Rising Dragon" (Việt Nam – con rồng trỗi dậy) của Bill Hayton,
nguyên phóng viên BBC tại Hà Nội. Tiêu đề của phần này do
người dịch đặt. Quan điểm của người dịch không nhất
thiết trùng quan điểm của tác giả. Người dịch không chịu
trách nhiệm về việc kiểm chứng thông tin trong bài
viết.</strong></em>
<center>* * *</center>
Để hiểu chuyện này xảy ra như thế nào, rất nên nhìn vào
đường lối điều hành. Lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam
muốn cai quản đất nước theo một hình thức tương tự như
chủ nghĩa de Gaulle (Gaullism) ở Pháp. Dưới chế độ de Gaulle
kiểu Việt Nam, một tầng lớp tinh hoa sau hậu trường (tức
Đảng Cộng sản) sẽ vạch ra định hướng tổng thể về
chính sách và sau đó ủy quyền việc thực hiện cho nhà nước
(do Đảng kiểm soát). Chính phủ khi đó sẽ ra luật và sử
dụng bất cứ nguồn lực nào có sẵn – hệ thống hành chính
quan liêu của nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước (người
dịch viết tắt: DNNN), khu vực tư nhân, giới đầu tư nước
ngoài, các nhà tài trợ quốc tế hoặc bất kỳ ai khác – để
thực thi chính sách. Và, từ phía sau hậu trường, Đảng sẽ
giám sát, kiểm soát, cưỡng ép các diễn viên khác nhau vào vai
để đảm bảo là chính sách được tuân thủ. Ít nhất đó là
những gì Đảng muốn thấy. Sự thực lại thường không như
thế. Đôi khi Đảng đóng vai trò như lực lượng gắn kết –
ra quyết định và thực thi – đôi lúc lại chia rẽ, một
phần vì vấn đề ý thức hệ nhưng càng ngày càng xuất phát
từ chuyện các cá nhân và mạng lưới quan hệ đỡ đầu, bảo
trợ cho cá nhân đó. Không ai được bầu vào ban lãnh đạo
của Đảng – Bộ Chính trị, gồm 15 người – mà lại không
phải xây dựng một mạng lưới vây cánh ủng hộ và đổi
lại, phải cho vây cánh ấy lợi ích. Tìm hiểu xem một quyết
định cụ thể nào đó là kết quả của ý thức hệ hay của
lợi ích vây cánh thường là điều bất khả. Trong phần lớn
trường hợp, có lẽ mỗi quyết định là kết quả của cả
hai thứ này.
Lấy ví dụ ông T. (*) Điểm xuất phát của ông T. trước khi
vươn lên vị trí quyền lực là chính quyền tỉnh Bình Dương,
một tỉnh ngay sát TP.HCM. Ông đã góp phần biến tỉnh này
thành một nhà máy năng lượng kinh tế, thu hút những luồng
vốn đầu tư nước ngoài khổng lồ, tạo ra hàng trăm nghìn
công ăn việc làm và đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà
nước. Ông đã làm được việc ấy bằng cách bẻ cong luật
– xé rào – để làm vừa lòng giới đầu tư. Ông lách qua
các quy định về quy hoạch để có được những khu công
nghiệp, ông tiến hành những thỏa thuận về thuế để thu hút
công ty nước ngoài và giúp doanh nghiệp một tay nếu họ cần.
Phần thưởng cho thành công của ông là sự thăng tiến trong
Đảng, đầu tiên lên vị trí lãnh đạo TP.HCM và sau đó làm
nguyên thủ quốc gia. Nhưng căn cứ địa của ông vẫn ở Bình
Dương và bây giờ nơi ấy là thái ấp của gia đình ông. Cháu
trai của ông đã tiếp quản cương vị lãnh đạo tỉnh, gia
đình ông kiểm soát nhiều cơ cấu hành chính trong tỉnh.
Người Việt Nam hay nói chuyện ai đó "có ô dù". Cái "ô"
của ông T. đã che chở gia đình và mạng lưới vây cánh của
ông ở Bình Dương, cũng như "ô" của những đồng sự của
ông đã che chở gia đình, vây cánh của họ ở các địa
phương khác. Sự che chở của họ cho phép các tỉnh, DNNN, và
ngày càng nhiều cá nhân đứng đầu DNNN, quyền tự do bẻ cong
và phá luật, vì biết là mình được "bảo vệ" trước
pháp luật. Tuy nhiên cũng có giới hạn cho việc một lãnh đạo
cấp nhà nước có thể thúc đẩy lợi ích của vây cánh địa
phương mình tới đâu. Cuối cùng thì lợi ích quốc gia vẫn
tồn tại đó. Chính sách phải là kết quả của sự đồng
thuận: lợi ích của quốc gia, phe phái và địa phương đều
phải được thỏa mãn. Nhưng để đạt tới đồng thuận
thường đòi hỏi các bên phải đánh nhau rất dữ.
Đầu năm 2008, chính phủ nhận thấy rằng bong bóng bất động
sản và chứng khoán đã phình quá to. Tác động của thời kỳ
hoang dã này đối với thị trường chứng khoán tràn cả ra bên
ngoài. Năm 2006, chỉ số chứng khoán quan trọng nhất, VNI trên
Sở Giao dịch TP.HCM, đã tăng 145%. Trong hai tháng rưỡi đầu
năm 2007, nó tăng thêm 50% nữa. Sàn giao dịch của các công ty
môi giới lớn trong thành phố đầy chật người tham gia. Một
số dốc hết tiết kiệm vào ván bạc trên thị trường. Niềm
lạc quan không bị kiềm chế chút nào. Ngày 12 tháng 3 năm 2007
VNI lên mức kỷ lục 1.170 điểm. Nó sẽ không bao giờ đạt
tới điểm đó lần nữa. Nó nhảy qua lại một tí, và vào
cuối năm vẫn tăng khoảng 20%. Nhưng sau đó, sang năm 2008, nó
sụp đổ. Chỉ số này rơi một mạch 70%, quét sạch khỏi thị
trường rất nhiều nhà kinh doanh chứng khoán thời ấy cùng
những gia đình đã đánh bạc bằng cả khoản tiết kiệm của
họ. Lạm phát tăng 30%, các hộ dân ở thành phố không đủ
sống, công nhân nhà máy đình công và bất mãn ngày càng tăng.
Tình hình bắt đầu giống như sự khởi đầu của một mối
đe dọa đối với quyền lãnh đạo của Đảng. Đã đến lúc
các nhà lãnh đạo phải phản công.
Tháng tư năm 2008, Thủ tướng Dũng công khai đề nghị các DNNN
hạn chế những ngành kinh doanh không phải lĩnh vực chính của
họ ở mức 30% tổng vốn. Việc chính phủ phải xuống nước
"kêu gọi" DNNN tuân thủ luật pháp đã bộc lộ những vấn
đề mà chính phủ đang phải đối diện trong nỗ lực duy trì
quyền kiểm soát. Các DNNN chẳng nghe; đánh nhau nội bộ sau
hậu trường càng tăng lên. Chính phủ buộc phải thử một con
đường khác. Ngân hàng trung ương – đơn vị đã và đang cho
các tổng công ty vay rất dễ dàng với lãi suất thấp và
lượng cung tiền hào phóng – nhận lệnh vào cuộc. Lãi suất
được nâng lên và dòng tiền cho vay bị giảm xuống. Những
cái ô bảo trợ được cất đi; lãnh đạo bắt buộc phải
hành động vì lợi ích quốc gia. Có kết quả: nền kinh tế
hạ nhiệt và khủng hoảng giảm bớt.
Ban đầu các tổng công ty vận hành theo mô hình chaebol của Hàn
Quốc. Các chaebol có rất nhiều nhược điểm, nhưng một số,
chẳng hạn Hyundai và Samsung, quả thật đã trở thành các nhà
xuất khẩu lớn. Các tổng công ty của Việt Nam kém thành công
hơn thế nhiều: VinaShin giành được đơn đặt hàng là nhờ ra
giá thấp dưới mức chi phí, còn các hợp đồng bán dầu của
PetroVietnam ở Cuba và Venezuela thì là kết quả của chính sách
ngoại giao của nhà nước hơn là năng lực kinh doanh. Nhiều
công ty dệt may quốc doanh bị thua lỗ và ngành thép thì cũng
lạc hậu. Nhưng khu vực quốc doanh vẫn cứ là trụ cột cho
sự kiểm soát của Đảng – vừa là công cụ để thực thi
chính sách kinh tế vừa là biện pháp làm hài lòng vây cánh ở
địa phương, công đoàn và những nhóm lợi ích khác. Mặc dù
nhiều DNNN đang bị bán đi, Đảng vẫn nêu rõ quyết tâm giữ
lấy 50-100 DNNN quan trọng nhất. Chúng tiếp tục hưởng lợi
từ sự hào phóng của nhà nước. Mặc dù cái thời kỳ ngân
hàng quốc doanh cho vay dễ dàng nhìn chung đã thuộc về quá
khứ rồi, nhưng vẫn còn vô số cách để bơm tiền cho DNNN.
Ngân hàng Phát triển Việt Nam (ngân hàng quốc doanh, được
thành lập từ tiền viện trợ của các chính phủ nước ngoài)
và Quỹ Bảo hiểm Xã hội của nó (được kỳ vọng trở thành
nhà đầu tư đơn lẻ lớn nhất trong nước vào năm 2015)
dường như đang vận hành giống như những "quỹ đen" không
minh bạch, phục vụ lợi ích của khu vực nhà nước. Rõ ràng
DNNN có một tương lai quan trọng, không nhất thiết tươi sáng,
ở phía trước.
<center>* * *</center>
Sự đan xen xoắn xuýt giữa Đảng và doanh nghiệp không chỉ
giới hạn trong khu vực nhà nước mà còn lấn át cả ở khu
vực tư nhân. Nhiều công ty "tư nhân" đều từng là DNNN
hoặc vẫn còn có phần sở hữu của nhà nước, hoặc đang do
đảng viên cai quản. Thậm chí các công ty thật sự là tư nhân
cũng gần như không thể có được giấy phép, giấy đăng ký,
giấy tờ thủ tục hải quan hoặc nhiều loại giấy tờ quan
trọng sống còn khác, nếu không có quan hệ tốt. Công ty nào
không tham gia cuộc chơi thì sẽ mau chóng gặp rắc rối. Khảo
sát cho thấy ngay cả ngân hàng tư nhân cũng thích cho những
người "có quan hệ" vay tiền hơn. Hầu hết những người
kiểm soát các đỉnh cao chỉ huy của khu vực tư nhân đều
hoặc là do Đảng chỉ định, hoặc người thân, bạn bè của
người được chỉ định đó. Tầng lớp tinh hoa của Đảng
Cộng sản đang biến chủ nghĩa tư bản Việt Nam thành kiểu
công ty gia đình. Tầng lớp tinh hoa mới trong giới thương nhân
thì không tách khỏi Đảng Cộng sản mà lại là thành viên
của Đảng, hoặc có liên quan tới Đảng.
Lấy ví dụ một trong những người giàu nhất Việt Nam, ông
Trương Gia Bình, là Tổng Giám đốc của một công ty tên là FPT
mà khởi đầu vốn là "Công ty Công nghệ Chế biến Thực
phẩm" thuộc sở hữu nhà nước, sau mới biến thành "Công
ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Công nghệ" và trở thành
hãng IT đầu tiên trong nước. Ông Bình cũng là người duy nhất
ở Việt Nam thường được nhắc tới với tiền tố "nguyên
con rể", bởi vì ông từng một thời là chồng của con gái
ông Võ Nguyên Giáp – vị anh hùng trong chiến tranh, nguyên tổng
tư lệnh quân đội, nguyên Phó Thủ tướng. Trong suốt thập
niên 1990, nếu công ty nào cần quan hệ với ma trận các công ty
của quân đội, hoặc quan hệ trong lĩnh vực xây dựng, truyền
thông, thì Tướng Giáp là người họ phải gặp. Một mối quan
hệ hữu ích cho một công ty bán phần mềm và điện thoại di
động. Giờ đây Bình đã có những mối quan hệ khác: trong số
các nhà đầu tư vào những công ty của ông ta, có công ty liên
doanh vốn của Mỹ Intel Capital và tập đoàn Texas Pacific.
Có nhiều, rất nhiều ví dụ khác nữa. Trên thực tế là quá
nhiều, đến mức người Việt Nam bây giờ có một "thành
ngữ" đặc biệt để định danh những trường hợp như thế:
"COCC", hay "5C". COCC là lớp người ít thâm niên hơn trong
tầng lớp elite cộng sản-doanh nhân mới – lãnh đạo các
địa phương, quan chức chính quyền và quan chức Đảng nhưng
ở cấp thấp hơn. COCC là bốn chữ cái đầu của Con Ông Cháu
Cha – nghĩa đen là "con của bố, cháu của ông", nhưng ý
nghĩa của câu này rất rõ ràng với bất kỳ ai đã quen với
truyền thống của các gia đình Việt Nam – con trẻ trung hiếu
với cao niên, bậc cao niên bảo vệ con trẻ. Những người ở
dưới cái ô của COCC có thể thoát khỏi gần như mọi rắc
rối, vì các bậc bảo trợ cho họ ở cấp cao hơn cả công an
và tòa án. Tầng lớp elite thật sự được gọi là 5C: họ có
thể thoát khỏi tất cả các rắc rối. Thậm chí người ta còn
bảo rằng một cậu con trai 5C đã từng giết người, nhưng
mọi chuyện đều được giữ kín. 5C là viết tắt của Con
Cháu Các Cụ Cả - nghĩa đen là "tất cả con và cháu của
cụ". Cụ là địa vị cao nhất trong gia đình Việt Nam, và
mọi vị Chủ tịch, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản về cuối
đời đều được gọi bằng đại từ này. Cái ô của 5C tỏa
rộng – vươn cả ra khỏi những con cháu trực hệ để ít
nhiều che luôn cho cả đại gia đình.
Ở Việt Nam, những mối quan hệ như thế đều có giá trị quy
ra tiền cả. Các công ty – kể cả trong nước lẫn nước
ngoài – đều sẵn sàng trả những khoản tiền lớn để
được giới thiệu và tiếp xúc với giới hoạch định chính
sách. Những người đã có cửa tiếp cận rồi – thông qua quan
hệ thân thuộc trong gia đình – có lợi thế cực lớn. Được
giới thiệu một cách tích cực đến một quan chức chủ chốt
nào đó có thể tốn tới 100.000 USD. Tiền thường không rót
trực tiếp vào túi chính trị gia, mà đến tay người hỗ trợ
cho chính trị gia ấy – thường là họ hàng. Đôi khi không
phải là tiền mà là quà, thậm chí một căn hộ cho không,
đấy là lý do tại sao các nhân viên nhà nước với mức lương
danh nghĩa 100 USD/tháng lại có thể hưởng thụ mức sống ngang
với một giám đốc kinh doanh thành đạt. Người Việt Nam hay
nói về chế độ "chân trong chân ngoài". Một thành viên
trong gia đình làm một công việc được trả lương rất thấp
ở đâu đó trong hệ thống hành chính, đó là cách hữu hiệu
để duy trì quan hệ, trong khi vợ con, anh em, cháu anh ta có thể
tìm kiếm công việc làm ăn ở bên ngoài. Biên chế chính thức
bây giờ cũng có giá trị. Lãnh đạo các cơ quan ban ngành có
thể giã tới vài nghìn đôla cho một vị trí cấp thấp nhưng
có nhiều cơ hội và mối quan hệ.
Nhưng giới thiệu, tiến cử chỉ là một cách để kiếm tiền.
Thân nhân của các quan chức cấp cao tìm ra chỗ màu mỡ trong
khắp thế giới kinh doanh. Kể từ khi cuộc cải cách kinh tế
chớm bắt đầu, tầng lớp elite của Đảng đã gửi con cái ra
nước ngoài du học và để cho chúng lên cao dần, có lợi thế
kinh doanh. Con cái họ trở về nước, có học hơn và sẵn sàng
tiếp nhận công việc ở những cơ sở có đầu tư nước ngoài
và khu vực tư nhân mới…
<center>* * *</center>
(*) Người dịch viết tắt tên của nhân vật. Độc giả quan
tâm có thể tìm hiểu trong chương I cuốn "Rising Dragon" của
nhà báo Bill Hayton. Mong được lượng thứ.
<em>Đoan Trang biên dịch</em>
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/8776), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét