là một tình hình xã hội sai lầm thường
xảy ra ở những kẻ có tên gọi "Kẻ thích gây gổ, kẻ "Anh
hùng ưa gây sự" và ở những người không có vị trí trong xã
hội, vì cách đánh giá của họ thiên lệch.
Loại người này cho rằng của chung có để phục vụ cho một
ai nhất định nào đó. Xác định giữa chung và riêng cái nào
cao cả hơn, trong mọi trường hợp đều dẫn đến sự mơ hồ.
Ở đây ta không có quyền xác định sự khác biệt giá trị và
vị trí. Cái này không thể để phục vụ cho cái kia, hoặc
để thấp dưới cái kia. Đánh giá quá cao cá nhân cũng nhầm
lẫn cơ bản như đánh giá quá cao cộng đồng. Điều, một cá
nhân đòi hỏi lợi ích vô điều kiện cũng vô luật như một
xã hội biến cá nhân thành nạn nhân.
Giữa cá nhân và cộng đồng không thể có sự đối đầu bởi
cả hai đều là một trạng thái sống cụ thể, tồn tại theo
quan điểm sinh học và theo số phận. Nơi hai thứ này đối
đầu ở đó khả năng rơi ra khỏi cái chung luôn luôn xuất
hiện và hoàn cảnh sống cũng không bình thường. Hoàn cảnh
sống không bình thường mang lại sự phán xét bất bình
thường. Không có giá trị gia tăng của cá nhân đối với xã
hội và ngược lại. Con người là một sinh vật sống, tất
cả các sinh vật sống đều cùng nằm trong sự chung sống hữu
cơ. Nếu trạng thái rối loạn tấn công và các cơ hội đánh
giá phát sinh điều ấy có nghĩa là sự chung sống bị phá
hoại. Cần điều chỉnh lại sự chung sống lành mạnh chứ
không phải bàn đến một cuộc chiến đấu vì lợi ích
Cần chấm dứt xung khắc với một loại hành vi xã hội lập
dị. Có một loại người thích phủ nhận các quan hệ. Những
người này không bắt gặp các tâm điểm giao tiếp, nhưng cũng
không tìm và không muốn tìm. Ở họ không phải là một ý đồ
cố ý mà chỉ từ tính cách của họ. Tính cách, không như nhau
về mặt tâm lý mà về mặt môi trường. Những người này
sống ngoài xã hội như một kẻ chống đối thường xuyên.
Đây là sự cô đơn, nhưng là sự cô đơn ma quỷ: là sự tiêu
cực với những ý đồ tối tăm, ác ý, hư hỏng và đối
địch, kể cả khi nó chỉ là sự cô đơn câm lặng. Sự cô
đơn ma quỷ làm tha hóa cộng đồng. Nó muốn tạo một cuộc
sống sinh trưởng ngoài cộng đồng, đưa ra sự quyến rũ về
trạng thái từ bỏ xã hội. Được coi như một sự bồi
thường của đời sống, hình thức cô đơn ma quỷ này tuyên
bố nó là sự mơ mộng. Mơ mộng là bản sao của một đời
sống tích cực và khi có khuynh hướng áp đảo, nó gây nguy
hiểm cho cả cá nhân lẫn xã hội vì nó tháo tung những sợi
dây liên kết vô hình.
Từ đây có thể hiểu được tác dụng phá vỡ cộng đồng
sâu sắc của những sản phẩm văn chương làm mê man và như
một sự bồi thường của cuộc sống. Những cuốn tiểu
thuyết lãng mạn (văn học Gartenlaube) cũng như các tác phẩm
khát vọng, những câu chuyện trinh thám đều phục vụ cho
những nhu cầu thỏa mãn thầm kín, và bằng những con đường
bí ẩn khiến con người xa lánh cộng đồng chung.
Loại văn học này làm thỏa mãn người đọc trong một lĩnh
vực hoang tưởng, đánh thức những biểu hiện chống lại
hiện thực và đặc biệt đánh thức sự bất mãn. Cái tình
huống không hiện thực có thể trở thành tiêu cực khi sự cô
đơn ma quỷ biến thành sự xâm nhập. Lúc đó không chỉ kẻ
mơ mộng "đúng" mà "toàn thể xã hội hãy chết đi", chỉ giấc
mộng hãy ở lại và hãy biến thành hiện thực!
Mọi trạng thái đều ma quỷ nếu đặt không tưởng lên trên
hiện thực, đưa cái bất thường lên trên cái bình thường,
đưa ảo tưởng lên trên thực tế. Trạng thái này trong bản
thân sự vô sinh của nó chỉ có một cách giải quyết: từ bỏ
hoàn toàn.
4.
Có một dạng cô đơn mà đặc điểm của nó là con người
sống trong sự cô đơn ấy tự chứng minh mình đứng ngoài xã
hội. Không hoàn toàn tự nguyện, nhưng cũng không hoàn toàn
cần thiết phải như thế; có cả hai điều trên và nhiều hơn
cả hai điều trên.
Tự nguyện, bởi nó có thể quay trở lại cộng đồng, nhưng
nó từ chối điều này; Cần thiết, bởi nguyên nhân của việc
tự tách mình ra không vì bệnh tật, vì xung khắc, vì chủ
nghĩa ma quỷ, mà là một dạng của sự đòi hỏi đối mặt
với cộng đồng, với những gì cộng đồng không đem lại;
Nhưng so với cả hai nội dung trên, sự cô đơn này lớn hơn
hẳn, bởi đây không phải một sự vụ cá nhân riêng lẻ, mà
chính là việc của cộng đồng.
Cái cô đơn này bắt đầu từ những nhu cầu cao hơn hẳn, từ
sự phản đối cái tinh thần thấp kém trong cộng đồng, từ
chối sự thống trị của cái hời hợt, nông cạn, những thị
hiếu tầm thường. Giữa đòi hỏi của các lý tưởng và cái
chung luôn luôn có mâu thuẫn, bởi cái chung không xây dựng từ
các lý tưởng mà từ các nhu cầu sống trong con người. Còn lý
tưởng lại đòi hỏi chính sự từ bỏ các nhu cầu sống ấy.
Đây là một dạng hành vi muốn xây dựng xã hội từ tinh thần
cao cả, sẵn sàng chọn lựa sự từ bỏ vì lợi ích chung, đây
là hành vi của người anh hùng. Con người bước ra khỏi cộng
đồng vì những nhu cầu cao cả hơn; đấy là sự cô đơn của
người anh hùng.
Các nhà tiên tri thánh kinh trong lịch sử hay các tấm gương
của thi nhân trong thời hiện đại đều chỉ ra ý nghĩa bên
trong của sự cô đơn anh hùng này. Điều quan trọng nhất, ở
đây kẻ chọn sự cô đơn anh hùng không phải vì quyền lợi
của mình, mà chính là chống lại quyền lợi của mình, để
vì quyền lợi của cộng đồng. Chính vì thế, giữa kẻ cô
đơn anh hùng và cộng đồng hoàn toàn không có khả năng hòa
giải.
Cộng đồng thừa hiểu kẻ cô đơn có lý và những đòi hỏi
cùng nhu cầu của kẻ này đúng. Sự thật nằm về phía kẻ
cô đơn, và nhu cầu sống, hay đúng hơn khả năng nâng cấp sự
phát triển nằm ở phía kẻ đó. Trong trường hợp này kẻ cô
đơn mang tính người tuyệt đối. Một sự cô đơn một thân
một mình đối đầu với cộng đồng, thậm chí họ cần phải
chứng minh bản thân trước cộng đồng nữa.
Sokrates, các nhà tiên tri, các tông đồ, Johannes Chrysostomos,
Savonarola, các nhà nhân văn, các nhà châm biếm người Anh, các
nhà tư tưởng kỷ Ánh sáng, một Hölderlin, một Nietzsche từng
đòi hỏi lợi ích sống, lợi ích tinh thần vĩnh cửu cao cả,
hay đúng hơn, đòi hỏi quyền con người của chính họ.
Và cộng đồng không bao giờ muốn thừa nhận chân lý của các
cá nhân đối mặt. Không phải vì họ không nhận ra các lý
tưởng này, mà chỉ vì cộng đồng không bao giờ từ bỏ bản
thân và không muốn thay đổi khuôn mẫu của họ. Bởi vậy sự
chống đối CẦN phải có, còn người ra yêu sách cảm thấy
họ có quyền đòi hỏi một cái chưa có. Khát vọng này là
một biểu hiện chống đối, đứng ngoài và cao hơn cộng
đồng, chỉ ra dấu hiệu của một lối sống khác.
Cộng đồng thừa nhận tất cả, chỉ trừ một điều: nếu
thiếu cộng đồng không có cuộc sống. Trong thực tế quả là
như vậy. Một cuộc sống con người hiện thực, sống động
không tồn tại ngoài cộng đồng. Cô đơn dạng nào cũng là
một hiện tượng xã hội dị giáo lớn nhất. Đặc biệt lý do
để cô đơn càng lớn càng không thể tha thứ. Vô ích kẻ
đơn độc "có lý", vô ích nó đơn độc vì "lợi ích chung", sau
rốt nó vẫn không phải là kẻ đúng. Nó cần phải thất bại
trong sự lập dị này. Đối với nó đây là số phận, là ý
chí,là sự bắt buộc, là sự kết án, là vị thế nó đã
chọn lựa: đây chính là ý nghĩa đời sống của nó.
Nhưng cũng vì thế cộng đồng không bao giờ hòa giải với nó.
Cộng đồng tha thứ cho kẻ ác, nhưng một người, trong cái cô
đơn anh hùng của mình xây dựng thành công một đời sống tinh
thần cao hơn, tích cực hơn, kẻ đó không bao giờ được tha
thứ. Lịch sử đầy rẫy những ví dụ về trường hợp này.
Thậm chí cộng đồng vẫn có thể kính trọng các nhà tiên tri
và các nhà thơ lớn nhưng sẽ đối mặt với họ. Từ quan
điểm của cộng đồng, sự cô đơn bao giờ cũng là tội lỗi.
Và tội lỗi có thể tha thứ, nếu cộng đồng bằng lòng độ
lượng giải tỏa cho sự cô đơn này và tiếp nhận lại kẻ
cô đơn.
Nhưng khi lòng độ lượng không đến từ cộng đồng mà do kẻ
cô đơn thực hiện, té ra cản trở cùng chung sống không phải
do cá nhân mà chính là do cộng đồng, lúc đó xã hội không tha
thứ cho cá nhân nữa. Tội lỗi cần phải coi vẫn là tội
lỗi, không chỉ về mặt đức hạnh nữa mà là chuẩn mực
đạo đức. Sự chống đối cần phải loại bỏ.
Chớ nhầm lẫn sự cô đơn anh hùng với cái Jaspers gọi là sự
cô đơn hiện sinh. Cô đơn hiện sinh thực ra không bao giờ
chấm dứt, bởi vì đấy là hậu trường vĩnh cửu của cộng
đồng, là góc tiêu cực không thể thủ tiêu của mọi sự
tiếp cận, giao tiếp, gặp gỡ. Cái gọi là "quan hệ" chỉ có
thể hình dung trên nền tảng của cô đơn, cô đơn hiện sinh
như một khả năng, luôn luôn rình rập trong bản thân con
người, cộng đồng bất lực với nó, khi nó vượt lên và tan
chảy trong các mối quan hệ. Cô đơn hiện sinh, tiêu cực siêu
hình của cộng đồng, như một khả năng thông thường lúc nào
cũng tồn tại nhưng không bao giờ biến thành phổ biến. Về
sự cô đơn hiện sinh chỉ có thể diễn tả như sau: cô đơn
như một khả năng của sự sống.
5.
Từ những suy luận trên bắt đầu có thể hiểu cái Byron gọi
là sự cô đơn đô thị, hay cô đơn hiện đại. Không là cô
đơn của con bệnh, của kẻ bất lương hay bệnh thần kinh,
không là sự cô đơn của kẻ xung khắc, hay cô đơn anh hùng
hoặc cô đơn hiện sinh. Có sự khác biệt cơ bản, lúc Wordworth
nói về "lonely place - nơi cô đơn" để bình yên thiền quán, là
sự cô đơn mà Rousseau từng tả, lúc vợ giận giữ trong bữa
ăn, ông đặt cuốn sách bên cạnh đĩa và vừa ăn vừa đọc.
Wordworth thống trị "nơi cô đơn-lonely place" ở bìa rừng, giữa
những ngọn núi, tháo bỏ sự đơn độc, giao tiếp trực tiếp
với bản thân nói theo ngôn ngữ hiện sinh, thông qua đấy gặp
"sự sống" lớn trong vũ trụ. Rousseau bù đắp khát vọng tiếp
xúc bằng việc đọc. Ngày nay chỉ cần liếc cái nhìn trên xe
buýt, tàu điện, trong các quán cafe, các câu lạc bộ, và ngay
trong bầu không khí gia đình cũng đủ thấy: toàn những
Rousseau, vừa ăn vừa đọc sách. Vắng bóng giao tiếp, và vì
không chịu nổi cô đơn, người ta chìm đắm vào sách. Con
người trở nên đơn độc.
Đại đa số con người khi đi du lịch, lúc rảnh rỗi, nhưng
ngay lúc ở trong gia đình cũng đọc sách; đây là cách thức
tạm thời duy nhất tách rời sự cô đơn. Đặc điểm của cô
đơn hiện đại chính là sự xuất hiện nỗi cô đơn một cách
hàng loạt - một triệu chứng tổng quát - một hiện tượng xã
hội. Chưa bao giờ kẻ cô đơn lại đông đến thế, như ngày
nay trong các thành phố hiện đại. Cô đơn trở thành một
trạng thái xã hội.
Kẻ nào biết, điều này sẽ chấm dứt trong tự nhiên "giữa
những dãy núi, trong rừng và bên cạnh những dòng suối", như
Byron từng viết, kẻ đó sẽ đi ra thiên nhiên. Bởi vậy trong
thời gian gần đây đi du lịch, tham gia thể thao trở thành một
hiện tượng đám đông. Người nào không đi ra thiên nhiên, kẻ
đó được gọi là tự ru mình bằng "sự giải trí". Sự giải
trí luôn luôn là ảo tưởng đang trộn vào cộng đồng.
Trong tuần cuộc sống đô thị còn tạm chịu đựng được,
bởi khi lao động không ai gặm nhấm bản chất sinh tồn làm
gì; nhưng trong ngày lễ, đặc biệt buổi chiều ngày lễ, thành
phố lớn câm lặng như chết. Con người đô thị buồn chán
trong các chiều chủ nhật. Sự buồn chán này là cái gì vậy? -
sự đơn độc. Bầu không khí cô đơn ngột ngạt bao trùm thành
phố. Tất cả mọi người còn lại với bản thân. Như thể
sự tiếp xúc tập thể, các mối quan hệ, xã hội, nhà nước,
gia đình, cộng đồng chưa hề tồn tại.
Cộng đồng hoàn toàn chia rẽ, các mối dây liên hệ hư hoại,
con người cô độc. "Trong từng con người và với tất cả
mọi người – Pannwitz nói- không gì có thể cứu giúp khi một
biển các cá nhân đã làm phân hóa mối quan hệ họ hàng,
truyền thống tinh thần lâu đời và biến những giá trị này
thành những cá nhân chủ quan." Hiện tượng này có thể thấy
rất rõ trong các phong trào tập thể hiện đại. Nền dân chủ,
chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản được coi như một
hiện tượng tập thể. Như thể cả đám đông chuyển động
vì đang tập trung cùng nhau và thực hiện với nhau một cộng
đồng chung.
Ngược lại thì đúng hơn. Dân chủ, chủ nghĩa xã hội và chủ
nghĩa cộng sản không phải là một phong trào tập thể, mà là
phong trào của một khối cá nhân; Toàn bộ vấn đề của nó
là cá nhân, chứ không phải cộng đồng. Một dạng cá nhân
đã bị phân hóa, một dạng sống cá nhân bị tách rời hoàn
toàn với nhau và biến thành kẻ cô đơn.
Từng xuất hiện những cuốn sách soi rọi sâu sắc vào sự
khác biệt bản chất của chủ nghĩa tập thể, những cuốn
sách viết về cách mạng Trung Quốc của André Malraux đã chứng
minh điều này. Phong trào cách mạng không là viễn cảnh cộng
đồng mới, chủ nghĩa cộng sản không là một hình thức sống
của cộng đồng, không do khát vọng sinh trưởng bồi đắp mà
là sự tuyệt vọng của một con người cô đơn hóa, kẻ ném
mình vào một nhiệm vụ đời sống không để tạo dựng một
hiện thực dành cho nó, mà ném mình vào một nơi, từ sự cô
đơn hóa nó sẽ phá sản và bị tiêu diệt.
"Perdre sa personnalité" - "Mất nhân cách của mình"- đây là khẩu
hiệu nội lực của khối cá nhân chủ nghĩa. Nó tưởng rằng
cái nhân cách riêng của con người cản trở người ta bước
vào cộng đồng. Đấy là cái nó muốn bỏ đi, muốn đánh
mất.
<em>"Tất cả những điều vì nó con người đảm nhận để
giết chết bản thân họ - Malraux viết - ngoài các quyền lợi
đều ít nhiều chỉ ra một cách rối ren rằng điều này chứng
thực số phận xứng đáng của họ; xứng đáng như với nô
lệ là thiên chúa giáo, với thị dân là dân tộc và với công
nhân ngày nay là chủ nghĩa cộng sản."</em>
Viễn cảnh xa xôi nhất cũng không thể chỉ ra rằng, khối cá
nhân chủ nghĩa này tạo dựng nên một cộng đồng mới, mà
bằng toàn bộ sự say mê họ muốn chứng thực số phận riêng
của họ: một thứ chủ nghĩa cá nhân, một con người đã bị
phân hóa, một thực thể cô đơn đã bị tách rời khỏi cộng
đồng.
Chủ nghĩa cộng sản là khối say mê của những con người đã
bị tách rời khỏi nhau, với niềm say mê trong cái mâu thuẫn
của chính nó, trong cái thực thể tập thể hóa tuyệt đối,
hay đúng hơn trong cái ý thức tuyệt đối dâng hiến cá nhân
muốn nhìn thấy khát vọng của nó được chứng thực.
Cái chung của khối cá nhân này là sự chứng thực, không phải
là nhân tố. Cái chung ở họ là tại sao đòi hỏi hành động
như thế, tại sao cần gắng sức như thế để giải thoát bản
thân. Tại sao cảm giác cô đơn này trong một khối cá nhân
chủ nghĩa lại độc quyền và trung tâm, không nơi nào cảm
thấy rõ hơn tại một nơi con người cảm thấy sự tập hợp
mọi giới tính này tiêu cực đến thế.
<em>"Sự nhận thức của một thực thể sống là một cảm giác
tiêu cực - Malraux nói - đấy là hiện thực, là một cảm giác
tích cực: sự sợ hãi, rằng con người luôn luôn chỉ là một
kẻ xa lạ bên cạnh người nó yêu. Con người không bao giờ
hiểu thật sự về một thực thể sống, nhưng đôi khi còn có
cảm giác là nó không hiểu."</em>
Đây là sự thiếu hụt của mối quan hệ với một "sự sống"
lớn hơn, đây là một kẻ đọc sách khi ăn, là chiều chủ
nhật cô đơn của đô thị, là sự đơn độc xã hội; không
phải là kết quả của thế giới quan, không phải trạng thái
thi ca, không là bệnh tật, không là sự xung khắc cũng chẳng
phải trạng thái hiện sinh: đây là sự cô đơn sinh ra từ sự
thiếu vắng xã hội: sự cô đơn như một hiện tượng đại
chúng.
6.
Chung sống biến mất, khi cô đơn xuất hiện, cô đơn chỉ
biến mất nơi sự chung sống phục hồi. Đây là ý nghĩa của
sự cô đơn đô thị của Byron, "lonely place- nơi cô đơn" của
Wordworth, là trạng thái vừa ăn vừa đọc của Rousseau, cũng
giống hệt như con người hiện đại luôn vùi đầu vào sách
báo, sự chung sống đã chấm dứt, ngay cả trong cái cô đơn anh
hùng cũng vậy.
Nhưng có một hiện thực nơi cô đơn mất hiệu lực. Hoàn
cảnh này trước hết có trong thiên nhiên, hay nói đúng hơn
trong các nguyên tử cổ đại, thông qua đó là một cộng đồng
nguyên sơ. Trong lối sống nguyên thủy, trong một hiện thực du
mục hoặc săn bắn chưa từng có nỗi đe dọa cô đơn. Khuynh
hướng tách biệt ẩn náu trong các mối quan hệ sống hoàn toàn
bị loại bỏ. Không phải quyền lợi chung loại bỏ điều này.
Quyền lợi chưa bao giờ là nền tảng hiện sinh.
Đây là một tổ chức tự nhiên trong quá trình sống tổng
quát: con người là một sinh vật của tổ chức quả đất lớn
với trọng lượng, vai trò, sự sống riêng cùng chung sống với
môi trường, bằng công việc, bằng gia đình, với cộng đồng
người, với đất, không tranh chấp, tự bản thân nó hình
thành ra một ý nghĩa tổ chức.
Chỉ nơi nào có sự chung sống hoàn thiện cả về mặt cụ
thể lẫn siêu hình, ở đó khả năng cô độc mới chấm dứt.
Cái Spengler gọi là "Kulturseele – Văn hóa tâm hồn", Frobenius
gọi là "Paideuma" là một tâm hồn cộng đồng được hình
thành chung từ một lối sống, một môi trường, từ nghề
nghiệp, từ phong cách nghệ sĩ, từ tập quán, từ tôn giáo,
bản thân nó chứa đựng yếu tố nguyên thủy, loại trừ khả
năng bị đứt đoạn, bởi sự chung sống hoàn toàn bao bọc nó,
duy trì trực tiếp trong nó tất cả, những Kulturseele - Văn hóa
tâm hồn, những paideuma, những thành phần của tâm hồn cộng
đồng.
Trong xã hội hiện đại không có tâm hồn cộng đồng, và vì
thế sự cô đơn có khả năng trở thành hiện tượng đại
chúng. Ngày nay cá nhân và cộng đồng đối mặt, dù chiến
đấu hay loại trừ nhau, hay đứt đoạn lẫn nhau, nhưng mọi
giá không còn cùng nhau nữa.
Cộng đồng và mâu thuẫn cá nhân là một khả năng bị loại
bỏ trong sự chung sống, bởi vì điều kiện của tâm hồn văn
hóa là cá nhân hòa hợp với cộng đồng đến mức hãy đừng
có ý đồ độc lập, nhưng cộng đồng cũng tạo ra một sự
gắn bó cân bằng cho cá nhân để nó không thể trở thành khác
ngoài chính nó.
Ngày nay chỉ có hai khả năng chung sống: trong thiên nhiên (Byron,
Wordworth) và trong tinh thần (Rousseau, sách, tinh thần, lý thuyết,
các phong trào tôn giáo). Nhưng cả hai điều này đều chứng
tỏ sự thiếu hụt của văn hóa tâm hồn sống động. Trong văn
hóa tâm hồn sự chung sống tự phát, suôi sẻ, không có vấn
đề và hoàn thiện.
Ngày nay sự tiếp xúc trong thiên nhiên và trong tinh thần cũng
đầy vấn đề, và tạm bợ, lỏng lẻo, phức tạp, thậm chí
trong những sự tiếp xúc này luôn có một ý nghĩa "chạy trốn"
nào đấy.
Con người từ sự cô đơn "chạy trốn" vào thiên nhiên, cũng
như vào sách vở, cũng như ném cả cuộc đời một cách trốn
chạy vào một nhà nước cộng sản chủ nghĩa tưởng tượng
"đánh mất cá nhân", nhưng,- đây cũng là điều đáng ngạc
nhiên nhất - không tạo một cộng đồng cùng bản thân mình mà
vứt bỏ số phận mình vào một cái không có gì.
Sự trốn chạy là một hành vi tiêu cực, không nảy sinh từ
đấy một hiện thực đầy sức sống. Sự từ bỏ không phải
hậu quả của chung sống, trái lại cùng chung sống được với
nhau chỉ có các cá nhân, chứ không phải những thực thể phi
cá nhân. Cộng đồng không có nghĩa con người trở thành sản
phẩm nhà máy mà như sự kết hợp với tổng thể một cách
hòa hợp./.
<strong>Hamvas Béla</strong>
Nguyễn Hồng Nhung, Dịch từ nguyên bản tiếng Hung ( Budapest.
2011.04.25)
Bản dịch tặng anh PHĐ
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/8702), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét